Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HƯƠNG THỦY

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HS-ST

Ngày: 23-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, THÀNH PHỐ HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Châu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Thành và ông Võ Trọng Thơi.

Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Dương, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Ông Phan Anh Giáp - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Thủy, số F Đ, phường P, thị xã H, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 77/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025, đối với:

Bị cáo Phùng Nhật M, tên gọi khác: C, sinh ngày 07/10/1994 tại thành phố H; nơi cư trú: Tổ A, phường T, thị xã H, thành phố H; số thẻ CCCD: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Hữu C1 (chết) và bà Hồ Thị L; vợ con: Chưa có;

Nhân thân:

  • Ngày 20/5/2012, bị Công an phường T, thị xã H xử phạt hành chính số tiền: 350.000 đồng, về hành vi “Đánh nhau với người khác” (QĐ số: 22/QĐ-XPVPHC, ngày 20/5/2012), đã chấp hành xong.
  • Ngày 16/7/2012, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã, thời hạn là 06 tháng, kể từ ngày 16/7/2012 đến ngày 15/01/2013 (QĐ số: 121/QĐ-UB, ngày 16/7/2012), đã chấp hành xong.
  • Ngày 21/01/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, xử phạt 09 tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Bản án số: 11/2013/HSST, ngày 21/01/2013).
  • Ngày 23/4/2013, bị Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, xử phạt 12 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 17/2013/HSST, ngày 23/4/2013). Tổng hợp hình phạt 09 tháng tù tại Bản án số: 11/2013/HSST, ngày 21/01/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Huế; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của 02 bản án là 01 năm 09 tháng tù.
  • Ngày 28/11/2013, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H), xử phạt 01 năm 03 tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Bản án số: 193/2013/HSPT, ngày 28/11/2013). Tổng hợp hình phạt 01 năm 09 tháng tù tại Bản án số: 17/2013/HSST, ngày 23/4/2013, của Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt là 03 năm tù. Bị cáo đã chấp hành xong ngày 27/4/2015.
  • Ngày 21/12/2018, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, xử lý hành chính áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày 21/12/2018 đến ngày 21/02/2019 (QĐ số: 279/QĐ-UBND, ngày 21/12/2018), đã chấp hành xong.
  • Ngày 07/5/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, xử phạt 01 năm 03 tháng tù, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” (Bản án số: 25/2019/HS-ST, ngày 07/5/2019), bị cáo đã chấp hành xong ngày 17/02/2020.

Tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/7/2024 cho đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Anh Lê Quý Hồng S, sinh năm 1996; địa chỉ: Số A đường P, Tổ D, phường T, thị xã H, thành phố H. Vắng mặt.
  • + Chị Lê Thị Phương T, sinh năm 1997; địa chỉ: Số D kiệt G đường Ư, phường V, quận T, thành phố H. Có mặt.
  • + Chị Trương Thị Thùy T1, sinh năm 1991; địa chỉ: D P, Tổ D, phường T, thị xã H, thành phố H. Có mặt.

- Người làm chứng:

  • + Anh Nguyễn Thanh K, sinh năm 1992; địa chỉ: Số A đường P, Tổ D, phường T, thị xã H, thành phố H. Vắng mặt.
  • + Anh Trương Oanh V, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ D, phường T, thị xã H, thành phố H. Có mặt.

- Người chứng kiến:

  • + Ông Nguyễn Hữu H, sinh năm 1965; địa chỉ: Tổ E, phường T, thị xã H, thành phố H. Vắng mặt.
  • + Anh Phùng Hữu Nhật T2, sinh năm 1996; địa chỉ: Tổ A, phường T, thị xã H, thành phố H. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 10/7/2024, Phùng Nhật M điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát: 75F1-282.06 (xe của M), đến khu vực B đường T, thành phố H (không xác định được địa điểm cụ thể) để liên hệ mua ma tuý nhằm mục đích sử dụng và bán lại cho các đối tượng trên địa bàn thị xã H kiếm lời. Tại đây, M gặp và hỏi mua của một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) số tiền 1.500.000 đồng ma túy, trong đó 1.000.000 đồng loại “hồng phiến” và 500.000 đồng loại “đá” thì được người này đồng ý bán và giao cho M 01 gói ni lông màu hồng, được cuốn băng keo màu vàng, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng loại ma túy “đá” và 66 viên ma túy loại “hồng phiến”. Sợ bị phát hiện nên M không mở ra kiểm tra ngay mà cất giấu gói ma túy trong người rồi rời đi.

Sau đó, M chạy xe mô tô đến khu vực C, thuộc phường V, quận T, thành phố H để gặp và chở chị Lê Thị Phương T (tên gọi khác: M1, sinh năm 1997, ở tại 4 Ư, C, phường V, quận T, thành phố H) là bạn của M đi chơi. Đến khoảng 20 giờ 50 phút cùng ngày, do biết T có sử dụng ma túy nên M rủ T về nhà mình, ở địa chỉ: kiệt C, đường T, tổ A, phường T, thị xã H để sử dụng ma túy thì T đồng ý. Khi đến nơi, M dẫn T vào phòng ngủ của mình và tại đây đã có sẵn các dụng cụ sử dụng ma túy như: vỏ chai nhựa, giấy bạc, bật lửa, ống hút ... (do M tự chế trước đó) rồi lấy ra 06 viên ma túy loại “hồng phiến” trong số ma túy mà M vừa mua được để tổ chức cho T sử dụng. M để 06 viên ma túy vào 02 tờ giấy bạc, mỗi tờ 03 viên rồi dùng bật lửa đốt nóng cho khói lên đi vào vỏ chai nhựa có gắn ống hút, sau đó M và T cùng hít khói vào người. Cả hai sử dụng ma túy từ khoảng 21 giờ 00 đến khoảng 22 giờ 45 phút thì sử dụng hết 04 viên ma túy và tạm ngưng do T mệt vì đang mang thai được hơn 7 tháng.

Cùng thời điểm đó, vào khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày 10/7/2024, Nguyễn Thanh K (sinh năm 1992, trú tại phường T, thị xã H) đang ngồi uống cà phê tại quán "" ở tổ C, phường T, thị xã H thì mượn điện thoại của một người khách trong quán (không rõ nhân thân, lai lịch), gọi điện cho Lê Quý Hồng S (sinh năm 1996, trú tại phường T, thị xã H), để nhờ mua ma túy “đá” về sử dụng thì S đồng ý. Sau đó, S sử dụng tài khoản zalo của mình có tên “Lê Quý Hồng S”, được đăng ký số điện thoại 0779.402.xxx để nhắn tin liên hệ với Phùng Nhật M qua tài khoản zalo có tên “Lăng Hàn” của M để đặt mua 300.000 đồng ma túy “đá” và đã chuyển khoản số tiền trên cho M, sau đó S nói K đến nhà M để nhận ma túy. M lấy gói ma túy loại “đá” đang cất giấu trong người (mua trước đó) ra chia thành 02 gói nhỏ, 01 gói bán cho S còn 01 gói cất giữ để bán cho các con nghiện kiếm lời. Một lúc sau, K chạy xe mô tô, biển kiểm soát: 75G1 - 455.29 (xe của chị Trương Thị Thùy T1, sinh năm 1991, trú tại tổ D, phường T, thị xã H) đến nhà M để lấy ma túy. Khi thấy K đến, M vứt gói ma túy “đá” ra giữa sân nhà để K tự nhặt lấy rồi rời đi. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, khi K đang điều khiển xe mô tô mang theo gói ma túy vừa mua được đến đoạn đường bê tông thuộc tổ A, phường T, thị xã H thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H phát hiện bắt quả tang.

Sau khi giao ma túy cho K xong thì M quay lại phòng ngủ để tiếp tục cùng T sử dụng ma túy. Đến khoảng 22 giờ 45 phút cùng ngày, khi M và T đang sử dụng 02 viên ma túy còn lại thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H phát hiện bắt quả tang. Quá trình điều tra, bị cáo Phùng Nhật M khai nhận: số ma túý còn lại bị cáo sẽ bán cho các con nghiện trên địa bàn, cụ thể: 60 viên ma tuý, loại “hồng phiến” bán với giá 40.000 đồng/viên; đối với 01 gói ma túy loại “đá” bị cáo phân ra thành 02 gói, bán với giá 300.000 đồng/gói.

- Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể các đối tượng qua nước tiểu:

Kết quả xét nghiệm mẫu nước tiểu ngày 12/5/2024 của Phùng Nhật M dương tính với M2 và MDMA; Lê Thị Phương T dương tính với M2; Nguyễn Thanh K dương tính với M2 và Lê Quý Hồng Sơn dương T3 với M2 và MDMA.

Vật chứng thu giữ trong vụ án, gồm:

* Thu giữ tại hiện trường:

  • 02 (hai) viên nén hình trụ tròn màu đỏ và 01 (một) bì nilông màu hồng bên ngoài có dán băng keo màu vàng, bên trong có chứa tổng cộng 58 (năm mươi tám) viên nén hình trụ tròn màu đỏ. Được niêm phong ký hiệu A1;
  • 02 (hai) viên nén hình trụ tròn màu đỏ và 01 (một) mảnh viên nén màu đỏ bị cháy sém được gói hở trên miếng giấy bạc; 01 (một) mảnh viên nén màu đỏ bị cháy sém được gói hở trên miếng giấy bạc khác (là số ma túy M và T đang sử dụng chưa hết), được niêm phong ký hiệu A2;
  • 01 (một) nắp kim loại dạng tròn, màu bạc, trên nắp có dòng chữ Danisa; 01 (một) chai nhựa màu xanh, dài 18cm, có gắn ống kim loại ở giữa, bên trong không có nước; 01 (một) bật lửa màu đỏ;
  • 01 (một) túi vải màu trắng, đỏ, xanh dài 18 cm bên trong có chứa 01 (một) kéo sắt cán bằng nhựa màu đen; 01 (một) mảnh giấy bạc; 02 (hai) đoạn ống nhựa; 01 (một) đoạn băng keo đen; 01 (một) gói nilông màu trắng, viền màu đỏ, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong ký hiệu A3;
  • 01 (một) gói nilông màu trắng, viền màu đỏ; 01 (một) chai nhựa, bên ngoài có dòng chữ TH true JUICE milk, màu trắng cam, phía trên gắn ống hút màu trắng cam và một ống thủy tinh màu trắng, bên trong không có nước; 01 (một) bó ống hút nhựa màu trắng được cuộn bằng băng keo đen, 01 (một) cuộn băng keo màu đen; 01 (một) cuộn băng keo hai mặt màu xanh đậm.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, nắp lưng màu xanh, IMEI1: 868476033375299, EMEI2: 868476033375281, trên điện thoại có gắn sim số 0358.829.xxx và 0779493452;
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REALME C11 2021, nắp lưng màu xanh, IMEII: 869150055715059/01, IMEI2: 869150055715042, trên điện thoại có gắn sim số 0874.368.xxx;
  • 01 (một) ví da màu đen, đã qua sử dụng bên trong có chứa: 2.290.000 đồng (hai triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng), tiền Việt Nam đồng, trong đó: 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 05 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng, 04 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng;
  • 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu trắng, biển kiểm soát: 75F1 - 282.06.

* Thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Thanh K:

  • Trong túi quần sau bên trái 01 (một) miếng băng keo màu xanh dán kín, bên trong có 01 (một) miếng nhựa màu trắng hình ống, bên trong miếng nhựa có chứa tinh thể rắn màu trắng;
  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave màu trắng, biển kiểm soát: 75G1-455.29, số khung: RLHJA3922PY426355; số máy: JA39E3040891.

* Thu giữ của Lê Thị Phương T: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, Nắp lưng màu hồng, bên trong có gắn sim số 0777512504.

* Thu giữ của Lê Quý Hồng S: 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone X nắp lưng màu trắng đã bị vỡ có gắn sim số 0779402220.

Tại Bản kết luận giám định số: 495/KLGĐ-KTHS ngày 15/7/2024, của Phòng K1, Công an tỉnh T (nay là thành phố H), kết luận:

  • + 60 (sáu mươi) viên nén hình trụ tròn màu đỏ trong gói niêm phong ký hiệu A1 có tổng khối lượng là: 5,6445g (năm phẩy sáu bốn bốn năm gam) là ma túy, loại Methamphetamine;
  • + 02 (hai) viên nén hình trụ tròn màu đỏ và 02 (hai) mảnh viên nén màu đỏ bị cháy sém được gói hở trên giấy bạc, trong gói niêm phong ký hiệu A2 có tổng khối lượng là 0,2982g (không phẩy hai chín tám hai gam) là ma túy, loại Methamphetamine;
  • + Mẫu tinh thể rắn màu trắng trong gói niêm phong ký hiệu A3 có tổng khối lượng là 0,0518g (không phẩy không năm một tám gam) là ma túy, loại Methamphetamine.

- Tại Kết luận giám định số: 496/KL-KTHS ngày 18/7/2024, của Phòng K1, Công an tỉnh T (nay là thành phố H) kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng, thu giữ của Nguyễn Thanh K, gửi giám định có tổng khối lượng là 0,0878g (không phẩy không tám bảy tám gam) là ma túy, loại Methamphetamine.

H1 lại đối tượng giám định gồm: 5,4445g (năm phẩy bốn bốn bốn năm gam) mẫu bột được nghiền từ 60 (sáu mươi) viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ; 0,0982g (Không phẩy không chín tám hai gam) mẫu bột được nghiền từ 02 (hai) viên nén đều có dạng hình trụ tròn màu đỏ và 02 (hai) mảnh của viên nén màu đỏ. Cùng các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định. Tất cả được niêm phong theo đúng quy định.

Tại bản cáo trạng số 82/CT-VKS-HTh ngày 26/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy truy tố bị cáo Phùng Nhật M về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phùng Nhật M phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Phùng Nhật M từ 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng đến 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Phùng Nhật M từ 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng đến 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của cả hai tội là 14 (mười bốn) năm 06 (sáu) tháng đến 15 (mười lăm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 11/7/2024.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã hoàn lại đối tượng giám định.
  • Tịch thu tiêu hủy các công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội không có giá trị sử dụng.
  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước các công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội:
    • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, nắp lưng màu xanh, IMEI1: 868476033375299, EMEI2: 868476033375281, trên điện thoại có gắn sim số 0358.829.xxx và 0779493452;
    • + 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu trắng, biển kiểm soát: 75F1 - 282.06;
    • + 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone X nắp lưng màu trắng đã bị vỡ có gắn sim số 0779402220;
  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 300.000 đồng của bị cáo do mua bán trái phép chất ma túy mà có.
  • Trả lại cho chủ sở hữu các vật chứng không liên quan đến việc phạm tội:
    • + Trả lại cho bị cáo Phùng Nhật M 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REALME C11 2021, nắp lưng màu xanh, IMEII: 869150055715059/01, IMEI2: 869150055715042, trên điện thoại có gắn sim số 0874.368.xxx và 01 (một) ví da màu đen, đã qua sử dụng bên trong có chứa: 2.290.000 đồng (hai triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng), tiền Việt Nam đồng (tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án).
    • + Trả lại cho chị Lê Thị Phương T 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, Nắp lưng màu hồng, bên trong có gắn sim số 0777512504.
    • Trả lại cho chị Trương Thị Thùy T1 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave màu trắng, biển kiểm soát: 75G1-455.29, số khung: RLHJA3922PY426355; số máy: JA39E3040891 do chị T1 không biết việc K sử dụng xe để đi mua ma túy.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo xin nhận lại tài sản là điện thoại di động nhãn hiệu REALME C11 2021, nắp lưng màu xanh; tự nguyện nộp lại số tiền 300.000 đồng do mua bán trái phép chất ma tuý mà có trong số tiền 2.290.000 đồng (hai triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng), đã tạm giữ của bị cáo. Số tiền còn lại 1.990.000 đồng đang tạm giữ của bị cáo, bị cáo tự nguyện nộp vào ngân sách Nhà nước.

Lời nói sau cùng bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[2] Đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 10/7/2024, tại nhà ở của mình, địa chỉ: kiệt C, tổ A, phường T, thị xã H, thành phố H; Phùng Nhật M đang tàng trữ trái phép tổng cộng cộng 5,6963g (năm phẩy sáu chín sáu ba gam) là ma túy, loại Methamphetamine, nhằm mục đích bán kiếm lời và đã bán trái phép 0,0878g (không phẩy không tám bảy tám gam) ma túy, loại Methamphetamine cho Nguyễn Thanh K, với số tiền 300.000 đồng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Trong khoảng thời gian từ 21 giờ 00 phút đến 22 giờ 45 phút ngày 10/7/2024, tại địa chỉ trên; Phùng Nhật M đã chuẩn bị 06 viên ma túy loại Methamphetamine (không xác định được trọng lượng cụ thể), cùng các vật dụng như: giấy bạc, bật lửa, ống nhựa, ống hút ... rồi sơ chế để tổ chức cho Lê Thị Phương T cùng M sử dụng trái phép thì bị phát hiện bắt quả tang. Khối lượng ma túy mà bị cáo và T chưa sử dụng hết thu giữ được là 0,2982g (không phẩy hai chín tám hai gam) ma túy, loại Methamphetamine.

Các hành vi nêu trên của bị cáo Phùng Nhật M đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy đã truy tố bị cáo Phùng Nhật M theo bản cáo trạng số 82/CT-VKS-HTh ngày 26/11/2024 là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáo Phùng Nhật M là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy; bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được ma túy là chất gây nghiện, làm phát sinh nhiều tệ nạn khác, việc tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy và việc mua bán trái phép chất ma túy là bị nghiêm cấm, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo Phùng Nhật M phạm vào tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, gây ảnh hưởng rất xấu đến tình hình an ninh, trật tự và việc đấu tranh phòng, chống loại tội phạm ma tuý tại địa phương, do đó cần xử phạt nghiêm bị cáo tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Bị cáo Phùng Nhật M không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính do hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý mà có nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Bị cáo M có nhân thân xấu, đã từng nhiều lần bị xử lý hành chính và bị xử phạt tù về các tội xâm phạm sở hữu nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội. Do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tác dụng giáo dục và răn đe bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã hoàn lại đối tượng giám định gồm:

  • + Ma túy hoàn lại vụ Phùng Nhật M và Lê Thị Phương T, bắt ngày 10/7/2024, số lượng: 1 Cái; Đặc điểm: Gói niêm phong bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 chữ ký ghi họ tên của Giám định viên Lê Thị Tuyết A; 02 chữ ký ghi họ tên của Điều tra viên Nguyễn Bình D và 02 dấu tròn đỏ của Phòng K1-Công an tỉnh T (nay là TP H); Tình trạng: Nguyên vẹn.
  • + Ma túy hoàn lại vụ Nguyễn Thanh K, bắt ngày 10/7/2024, số lượng: 1 Cái; Đặc điểm: Gói niêm phong bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 chữ ký ghi họ tên của Giám định viên Lê Thị Tuyết A; 02 chữ ký ghi họ tên của Điều tra viên Nguyễn Bình D và 02 dấu tròn đỏ của Phòng K1-Công an tỉnh T (nay là TP H); Tình trạng: Nguyên vẹn.

- Tịch thu tiêu hủy các công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội không có giá trị sử dụng gồm:

  • + Bật lửa thu giữ tại vị trí số 2 ở hiện trường, số lượng: 1 Cái; Đặc điểm: Màu đỏ; Tình trạng: Đã qua sử dụng; Nắp kim loại vị trí số 2 ở hiện trường, số lượng: 1 Cái; Đặc điểm: Hình dạng tròn, màu bạc, trên nắp có dòng chữ Danisa; Chai nhựa màu xanh được thu giữ tại vị trí số 2 ở hiện trường, số lượng: 1 Cái; Đặc điểm: Dài khoảng 18cm, có gắn ống kim loại ở giữa, bên trong không có nước. Tất cả được niêm phong vào chung một túi niêm phong mã số 2119491.
  • + Túi nilông thu giữ tại vị trí số 4 ở hiện trường, số lượng: 1 Cái; Đặc điểm: Màu trắng viền đỏ; Bịch nhựa thu giữ tại vị trí số 4 ở hiện trường, số lượng: 1 Cái; Đặc điểm: Trên và chai có dòng chữ TH true JUICE milk màu trắng cam, phía trên có gắn ống hút màu trắng cam và 01 ống thủy tinh màu trắng, bên trong không có nước; Tất cả được niêm phong vào chung một túi niêm phong mã số 2119497.
  • + Băng keo hai mặt thu giữ tại tủ áo quần của Phùng Nhật M, số lượng: 1 Cuộn; Đặc điểm: Màu xanh đậm; Tình trạng: Đã qua sử dụng; Ống hút nhựa thu giữ tại tủ áo quần của Phùng Nhật M, số lượng: 1 Cái; Đặc điểm: Các ống hút nhựa màu trắng được bó lại bằng băng keo đen; Băng keo đen thu giữ tại tủ áo quần của Phùng Nhật M, số lượng: 1 Cuộn: Đặc điểm: Màu đen; Tình trạng: Đã qua sử dụng; Tất cả được niêm phong vào chung một túi niêm phong mã số 2119494.
  • + Túi vải thu giữ tại vị trí số 3 ở hiện trường, số lượng: 1 Cái; Đặc điểm: Màu trắng, đỏ, xanh dài khoảng 18cm bên trong có chứa 01 kéo sắt cán nhựa màu đen: 01 mảnh giấy bạc; 02 đoạn ống nhựa; 01 đoạn băng keo đen. Tất cả được niêm phong trong túi niêm phong mã số 2119490.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước vật, tiền liên quan đến tội phạm gồm:

  • + Số tiền 300.000 đồng thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma tuý mà có (trong số tiền 2.290.000 đồng tạm giữ của bị cáo Phùng Nhật M).
  • + Điện thoại OPPO của Phùng Nhật M, số lượng: 1 Cái; Đặc điểm: Nắp lưng màu xanh, bên trong có sim 0358829548 và sim 0779493452; Tình trạng: Đã qua sử dụng. Tất cả được niêm phong bằng bì thư giấy màu trắng và băng keo trong bên ngoài có 01 chữ ký ghi họ tên của ông Nguyễn Bình D; 01 chữ ký ghi họ tên của ông Lê Văn Hữu D1; 01 chữ ký ghi họ tên của ông Phùng Nhật M và 02 dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thị xã H, gói niêm phong ký hiệu dòng chữ "Điện thoại OPPO của Phùng Nhật M”;
  • + Xe Yamaha Sirius biển kiểm soát 75F1-282.06, số lượng: 1 Chiếc; Đặc điểm: Màu trắng; Tình trạng: Đã qua sử dụng (Kèm chìa khóa xe);
  • + Điện thoại IPhone X của Lê Quý Hồng S, số lượng: 1 Cái; Đặc điểm: Nắp lưng màu trắng đã bị vỡ, Tình trạng: Đã qua sử dụng. Tất cả được niêm phong bằng bì thư giấy màu trắng và băng keo trong bên ngoài có 01 chữ ký ghi họ tên của ông Nguyễn Bình D; 01 chữ ký ghi họ tên của ông Nguyễn Văn L1; 01 chữ ký ghi họ tên của ông Lê Quý Hồng S và 02 dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thị xã H, trên gói niêm phong ký hiệu dòng chữ “Điện thoại IPhone X của Lê Quý Hồng S”;

- Trả lại cho chủ sở hữu các vật chứng không liên quan đến việc phạm tội gồm:

  • + Trả lại cho bị cáo Phùng Nhật M: Điện thoại di động REALME C11 2021, số lượng: 1 Cái; Đặc điểm: Nắp lưng màu xanh, trên điện thoại có gắn sim số 0874.368.xxx; Tình trạng: Đã qua sử dụng. Tất cả được niêm phong bằng bì thư giấy màu trắng và băng keo trong bên ngoài có 01 chữ ký ghi họ tên của ông Nguyễn Bình D; 01 chữ ký ghi họ tên của ông Lê Văn Hữu D1; 01 chữ ký ghi họ tên của ông Phùng Nhật M và 02 dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thị xã H, gói niêm phong ký hiệu dòng chữ “Điện thoại Readlme C11 2021 của Phùng Nhật M”.
  • + Ví da của bị cáo Phùng Nhật M, số lượng: 1 Cái; Đặc điểm: Màu đen; Tình trạng: Đã qua sử dụng.
  • + Trả lại cho chị Lê Thị Phương T điện thoại đi động Iphone 7 Plus Lê Thị Phương T, số lượng: 1 Cái: Đặc điểm: Nắp lưng màu hồng, bên trong có gắn sim số 0777512504; Tình trạng: Đã qua sử dụng. Tất cả được niêm phong bằng bì thư giấy màu trắng và băng keo trong bên ngoài có 01 chữ ký ghi họ tên của ông Nguyễn Bình D: 01 chữ ký ghi họ tên của ông Lê Văn Hữu D1; 01 chữ ký ghi họ tên của bà Lê Thị Phương T và 02 dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thị xã H, gói niêm phong ký hiệu dòng chữ “Điện thoại Iphone 7 Plus của Lê Thị Phương T MK: "000000".
  • - Trả lại cho chị Trương Thị Thùy T1 xe môtô biển kiểm soát 75G1-455.29, số lượng: 1 Chiếc; Đặc điểm: Nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu trắng; Tình trạng: Đã qua sử dụng (Kèm chìa khóa xe) do chị T1 không biết việc K sử dụng xe để đi mua ma túy.

* Đối với số tiền còn lại 1.990.000 đồng của bị cáo Phùng Nhật M, (trong số tiền 2.290.000 đồng đang tạm giữ của bị cáo sau khi trừ đi số tiền 300.000 đồng bị cáo tự nguyện nộp lại tiền thu lợi bất chính do hành vi mua bán trái phép chất ma tuý mà có), đây là số tiền của bị cáo không liên quan đến tội phạm. Tuy nhiên tại phiên toà, bị cáo có ý kiến tự nguyện nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền còn lại 1.990.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy đây là quyền tự định đoạt của chủ sở hữu. Do đó, căn cứ Điều 194, Điều 221 và Điều 228 Bộ luật Dân sự năm 2015, cần sung vào ngân sách nhà nước số tiền 1.990.000 đồng nêu trên.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phùng Nhật M phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

  • - Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự,
  • Xử phạt: Bị cáo Phùng Nhật M 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự,
  • Xử phạt: Bị cáo Phùng Nhật M 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của cả hai tội buộc bị cáo Phùng Nhật M phải chấp hành là 14 (mười bốn) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 11/7/2024.

3. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194, Điều 221 và Điều 228 Bộ luật Dân sự năm 2015, tuyên xử:

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã hoàn lại đối tượng giám định gồm:

  • + Ma túy hoàn lại vụ Phùng Nhật M và Lê Thị Phương T, bắt ngày 10/7/2024, số lượng: 1 Cái; Đặc điểm: Gói niêm phong bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 chữ ký ghi họ tên của Giám định viên Lê Thị Tuyết A; 02 chữ ký ghi họ tên của Điều tra viên Nguyễn Bình D và 02 dấu tròn đỏ của Phòng K1-Công an tỉnh T (nay là TP H); Tình trạng: Nguyên vẹn.
  • + Ma túy hoàn lại vụ Nguyễn Thanh K, bắt ngày 10/7/2024, số lượng: 1 Cái; Đặc điểm: Gói niêm phong bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 chữ ký ghi họ tên của Giám định viên Lê Thị Tuyết A; 02 chữ ký ghi họ tên của Điều tra viên Nguyễn Bình D và 02 dấu tròn đỏ của Phòng K1-Công an tỉnh T (nay là TP H); Tình trạng: Nguyên vẹn.

- Tịch thu tiêu hủy các công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội không có giá trị sử dụng gồm:

  • + Bật lửa thu giữ tại vị trí số 2 ở hiện trường, số lượng: 1 Cái; Đặc điểm: Màu đỏ; Tình trạng: Đã qua sử dụng; Nắp kim loại vị trí số 2 ở hiện trường, số lượng: 1 Cái; Đặc điểm: Hình dạng tròn, màu bạc, trên nắp có dòng chữ Danisa; Chai nhựa màu xanh được thu giữ tại vị trí số 2 ở hiện trường, số lượng: 1 Cái; Đặc điểm: Dài khoảng 18cm, có gắn ống kim loại ở giữa, bên trong không có nước. Tất cả được niêm phong vào chung một túi niêm phong mã số 2119491.
  • + Túi nilông thu giữ tại vị trí số 4 ở hiện trường, số lượng: 1 Cái; Đặc điểm: Màu trắng viền đỏ; Bịch nhựa thu giữ tại vị trí số 4 ở hiện trường, số lượng: 1 Cái; Đặc điểm: Trên và chai có dòng chữ TH true JUICE milk màu trắng cam, phía trên có gắn ống hút màu trắng cam và 01 ống thủy tinh màu trắng, bên trong không có nước; Tất cả được niêm phong vào chung một túi niêm phong mã số 2119497.
  • + Băng keo hai mặt thu giữ tại tủ áo quần của Phùng Nhật M, số lượng: 1 Cuộn; Đặc điểm: Màu xanh đậm; Tình trạng: Đã qua sử dụng; Ống hút nhựa thu giữ tại tủ áo quần của Phùng Nhật M, số lượng: 1 Cái; Đặc điểm: Các ống hút nhựa màu trắng được bó lại bằng băng keo đen; Băng keo đen thu giữ tại tủ áo quần của Phùng Nhật M, số lượng: 1 Cuộn: Đặc điểm: Màu đen; Tình trạng: Đã qua sử dụng; Tất cả được niêm phong vào chung một túi niêm phong mã số 2119494.
  • + Túi vải thu giữ tại vị trí số 3 ở hiện trường, số lượng: 1 Cái; Đặc điểm: Màu trắng, đỏ, xanh dài khoảng 18cm bên trong có chứa 01 kéo sắt cán nhựa màu đen: 01 mảnh giấy bạc; 02 đoạn ống nhựa; 01 đoạn băng keo đen. Tất cả được niêm phong trong túi niêm phong mã số 2119490.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước vật, tiền liên quan đến tội phạm gồm:

  • + Số tiền 300.000 đồng thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma tuý mà có (trong số tiền 2.290.000 đồng tạm giữ của bị cáo Phùng Nhật M).
  • + Điện thoại OPPO của Phùng Nhật M, số lượng: 1 Cái; Đặc điểm: Nắp lưng màu xanh, bên trong có sim 0358829548 và sim 0779493452; Tình trạng: Đã qua sử dụng. Tất cả được niêm phong bằng bì thư giấy màu trắng và băng keo trong bên ngoài có 01 chữ ký ghi họ tên của ông Nguyễn Bình D; 01 chữ ký ghi họ tên của ông Lê Văn Hữu D1; 01 chữ ký ghi họ tên của ông Phùng Nhật M và 02 dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thị xã H, gói niêm phong ký hiệu dòng chữ "Điện thoại OPPO của Phùng Nhật M”;
  • + Xe Yamaha Sirius biển kiểm soát 75F1-282.06, số lượng: 1 Chiếc; Đặc điểm: Màu trắng; Tình trạng: Đã qua sử dụng (Kèm chìa khóa xe);
  • + Điện thoại IPhone X của Lê Quý Hồng S, số lượng: 1 Cái; Đặc điểm: Nắp lưng màu trắng đã bị vỡ, Tình trạng: Đã qua sử dụng. Tất cả được niêm phong bằng bì thư giấy màu trắng và băng keo trong bên ngoài có 01 chữ ký ghi họ tên của ông Nguyễn Bình D; 01 chữ ký ghi họ tên của ông Nguyễn Văn L1; 01 chữ ký ghi họ tên của ông Lê Quý Hồng S và 02 dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thị xã H, trên gói niêm phong ký hiệu dòng chữ “Điện thoại IPhone X của Lê Quý Hồng S”;

- Trả lại cho chủ sở hữu các vật chứng không liên quan đến việc phạm tội gồm:

  • + Trả lại cho bị cáo Phùng Nhật M: Điện thoại di động REALME C11 2021, số lượng: 1 Cái; Đặc điểm: Nắp lưng màu xanh, trên điện thoại có gắn sim số 0874.368.xxx; Tình trạng: Đã qua sử dụng. Tất cả được niêm phong bằng bì thư giấy màu trắng và băng keo trong bên ngoài có 01 chữ ký ghi họ tên của ông Nguyễn Bình D; 01 chữ ký ghi họ tên của ông Lê Văn Hữu D1; 01 chữ ký ghi họ tên của ông Phùng Nhật M và 02 dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thị xã H, gói niêm phong ký hiệu dòng chữ “Điện thoại Readlme C11 2021 của Phùng Nhật M”.
  • + Ví da của bị cáo Phùng Nhật M, số lượng: 1 Cái; Đặc điểm: Màu đen; Tình trạng: Đã qua sử dụng.
  • + Trả lại cho chị Lê Thị Phương T điện thoại đi động Iphone 7 Plus Lê Thị Phương T, số lượng: 1 Cái: Đặc điểm: Nắp lưng màu hồng, bên trong có gắn sim số 0777512504; Tình trạng: Đã qua sử dụng. Tất cả được niêm phong bằng bì thư giấy màu trắng và băng keo trong bên ngoài có 01 chữ ký ghi họ tên của ông Nguyễn Bình D: 01 chữ ký ghi họ tên của ông Lê Văn Hữu D1; 01 chữ ký ghi họ tên của bà Lê Thị Phương T và 02 dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thị xã H, gói niêm phong ký hiệu dòng chữ “Điện thoại Iphone 7 Plus của Lê Thị Phương T MK: "000000".
  • - Trả lại cho chị Trương Thị Thùy T1 xe môtô biển kiểm soát 75G1-455.29, số lượng: 1 Chiếc; Đặc điểm: Nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu trắng; Tình trạng: Đã qua sử dụng (Kèm chìa khóa xe).

- Sung vào ngân sách nhà nước số tiền 1.990.000 đồng (trong số tiền 2.290.000 đồng tạm giữ của bị cáo Phùng Nhật M).

(Vật chứng trên có đặc điểm theo Quyết định chuyển vật chứng số 72/QĐ-VKSHTh ngày 26/11/2024, Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thuỷ và Biên bản bàn giao tiếp nhận tài sản để bảo quản ngày 23/7/2023 tại Kho bạc Nhà nước H2 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra công an thị xã H và Kho bạc Nhà nước thị xã H2).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phùng Nhật M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Huế;
  • - VKSND TP Huế;
  • - VKSND thị xã Hương Thủy;
  • - Cơ quan CSĐT Công an thị xã Hương Thủy;
  • - Cơ quan THAHS Công an thị xã Hương Thủy;
  • - Chi cục THADS thị xã Hương Thủy;
  • - Sở Tư pháp TP Huế;
  • - Phòng Hồ sơ Công an TP Huế;
  • - Cơ sở giam giữ bị cáo;
  • - Bị cáo; NCQLNVLQ;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Quỳnh Châu

14

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, THÀNH PHỐ HUẾ về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 05/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phùng Nhật M, bị truy tố về tội: tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger