Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/DS-PT

Ngày 03 – 01 – 2024

V/v tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Minh Trung

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Lập
Ông Nguyễn Trọng Quế

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Công Tấn – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng Yến – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 421/2023/TLPT-DS ngày 01 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 198/2023/DS-ST ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 306/2023/QĐ-PT ngày 22 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn.

Ông Phạm Văn L, sinh năm 1965 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp Đ, xã P, huyện P, tỉnh C ..

- Bị đơn:

  1. Ông Trần Văn G, sinh năm 1952 (có mặt).
  2. Ông Trần Văn T, sinh năm 1987 (có mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện P, tỉnh C ..

- Người kháng cáo: Ông Trần Văn T và ông Trần Văn G là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn ông Phạm Văn L trình bày:

Khoảng năm 2014 đến năm 2018 (âm lịch) ông có bán thức ăn, thuốc thủy sản cho ông Trần Văn G và ông Trần Văn T. Ông T có ký nhận nợ số tiền 195.976.000 đồng vào ngày 13/11/2014. Sau đó, ông T và ông G có mua thêm thức ăn, thuốc thủy sản và trả tiền nhiều lần, đến năm 2018 đối chiếu công nợ thì ông G và ông T còn nợ ông số tiền là 172.161.000 đồng và ông Trần Văn G có ký biên bản làm việc xác nhận còn nợ số tiền 172.161.000 đồng. Ông có yêu cầu ông G và ông T trả tiền nhiều lần nhưng đến nay ông G và ông T vẫn chưa trả số tiền trên. Nay, ông yêu cầu ông Trần Văn G và ông Trần Văn T liên đới trả cho ông số tiền 172.161.000 đồng.

- Bị đơn ông Trần Văn G trình bày:

Ông có mua thức ăn nuôi tôm của ông Phạm Văn L từ năm 2018, sau đó đối chiếu nợ và còn nợ lại số tiền là 172.161.000 đồng. Khoản nợ trên là nợ của riêng ông, không phải nợ của ông Trần Văn T. Ông T chỉ đến gặp ông L ký nhận hàng thay ông. Nay ông đồng ý trả cho ông L 172.161.000 đồng.

- Bị đơn ông Trần Văn T trình bày:

Từ năm 2014 đến năm 2018, ông không có mua thức ăn nuôi tôm của ông Phạm Văn L mà ông chỉ đi nhận hàng thay cho cha ông là ông Trần Văn G, mỗi lần nhận hàng đều phải ký xác nhận nợ theo yêu cầu của ông L. Năm 2014, khi hết mùa vụ nuôi tôm, ông có ký xác nhận công nợ ngày 13/11/2014 với số nợ 195.976.000 đồng theo biên nhận nợ ông L cung cấp, nhưng là ký nhận nợ thay cho ông Trần Văn G. Nay ông đồng ý liên đới nghĩa vụ với ông Trần Văn G trả cho ông Phạm Văn L số tiền 172.161.000 đồng.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 198/2023/DS-ST ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân quyết định:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn L. Buộc ông Trần Văn T và ông Trần Văn G liên đới nghĩa vụ trả cho ông Phạm Văn L số tiền 172.161.000 đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 12/9/2023, ông Trần Văn G có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm xét xử theo hướng không buộc ông T có trách nhiệm liên đới cùng ông G trả cho ông L số tiền 172.161.000 đồng.

Ngày 12/9/2023, ông Trần Văn T có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm xét xử theo hướng không buộc ông T có trách nhiệm liên đới cùng ông G trả cho ông L số tiền 172.161.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Trần Văn T và ông Trần Văn G giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Phần tranh luận tại phiên toà:

Ông Trần Văn T tranh luận: Ông đồng ý trả cho ông L 10.000.000 đồng/vụ cho đến khi dứt nợ.

Ông Trần Văn G tranh luận: Ông đồng ý trả 10.000.000 đồng/01 vụ tôm.

