|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 05/2023/HS-ST Ngày 03- 11- 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Cầm Thị Thanh Huyền.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Luân
- Bà Hoàng Hải Yến
- - Thư ký phiên toà: Ông Quàng Lâm Tới - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Đôn - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2023/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đào Văn T (tên gọi khác: không), sinh ngày 17 tháng 8 năm 1986 tại: huyện Y, tỉnh Sơn La.
Nơi cư trú: Tiểu khu E, Thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Nguyên T1 và bà Nguyễn Thị T2; bị cáo có vợ (đã ly hôn) và 02 con. Con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2018.
Tiền án: không, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/07/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T2 - sinh năm 1949. Nơi cư trú: Tiểu khu E, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 21 giờ 10 phút ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại Tiểu khu C, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Sơn La, tổ công tác Công an huyện Y phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với: Đào Văn T, sinh năm 1986 - Trú tại: Tiểu khu E, thị trấn Y, huyện Y đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua kiểm phát hiện và thu giữ 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa 03 viên nén đồng dạng hình trụ tròn màu hồng, trên bề mặt mỗi viên có chữ WY nghi là Methamphetamine do Đào Văn T lấy ở giá để hàng phía trước xe máy BKS: 26N1- 115.11 mà T điều khiển giao nộp. 01 xe máy nhãn hiệu HONDA- Wave, BKS: 26N1- 115.11, sơn màu xanh, xe cũ đã qua sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng.
Ngày 26 tháng 7 năm 2023 Cơ quan CSĐT huyện Y phối hợp với Phòng K Công an tỉnh S tiến hành mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng và trích mẫu gửi giám định, kết quả: 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa 03 viên nén đồng dạng hình trụ tròn màu hồng, trên bề mặt mỗi viên có chữ WY có khối lượng là 0,29 gam; trích 02 viên nén đồng dạng hình trụ tròn màu hồng, trên bề mặt mỗi viên có chữ WY có khối lượng là 0,19 gam ký hiệu A gửi giám định chất ma túy; còn lại 01 viên nén đồng dạng hình trụ tròn màu hồng, trên bề mặt có chữ WY có khối lượng 0,1 gam ký hiệu A1 nhập kho vật chứng.
Tại kết luận giám định số: 1830/KLMT ngày 27 tháng 7 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu gửi giám định kí hiệu A là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định A = 0,19 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,29 gam; Loại Methamphetamine”.
Quá trình điều tra Đào Văn T khai nhận: Ngày 15/7/2023, Đào Văn T điều khiển xe máy BKS: 26N1- 115.11 của T mang theo số tiền 300.000 đồng đi từ Tiểu khu E, thị trấn Y, huyện Y đến xã L, huyện Y để tìm việc làm thuê. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Đào Văn T đi đến đoạn đường rẽ vào bản N, xã L, huyện Y thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông, khoảng 30 tuổi (không biết tên, địa chỉ) đang đi bộ ngoài đường. Qua nói chuyện, T biết người đàn ông dân tộc Mông có ma túy bán nên hỏi và mua được của người đàn ông dân tộc Mông 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa 05 viên Hồng phiến với giá 300.000 đồng. Mua được ma túy, T cất giấu gói ma túy vào trong túi quần bên phải rồi điều khiển xe máy về nhà. Đến khoảng 23 giờ ngày 21/7/2023, Đào Văn T mang theo gói ma túy cất giấu túi quần bên phải rồi điều khiển xe máy BKS: 26N1- 115.11 đi từ Tiểu khu E, thị trấn Y, huyện Y đến khu vực kè suối gần đầu cầu C lấy 02 viên H phiến trong gói giấy màu trắng ra sử dụng bằng hình thức đốt hít tại khu vực kè suối. Sử dụng ma túy xong, T gói 03 viên H phiến còn lại vào trong mảnh giấy màu trắng ban đầu cất giấu trong túi quần bên phải rồi điều khiển xe máy về nhà. Đến khoảng 20 giờ 45 phút ngày 25/7/2023, Đào Văn T lấy gói ma túy đang cất giấu trong túi quần bên phải rồi kẹp vào giá để hàng phía trước xe máy BKS: 26N1- 115.11 rồi điều khiển đi từ Tiểu khu E, thị trấn Y, huyện Y
đến khu vực kè suối gần đầu cầu C tìm nơi sử dụng ma túy. Khi T đi đến Tiểu khu C, thị trấn Y, huyện Y thì bị tổ công tác Công an huyện Y bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng. Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA - W, sơn màu xanh, BKS: 26N1- 115.11 T khai nhận, đây là chiếc xe do bố mẹ T mua vào tháng 6/2023, do tuổi cao không đăng ký xe được nên nhờ T đứng tên hộ, bản thân T là người nghiện ma túy, không có công ăn việc làm nên không có tiền mua xe máy, đây là phương tiện đi lại duy nhất trong gia đình, ông bà dùng để đưa đón cháu đi học, việc T dùng xe máy để làm phương tiện đi mua ma túy bố mẹ T không được biết.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 47/CT-VKSYC ngày 05/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Châu để xét xử bị cáo Đào Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, thống nhất với lời khai nhận trong quá trình điều tra, truy tố. Đồng thời đề nghị xin được trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA - Wave, sơn màu xanh, BKS: 26N1- 115.11 cho mẹ mình là bà Nguyễn Thị T2.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T2 có ý kiến: Năm 2021 Đào Văn T là con trai bà ly hôn với vợ, nên đã đưa con gái thứ hai của T về ở cùng gia đình bà, do không có công ăn việc làm nên T làm nghề bốc vác thuê. Đến cuối tháng 6 năm 2023, gia đình bà có mua 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA - Wave, sơn màu xanh, BKS: 26N1- 115.11 để làm phương tiện đi lại chung của gia đình và đưa đón cháu đi học. Do tuổi cao không đăng ký xe máy được nên đã để T đứng tên đăng ký xe hộ mang tên T. Đây là phương tiện đi lại duy nhất của gia đình, việc bị cáo dùng xe máy để làm phương tiện đi mua ma túy, bà không được biết, nay T bị bắt về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và chiếc xe máy bị thu giữ, bà đề nghị được xin lại chiếc xe.
Tại phiên toà kiểm sát viên thực hành quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích nội dung vụ án, các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đào Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo từ 16 tháng đến 22 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, Đa, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 BLTTHS 2015 tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại và vật chứng liên quan bao gồm: 01 phong bì niêm phong, mặt trước ghi: Vật chứng vụ: Đào Văn T - Sinh năm: 1986- Trú tại: Tiểu khu E, thị trấn Y, huyện Y bên trong gồm có: 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu + 01 mảnh giấy màu trắng + mẫu A1 = 0,1 gam. Mặt sau phong bì có số hiệu 070327.
Trả lại 01 xe máy nhãn hiệu HONDA- Wave, BKS: 26N1- 115.11, sơn màu xanh, xe cũ đã qua sử dụng cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T2.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì thêm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng ý với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đồng thời giữ nguyên đề nghị được xin lại chiếc xe máy, ngoài ra không có ý kiến gì tranh luận thêm.
Tại phiên tòa khi được nói lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, có thái độ ăn năn, hối cải về hành vi đã thực hiện, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.
[2] Về tình tiết định tội định khung hình phạt:
Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.
Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 25/07/2023, biên bản niêm phong vật chứng ngày 25/07/2023, biên bản mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng ngày 26/07/2023, Kết luận giám định số 1830/KL-KTHS ngày 27/7/2023, các biên bản ghi lời khai nhận của bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội, biên bản lấy lời khai của người chứng kiến, và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 25/07/2023 bị cáo Đào Văn T có hành vi mua ma túy và cất giấu trong túi quần bên phải rồi kẹp vào giá để hàng phía trước xe máy BKS: 26N1- 115.11 với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện và bắt giữ, tổng khối lượng ma tuý bị thu giữ là 0,29g, loại
chất Methamphetamine. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có mức phạt tù từ 01 đến 05 năm.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu truy tố và Tòa án nhân dân huyện Yên Châu xét xử bị cáo Đào Văn T là chính xác, đúng người, đúng tội, đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật, không oan sai cho bị cáo. Tại thời điểm thực hiện hành vi của mình bị cáo đã có đầy đủ năng lực, trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương mà còn gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng sức khỏe con người, suy kiệt nòi giống, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác như trộm cắp, cướp của, giết người.. Nên cần xử lý nghiêm bị cáo bằng hình phạt tương xứng để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Trong vụ án này, bị cáo là công dân có đủ nhận thức để hiểu được tác hại của ma túy và việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật. Song để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho nhu cầu nghiện hút ma túy của mình.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Ngoài ra bị cáo có bố đẻ được nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Nhất, Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Nhì, Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Ba đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Khối lượng tàng trữ ma túy ít. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu biết pháp luật, nhưng do nghiện ma túy coi thường pháp luật. Do vậy cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ để có mức án phù hợp, tương xứng, nhằm nghiêm khắc trừng phạt, cải tạo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, đồng thời răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, có ý thức chấp hành pháp luật và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy tại địa phương.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 quy định, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và
xét hỏi tại phiên tòa đã làm rõ bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị lớn, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng: Đối với số ma tuý và vật chứng liên quan bao gồm: 01 phong bì niêm phong, mặt trước ghi: Vật chứng vụ: Đào Văn T- Sinh năm: 1986- Trú tại: Tiểu khu E, thị trấn Y, huyện Y bên trong gồm có: 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu + 01 mảnh giấy màu trắng + mẫu A1 = 0,1 gam. Mặt sau phong bì có số hiệu 070327, xét thấy đây là những vật cấm tàng trữ và không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 xe máy hiệu HONDA - Wave, sơn màu xanh, BKS: 26N1- 115.11, xe cũ đã qua sử dụng, thu giữ của bị cáo có nguồn gốc do bà Nguyễn Thị T2 bỏ tiền mua để làm phương tiện đi lại chung của gia đình và đưa đón cháu đi học. Do tuổi cao không đăng ký xe máy được nên đã để Đào Văn T đứng tên đăng ký xe hộ mang tên T. Đây là phương tiện đi lại duy nhất của gia đình, việc bị cáo dùng xe máy để làm phương tiện đi mua ma túy, bà và gia đình không được biết. Do đó HĐXX quyết định trả lại chiếc xe máy cho bà Nguyễn Thị T2, theo quy định tại điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[7] Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với người đàn ông dân tộc M, bị cáo khai nhận bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này, nơi trao đổi mua bán ma túy diễn ra tại địa phận bản N, xã L, huyện Y, tỉnh Sơn La nên cơ quan CSĐT Công an huyện Y không có căn cứ để điều tra, xác minh và xử lý.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[10] Thời hạn tạm giam còn lại của bị cáo dưới 45 ngày, cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 329 BLTTHS 2015.
[11] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề liên quan khác là phù hợp, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Đào Văn T 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/07/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định, và các vật chứng liên quan bao gồm: 01 phong bì niêm phong, mặt trước ghi: Vật chứng vụ: Đào Văn T- Sinh năm: 1986- Trú tại: Tiểu khu E, thị trấn Y, huyện Y bên trong gồm có: 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu + 01 mảnh giấy màu trắng + mẫu A1 = 0,1 gam. Mặt sau phong bì có số hiệu 070327.
- - Trả lại 01 xe máy hiệu HONDA - Wave, sơn màu xanh, BKS: 26N1- 115.11, xe cũ đã qua sử dụng cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T2.
Theo biên bản giao nhận vật chứng số 02/BB-CCTHADS ngày 06/10/2023 giữa Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Châu.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 21, điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Đào Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 03/11/2023./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cầm Thị Thanh Huyền |
Bản án số 05/2023/HS-ST ngày 03/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 05/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đào Văn T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