Ông Phạm Văn L tranh luận: Ông yêu cầu ông T và ông G trả cho ông 172.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn T. Chấp nhận một phần kháng cáo ông Trần Văn G. Sửa bản án sơ thẩm số: 198/2023/DS-ST ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau về phần án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét kháng cáo của ông Trần Văn T và ông Trần Văn G, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Ông G thừa nhận có mua thức ăn và thuốc thủy sản của ông Phạm Văn L còn thiếu lại số tiền 172.161.000 đồng. Tuy nhiên, ông T là con của ông G và ông G cho rằng, khoản nợ này là nợ riêng của ông G không liên quan ông T nên ông T không có trách nhiệm cùng ông G trả nợ cho ông L. Như vậy, các bị đơn kháng cáo không đồng ý trách nhiệm liên đới của ông T cùng ông G thanh toán nợ cho ông L.

[2] Ông T thừa nhận có ký tên và ghi tên vào sổ ghi nợ của ông L nhiều lần nhưng trình bày là ký nhận hàng thay cho ông G. Xét thấy, tại Sổ ghi nợ do ông L cung cấp (Bút lục số 39), ông T có ký tên biên nhận nợ với nội dung: “Đã tính đến 13/11/2014 còn nợ 195.976.000”. Như vậy, nội dung của giấy ghi nợ trên thể hiện ông T có nợ ông L số tiền 195.976.000 đồng chứ không phải nhận hàng giùm như ông T, ông G trình bày.

[3] Tại phiên tòa sơ thẩm (Bút lục số 61), ông T có hứa mỗi lần lên tôm trả cho ông L 10.000.000 đồng và đồng ý trả cho ông L số tiền 172.161.000 đồng. Như vậy, án sơ thẩm đã ghi nhận sự tự nguyện của ông T vào bản án là đúng quy định pháp luật. Án sơ thẩm buộc ông Trần Văn T có trách nhiệm liên đới cùng ông Trần Văn G trả cho ông L là có căn cứ. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, ông Trần Văn G có yêu cầu miễn toàn bộ án phí. Hội đồng xét xử xét thấy, ông G đã trên 60 tuổi và có yêu cầu miễn án phí là phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án sơ thẩm về phần án phí. Việc sửa án sơ thẩm là do tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm, không có lỗi của cấp sơ thẩm.

[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T cũng đồng ý trả số tiền 172.161.000 đồng nhưng trả dần cụ thể: Khi lên 01 vụ tôm sẽ trả cho ông L 10.000.000 đồng cho đến khi trả dứt nợ. Nguyên đơn không đồng ý cách trả nợ này của bị đơn. Do đó, việc trả khoản nợ trên như thế nào là thuộc thẩm quyền của Thi hành án.

[5] Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn T. Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trần Văn G. Sửa bản án sơ thẩm số 198/2023/DS-ST ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

[6] Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Văn T và ông Trần Văn G phải chịu 8.608.050 đồng. Ông Trần Văn G được miễn nộp án phí. Ông Phạm Văn L không phải chịu án phí.

[7] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông G được miễn nộp. Ông T phải chịu 300.000 đồng án phí. Ngày 12/09/2023, ông T có nộp tạm ứng 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0019158 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, được chuyển thu án phí.

[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn T.

Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trần Văn G.

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 198/2023/DS-ST ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau về phần án phí.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn L.

Buộc ông Trần Văn T và ông Trần Văn G liên đới nghĩa vụ trả cho ông Phạm Văn L số tiền nợ là 172.161.000 đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán xong tất cả các khoản tiền trên, thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.

Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Văn T phải chịu 4.304.000 đồng. Ông Trần Văn G được miễn nộp án phí. Ông Phạm Văn L không phải chịu án phí; ông L có nộp tạm ứng án phí số tiền 4.304.000 đồng theo biên lai số 0018814 ngày 13 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, được nhận lại.

Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Văn G được miễn nộp. Ông Trần Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí. Ngày 12/09/2023, ông Trần Văn T có nộp tạm ứng 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0019158 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, được chuyển thu án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Phú Tân;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Tân;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Minh Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2024/DS-PT ngày 03/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

  • Số bản án: 05/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông L yêu cầu ông Trần Văn G và ông Trần Văn T liên đới trả cho ông số tiền 172.161.000 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger