|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 05/2026/DS-PT
Ngày: 12-01-2026
"V/v Tranh chấp về thừa kế tài sản"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Duy Phượng |
| Các Thẩm phán: | Bà Nguyễn Thị Thu Hiền |
| Ông Trương Quang Tú |
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đông Hà - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hồng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 08 và 12/01/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 116/2025/TLPT-DS ngày 22 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 11/2025/DS-ST ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 176/2025/QĐ-PT ngày 12/11/2025, các Quyết định hoãn phiên tòa số: 163/2025/QĐ-PT ngày 26/11/2025, số: 197/2025/QĐ-PT ngày 16/12/2025 đối với các đương sự:
1. Nguyên đơn:
Ông Hoàng Văn A, sinh năm 1959; địa chỉ: Thôn M, xã Đ, tỉnh Hưng Yên); có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
- - Ông Lưu Toàn N, sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn P, xã Đ, tỉnh Hưng Yên; có mặt.
- - Bà Ngô Thị M, sinh năm 1960; (vợ ông A) cùng địa chỉ của nguyên đơn; có mặt.
2. Bị đơn:
2.1 Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn M, xã Đ, tỉnh Hưng Yên, vắng mặt.
2.2 Ông Hoàng Văn T1, sinh năm 1970; địa chỉ: Thôn M, xã Đ, tỉnh Hưng Yên, có mặt;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Phạm Trung K, Công ty L2, có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Quý K1, địa chỉ: 115 N, phường T, thành phố Hà Nội; có mặt.
2.3 Ông Hoàng Văn L, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn M, xã Đ, tỉnh Hưng Yên, vắng mặt.
2.4 Ông Hoàng Văn T2, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn M, xã Đ, tỉnh Hưng Yên, có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T, L, T2 là bà Bùi Như Q, sinh năm 1990, địa chỉ: Số F, ngách B, phố Đ, phường V, thành phố Hà Nội; CCCD [...]; có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Cụ Hoàng Văn Y, sinh năm 1937, địa chỉ: Thôn M, xã Đ, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
- - Các bà Hoàng Thị T3, sinh năm 1962; Hoàng Thị L1, sinh năm 1965; Hoàng Kim O, sinh năm 1978; Tống Thị T4, sinh năm 1975; Đỗ Thị S, sinh năm 1973; Vũ Thị H, sinh năm 1973; Nhâm Thị T5, sinh năm 1978; cùng địa chỉ: Xã Đ, tỉnh Hưng Yên. Đều vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (các ông bà T3, L1, O, T5, T4): là bà Bùi Như Q, địa chỉ: Số F, ngách B, phố Đ, phường V, thành phố Hà Nội; có mặt.
4. Người kháng cáo:
Bị đơn Ông Hoàng Văn T1, ông Hoàng Văn T, ông Hoàng Văn T2, ông Hoàng Văn L; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hoàng Thị L1, Hoàng Thị T3, Hoàng Kim O, bà Đỗ Thị S.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn Hoàng Văn A và những người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Cụ Hoàng Văn Y và cụ Hoàng Thị T6 là vợ chồng hợp pháp, có 08 người con gồm: Hoàng Văn A, Hoàng Thị T3, Hoàng Thị L1, Hoàng Văn T, Hoàng Văn T1, Hoàng Văn L, Hoàng Văn T2 và Hoàng Kim O. Hai cụ không có con nuôi, con riêng và không có người mà hai cụ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống, cụ Y và cụ T6 tạo lập được các tài sản sau:
- - Thửa đất số 535, tờ bản đồ số 51 (đo đạc năm 2021) tại thôn M, xã Đ, tỉnh Hưng Yên, gồm đất ở và đất trồng cây lâu năm, diện tích 372,9 m² (đo đạc thực tế ngày 21/01/2025 là 359,8 m²), trên đất có nhà xây lợp ngói và công trình phụ đã cũ; hiện cụ Y đang sử dụng.
- - Thửa đất số 534, tờ bản đồ số 51 (đo đạc năm 2021), diện tích 223 m² (thực đo 224,2 m²); hiện vợ chồng ông Hoàng Văn L và bà Vũ Thị H sử dụng làm nhà.
- - Phần đất bờ ao giáp đường giao thông diện tích khoảng 50 m².
- (Theo bản đồ 299/TTg, tờ bản đồ số 3/DC, thửa 471 diện tích 693 m², gồm 360 m² đất ở, còn lại là đất trồng cây lâu năm – tương ứng với thửa 534, 535 và đất bờ ao nêu trên).
- - Phần đất ao diện tích 324,6 m² đã được các ông T, T1, T2 san lấp và đang thể hiện tại các thửa 531, 532, 533 theo đo đạc năm 2021.
- - Thửa đất phía Đông, cụ Y và cụ T6 mua của vợ chồng ông T9 - bà T7 diện tích 647,2 m² (gồm 360 m² đất ở, còn lại đất trồng cây lâu năm). Theo đo đạc năm 2021, ông Hoàng Văn T đang sử dụng thửa 483, tờ bản đồ số 51 (diện tích 334,7 m², thực đo 330,7 m²); ông Hoàng Văn T1 đang sử dụng thửa 536, tờ bản đồ số 51 (diện tích 312,5 m², thực đo 312,7 m²).
Ngoài ra cụ Y và cụ T6 không có tài sản nào khác.
Về đất nông nghiệp: do cụ Y là cán bộ nghỉ hưu nên không được giao ruộng, ruộng tiêu chuẩn của cụ T6 là 707 m², trong đó đã trừ vào ao 136 m², còn lại 571 m² đang giao chung với ruộng của ông Hoàng Văn T2 tại xứ đồng B và Mộ X; hiện ông T2 đang sử dụng.
Cụ Y và cụ T6 trong thời gian chung sống không lập văn bản cho bất kỳ người con nào về quyền sử dụng đất; các diện tích đất do ông T, ông T1, ông L, ông T2 đang sử dụng là do các ông tự chia và tự nhận.
Ngày 30/9/2021, cụ Hoàng Thị T6 qua đời, không để lại di chúc và không để lại nghĩa vụ tài sản; chi phí ma chay do cụ Y lo liệu, các con không phải đóng góp. Nay ông Hoàng Văn A yêu cầu chia thừa kế phần di sản của cụ T6 trong khối tài sản chung của hai cụ cho 09 người gồm cụ Y và 08 người con. Ông đề nghị được chia bằng hiện vật khoảng 150 m² đất ao tại phần đất ao thuộc thửa 531, phía Bắc giáp đường giao thông, phía Tây giáp ngõ xóm; nếu phần giá trị thấp hơn thì đề nghị thanh toán bằng tiền.
Các bị đơn không đến Tòa làm việc theo giấy triệu tập, không gửi văn bản trình bày ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm.
Tòa án tiến hành ghi lời khai tại nơi cư trú theo quy định.
Ông Hoàng Văn T1 trình bày: Năm 2001, vợ chồng ông mua nhà đất của vợ chồng ông Hoàng Văn A và bà Ngô Thị M với giá 15.000.000 đồng; giao tiền hai lần, đều giao cho bà M, có lập giấy viết tay, không có chứng thực, không có người làm chứng. Nhà trên đất có 4 gian mái bằng; sau khi nhận nhà đất, vợ chồng ông xây thêm nhà ngang, công trình phụ, nhà bếp. Nguồn gốc đất ông A - bà M bán cho ông là đất của cụ Y - cụ T6 cho ông A - bà M từ trước. Vì vậy ông xác định thửa 536 là tài sản của vợ chồng ông, không phải di sản để chia thừa kế.
Ông trình bày thêm: năm 1993, khi ông và ông T2 chưa lập gia đình, bố mẹ có cho hai ông mỗi người 1/2 diện tích ao còn lại (trước đó đã cho ông L). Ông và ông L san lấp 1/3 diện tích ao; 2/3 còn lại do ông T san lấp để sử dụng làm bãi vật liệu xây dựng. Việc cho đất chỉ bằng miệng, không lập văn bản. Năm 2011, vợ chồng ông T2 chuyển nhượng cho vợ chồng ông T - bà T4 95 m² đất ao đã san lấp giáp phần đất của ông L; có lập giấy viết tay, được ông T2, ông T1, bà S, bà T4 và ông L đồng ý.
Ông T1 và ông T2 thống nhất: thửa 535 nơi cụ Y đang ở làm từ đường, không chia; thửa nào bố mẹ cho ai thì người đó có quyền sử dụng.
Các bị đơn khác không trình bày quan điểm.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: không đến Tòa, không có ý kiến gửi cho T8; Tòa án đến nhà lấy lời khai.
Cụ Hoàng Văn Y khai: Hai cụ có 08 người con như trên, không có con nào khác. Cụ T6 mất không để lại di chúc. Tài sản của hai cụ gồm thửa 535 - nơi cụ đang ở. Năm 1983 vợ chồng cụ mua đất của ông T9; năm 1990 đổi ao cho bà M1; phần đất mua giáp đường hiện ông T sử dụng, phần phía trong ông T1 sử dụng. Năm 2001, ông A - bà M ra phố nên đất của họ được chuyển lại cho ông T1 - bà S; ông T1 trả tiền cho ông A - bà M, không trả cho cụ. Đất các ông T và T1 làm nhà là do vợ chồng cụ cho bằng miệng. Ao là do các con san lấp; hiện ông T sử dụng làm bãi vật liệu. Cụ không nhớ đã cho phần ao còn lại cho ai. Nay tuổi cao, đề nghị Tòa giải quyết theo pháp luật và không triệu tập cụ.
Bà Hoàng Thị T3, Hoàng Kim O khai: Thửa 536 vợ chồng ông T1 - bà S sử dụng là đất bố mẹ cho ông A - bà M, sau đó bán lại cho ông T1. Thửa 483 ông T sử dụng là đất bố mẹ cho; thửa 534 ông L sử dụng cũng là đất bố mẹ cho. Diện tích ao còn lại bố mẹ cho ông T1 và ông T2. Các bà không có yêu cầu gì về các phần đất các ông đang sử dụng. Thửa 535 nơi cụ Y đang ở đề nghị giữ làm từ đường, không chia. Việc bố mẹ cho đất chỉ bằng miệng, không lập văn bản. Bà Hoàng Thị L1 có cùng ý kiến.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác không trình bày quan điểm.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương, xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc hiện trạng và định giá tài sản tranh chấp. Kết quả xác minh thể hiện: theo bản đồ 299/TTg tại xã Đ (nay là xã Đ), cụ Hoàng Thị T6 đứng tên sử dụng các thửa đất 471, 461 và 455 với tổng diện tích 1.103 m²; việc cụ T6 đứng tên là do thời điểm đo đạc cụ Y đi công tác xa. Khi đo đạc năm 2021, phần đất ao thuộc các thửa này được tách thành các thửa 531, 532, 533 và một phần thửa 534; người sử dụng kê khai là các ông T, T1, T2 và L. Các thửa này do ông T san lấp; hồ sơ địa chính không có tài liệu thể hiện đã được chuyển mục đích sang đất ở, cũng không có văn bản thể hiện cụ Y và cụ T6 đồng ý cho các con đứng tên. Sự chênh lệch diện tích qua đo đạc năm 2025 là do sai số kỹ thuật.
Theo đo đạc năm 2021, thửa 471 được tách thành thửa 535 hiện cụ Y đang sử dụng, thửa 534 vợ chồng ông L sử dụng và phần đất bờ ao giáp đường; diện tích các thửa đều có sai số nhưng không làm thay đổi hiện trạng sử dụng.
Về phần đất cụ Y và cụ T6 nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Hoàng Văn T9 - bà T7, xác minh tại địa phương cho thấy khoảng năm 1984-1985 vợ chồng ông T9 chuyển nhượng cho hai cụ hai thửa đất liền kề phía Đông. Vợ chồng ông T9 sau đó đi miền N và đều đã chết. Theo đo đạc năm 2021, các thửa này thể hiện thành thửa 536 mang tên ông Hoàng Văn T1 - bà Đỗ Thị S và thửa 483 mang tên ông Hoàng Văn T - bà Tống Thị T4. Hồ sơ UBND xã không thể hiện việc chuyển nhượng giữa vợ chồng ông A - bà M với ông T1; tuy nhiên đại diện thôn, cụ Y và những người sinh sống liền kề đều xác định đây là đất vợ chồng cụ Y - cụ T6 mua của vợ chồng ông T9.
Về đất nông nghiệp, cụ Y không được giao ruộng; hộ cụ T6 gồm 2 nhân khẩu là cụ T6 và ông T2 được giao tổng diện tích 1.239 m² tại các xứ đồng T và B, hiện ông T2 đang sử dụng. Phần ao tại các thửa 461 và 455 sau khi trừ ruộng ngoài đồng, cụ T6 và ông T2 mỗi người được 204 m²; đo đạc năm 2025 còn 161,45 m² do gia đình mở thủy lợi.
Hạn mức đất ở tại địa phương là 360 m².
Tòa án đã định giá tài sản; kết quả thể hiện: đất ở tại thửa 534 và 483 giáp đường trục xã có giá 3.500.000 đồng/m²; đất ở tại thửa 535 và 536 phía trong có giá 900.000 đồng/m²; đất trồng cây lâu năm có giá 54.000 đồng/m²; đất lúa và đất thủy sản 50.000 đồng/m²; chi phí san lấp ao 200.000 đồng/m³. Tài sản trên đất thửa 535 của cụ Y có tổng giá trị 87.489.716 đồng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 11/2025/DS-ST ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên, Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn A về việc chia di sản thừa kế của cụ Hoàng Thị T6; xác định di sản gồm quyền sử dụng các thửa đất 531, 532, 533, 534, 535, 536 và 483 theo đo đạc năm 2021, cùng diện tích đất ao, đất trồng cây lâu năm và đất nông nghiệp đứng tên cụ T6 hoặc do vợ chồng cụ Y - cụ T6 tạo lập.
Giao ông Hoàng Văn A diện tích 133,36 m² tại thửa 531; giao ông Hoàng Văn T 330,7 m² tại thửa 483; ông Hoàng Văn T1 312,7 m² tại thửa 536; ông Hoàng Văn L 224,2 m² tại thửa 534; giao cụ Hoàng Văn Y 359,8 m² tại thửa 535 và toàn bộ công trình trên đất. Ông Hoàng Văn T2 được giao sử dụng 30,99 m² đất trồng cây lâu năm tại thửa 532 và 533, cùng 619,5 m² đất nông nghiệp của cụ T6 tại đồng B và Thập T10; phần diện tích ao 161,45 m² tại hai thửa trên được xác định không phải là di sản nên không đặt ra giải quyết.
Bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ thanh toán chênh lệch di sản giữa các đồng thừa kế theo từng khoản cụ thể; miễn án phí cho các đương sự trên 60 tuổi; buộc các ông Hoàng Văn T, Hoàng Văn T1, Hoàng Văn L, Hoàng Văn T2 và bà Hoàng Kim O chịu án phí dân sự sơ thẩm; và ghi nhận việc ông Hoàng Văn A tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xác minh, thẩm định, đo đạc và định giá tài sản.
Sau khi xét xử sơ thẩm, các đương sự có đơn kháng cáo như sau:
Trong các ngày 05/9/2025, 11/9/2025, 19/9/2025 và 22/9/2025, các đương sự gồm ông Hoàng Văn T1; ông Hoàng Văn T; ông Hoàng Văn T2; ông Hoàng Văn L; các bà Hoàng Thị T3, Hoàng Thị L1, Hoàng Kim O và bà Đỗ Thị S đã có đơn kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số: 11/2025/DS-ST ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên, với các nội dung yêu cầu: đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm; đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn A và công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Hoàng Văn A - bà Ngô Thị M và vợ chồng ông Hoàng Văn T1 - bà Đỗ Thị S.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Những người kháng cáo gồm các ông Hoàng Văn T, Hoàng Văn T1, Hoàng Văn L, Hoàng Văn T2 và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên nội dung kháng cáo; không đồng ý với quyết định chia các thửa đất số 483, 534, 536 và các thửa 531, 532, 533 trong Bản án sơ thẩm. Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thống nhất tự nguyện trả bằng tiền đối với kỷ phần ông A được hưởng và hỗ trợ thêm, tổng là 100.000.000 đồng để giữ lại hiện trạng nhà đất cho mọi người tiếp tục sử dụng; nếu tòa án chia thừa kế cho ông A bằng hiện vật thì những người liên quan gồm các bà T3, L1, O cũng yêu cầu hưởng bằng hiện vật.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T1 đề nghị giữ nguyên hiện trạng sử dụng đất cho những người đang sử dụng; xem xét việc ông A đã được bố mẹ tặng cho riêng từ những năm 1980 nhưng đã sang nhượng nên không có căn cứ cho rằng ông A không được hưởng tài sản của bố mẹ.
Nguyên đơn và người đại diện của nguyên đơn không chấp nhận nội dung kháng cáo và đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa phát biểu: về tố tụng, Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; về nội dung, đề nghị chấp nhận kháng cáo của các bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện để chia thừa kế đối với các di sản còn lại của cụ T6 trên thực tế.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng
Đơn kháng cáo của các bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được nộp trong thời hạn luật định, đủ điều kiện được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý, giải quyết vụ án đúng thẩm quyền và trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại giai đoạn phúc thẩm, các đương sự cung cấp thêm lời khai, tài liệu liên quan đến nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và công sức san lấp ao; đây là những tình tiết mới cần được xem xét khi giải quyết vụ án. Phạm vi xét xử phúc thẩm được thực hiện trong phạm vi kháng cáo và các vấn đề có liên quan trực tiếp đến việc giải quyết kháng cáo.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thời điểm mở thừa kế và phạm vi giải quyết vụ án
Quan hệ tranh chấp được xác định là chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Cụ Hoàng Thị T6 chết ngày 30/9/2021, không để lại di chúc, nên thời điểm mở thừa kế là ngày 30/9/2021. Các đương sự thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ T6, có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với di sản. Trên cơ sở yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn A, Hội đồng xét xử xác định các tài sản thuộc quyền của cụ T6 tại thời điểm mở thừa kế để làm căn cứ xác định phạm vi di sản và phương thức chia theo quy định của pháp luật.
[3] Đối với các thửa đất số 536, 483 và 534 đã được vợ chồng cụ Hoàng Văn Y - cụ Hoàng Thị T6 giao cho các con sử dụng
Tài liệu trong hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương thể hiện: trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng cụ Hoàng Văn Y - cụ Hoàng Thị T6 đã trực tiếp giao các thửa đất ở thuộc khối tài sản gia đình cho các con sử dụng khi lập gia đình.
Cụ thể, thửa đất số 536 được giao cho vợ chồng ông Hoàng Văn A - bà Ngô Thị M từ những năm 1980; thửa đất số 483 được giao cho vợ chồng ông Hoàng Văn T - bà Tống Thị T4; thửa đất số 534 được giao cho vợ chồng ông Hoàng Văn L - bà Vũ Thị H từ đầu những năm 1990. Việc giao đất được thực hiện trên thực địa, có xác định ranh giới, khuôn viên riêng, được các thành viên trong gia đình và người dân xung quanh biết, thừa nhận và không phát sinh tranh chấp.
Đối với thửa đất số 536, năm 2001, ông Hoàng Văn A và bà Ngô Thị M đã tự nguyện chuyển giao toàn bộ nhà, đất cho vợ chồng ông Hoàng Văn T1 - bà Đỗ Thị S; bà M là người trực tiếp nhận số tiền 15.000.000 đồng. Các tài liệu nhận tiền trong hồ sơ là căn cứ xác định ông A - bà M đã chấm dứt việc quản lý, sử dụng và từ bỏ quyền sử dụng thực tế đối với thửa đất này; sau đó, ông T1 quản lý, sử dụng đất công khai, liên tục cho đến nay.
Sau khi được giao đất, các hộ gia đình ông Hoàng Văn T1, ông Hoàng Văn T và ông Hoàng Văn L đều xây dựng nhà ở, công trình phụ và sử dụng ổn định trong thời gian dài; trong suốt quá trình này, cụ Hoàng Thị T6 khi còn sống không có ý kiến phản đối, không yêu cầu thu hồi hoặc điều chỉnh việc sử dụng đất, giữa các thành viên trong gia đình cũng không phát sinh tranh chấp đối với các thửa đất nêu trên, cụ Y cũng xác nhận đã cho.
Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù việc giao đất giữa vợ chồng cụ Hoàng Văn Y - cụ Hoàng Thị T6 và các con không được lập thành văn bản và không thực hiện thủ tục tặng cho theo quy định của pháp luật đất đai, nhưng căn cứ vào ý chí định đoạt thực tế của người có quyền sử dụng đất, thể hiện qua việc giao đất cụ thể, để các con sử dụng ổn định, lâu dài và được các thành viên trong gia đình thừa nhận, có đủ cơ sở xác định các thửa đất này không còn thuộc quyền quản lý, chi phối thực tế của cụ Hoàng Thị T6 trước thời điểm mở thừa kế.
Theo quy định tại Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015, di sản thừa kế là tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của người chết tại thời điểm mở thừa kế. Do đó, tại thời điểm cụ Hoàng Thị T6 chết ngày 30/9/2021, các thửa đất số 536, 483 và 534 không thuộc phạm vi di sản thừa kế của cụ Hoàng Thị T6; việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định các thửa đất này là tài sản chung của vợ chồng cụ Hoàng Văn Y - cụ Hoàng Thị T6 để đưa vào chia di sản là chưa phù hợp với bản chất sự việc và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
[4] Đối với thửa đất số 535 và tài sản gắn liền với đất
Thửa đất số 535, tờ bản đồ số 51, diện tích 359,8 m² cùng tài sản gắn liền với đất được xác định là tài sản chung của vợ chồng cụ Hoàng Văn Y - cụ Hoàng Thị T6. Theo đó, phần quyền sử dụng đất và giá trị tài sản tương ứng với phần của cụ Hoàng Thị T6 trong khối tài sản chung này thuộc quyền tài sản của cụ T6, và được xác định là di sản thừa kế.
Việc cụ Hoàng Văn Y và một số đồng thừa kế có nguyện vọng giữ nguyên hiện trạng thửa đất số 535 để làm nơi ở và thờ cúng chung của gia đình chỉ thể hiện ý chí về phương thức quản lý, sử dụng, không làm thay đổi tính chất pháp lý của phần tài sản thuộc quyền của cụ Hoàng Thị T6. Ý chí này không phải là căn cứ để loại trừ phần tài sản của cụ T6 ra khỏi phạm vi di sản.
Ông Hoàng Văn A khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Hoàng Thị T6 theo pháp luật. Yêu cầu này được xác định là yêu cầu chia toàn bộ di sản thuộc quyền của cụ T6, không phụ thuộc vào việc người khởi kiện có nêu cụ thể từng tài sản hay không. Do đó, phần quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tương ứng với phần của cụ Hoàng Thị T6 tại thửa đất số 535 vẫn thuộc phạm vi di sản phải được xác định và xem xét giải quyết.
Vì vậy, có đủ căn cứ pháp lý để xác định phần quyền sử dụng đất và giá trị tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 535 tương ứng với phần của cụ Hoàng Thị T6 là di sản thừa kế.
[5] Đối với các thửa đất ao số 531, 532, 533, diện tích đất bờ ao và việc đối trừ đất ruộng canh tác
Theo bản đồ 299/TTg và sổ mục kê tại xã Đ (nay là xã Đ), cụ Hoàng Thị T6 đứng tên sử dụng các thửa đất ao số 461 và 455 với tổng diện tích 410 m². Đây là căn cứ xác định nguồn gốc đất ao thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình cụ Hoàng Thị T6 trong thời kỳ hôn nhân.
Theo chính sách giao đất nông nghiệp tại địa phương, cụ Hoàng Thị T6 và ông Hoàng Văn T2 được giao 02 suất ruộng với tổng diện tích 1.239 m². Khi thực hiện cân đối giữa đất ao và đất ruộng, phần đất ao vượt hạn mức được quy đổi trừ ra ngoài đồng theo tỷ lệ 01 m² ruộng = 03 m² ao; sau đối trừ, diện tích đất ao còn lại tương ứng với mỗi suất là 204 m².
Kết quả đo đạc thực tế xác định diện tích đất ao còn lại tương ứng với suất của cụ T6 là 161,45 m²; phần chênh lệch so với diện tích trên sổ sách là do việc mở hệ thống thủy lợi chung, không làm thay đổi bản chất quyền sử dụng đất. Phần diện tích đất ao này hiện được thể hiện tại các thửa đất số 531, 532, 533 và một phần thửa 534.
Tại thời điểm mở thừa kế, các thửa đất ao nêu trên chưa hình thành khuôn viên sử dụng ổn định, chưa có công trình xây dựng kiên cố, ranh giới sử dụng riêng chưa được xác lập. Việc một số cá nhân đứng tên kê khai người sử dụng đất trong hồ sơ đo đạc năm 2021 chỉ là kết quả của việc tự kê khai, không có văn bản thể hiện ý chí chuyển quyền hoặc giao đất dứt điểm của cụ Hoàng Thị T6, nên không làm phát sinh quyền sử dụng đất hợp pháp.
Đối với diện tích đất bờ ao giáp đường giao thông 44,4 m², đây là phần đất gắn liền với khu vực ao, chưa được giao ổn định cho cá nhân nào; được xác định là tài sản chung của cụ Hoàng Văn Y và cụ Hoàng Thị T6, trong đó phần quyền sử dụng đất thuộc cụ T6 là 22,2 m².
Xét toàn bộ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, không có căn cứ xác định cụ Hoàng Thị T6 đã chuyển quyền hoặc giao ổn định, dứt điểm quyền sử dụng đất ao tại các thửa 531, 532, 533 và phần đất bờ ao cho bất kỳ cá nhân nào trước khi chết. Do đó, Hội đồng xét xử xác định diện tích đất ao 161,45 m² tương ứng với suất của cụ T6 cùng với 22,2 m² đất bờ ao là di sản thừa kế của cụ Hoàng Thị T6 theo quy định tại Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015, thuộc phạm vi xem xét giải quyết chia thừa kế.
[6] Đối với đất nông nghiệp (đất canh tác)
Theo chính sách giao đất nông nghiệp tại địa phương, hộ cụ Hoàng Thị T6 và ông Hoàng Văn T2 được giao 02 suất ruộng với tổng diện tích 1.239 m², trong đó 01 suất ruộng diện tích 619,5 m² thuộc quyền sử dụng của cụ Hoàng Thị T6.
Diện tích đất ruộng này hiện do ông Hoàng Văn T2 trực tiếp quản lý, sử dụng; tuy nhiên, việc sử dụng thực tế không làm phát sinh quyền sử dụng đất riêng, do không có căn cứ xác định cụ Hoàng Thị T6 đã chuyển nhượng, cho tặng hoặc giao ổn định, dứt điểm quyền sử dụng đất ruộng cho ông T2 hoặc cho người khác.
Do đó, có đủ căn cứ xác định diện tích 619,5 m² đất ruộng canh tác thuộc suất của cụ Hoàng Thị T6 là di sản thừa kế, thuộc phạm vi xem xét giải quyết yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật.
[7] Về phạm vi di sản thừa kế, quy định áp dụng của địa phương và phương thức chia di sản
Căn cứ các nhận định tại các mục trên, Hội đồng xét xử xác định di sản thừa kế của cụ Hoàng Thị T6 gồm: phần quyền sử dụng đất và giá trị tài sản gắn liền với đất tương ứng với phần của cụ T6 tại thửa đất số 535; 619,5 m² đất ruộng canh tác gắn với suất ruộng riêng của cụ T6; 161,45 m² đất ao thể hiện tại các thửa đất số 531, 532, 533 và một phần thửa 534; 22,2 m² đất bờ ao giáp đường giao thông, thuộc phần quyền sử dụng đất của cụ T6 trong khối tài sản chung với cụ Hoàng Văn Y. Di sản được chia theo pháp luật cho 09 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, mỗi người được hưởng một kỷ phần bằng nhau theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Khi xem xét phương thức chia di sản, Hội đồng xét xử căn cứ các quy định của địa phương về điều kiện tách thửa, diện tích tối thiểu và yêu cầu kỹ thuật đối với từng loại đất. Đối với đất trồng cây lâu năm và đất nuôi trồng thủy sản chưa được cho phép chuyển mục đích sử dụng, diện tích nhỏ, không bảo đảm điều kiện tách thửa để chia bằng hiện vật cho từng người; do đó, việc chia di sản theo phương thức giao cho người đang trực tiếp quản lý, sử dụng và thanh toán chênh lệch bằng tiền là phù hợp với quy định pháp luật và điều kiện thực tế tại địa phương.
Theo kết quả định giá trong hồ sơ vụ án, giá trị di sản được xác định như sau: Đất ruộng canh tác diện tích 619,5 m², đơn giá 50.000 đồng/m², trị giá 30.975.000 đồng. Đất ao diện tích 161,45 m², đơn giá 50.000 đồng/m², trị giá 8.072.500 đồng. Đất bờ ao diện tích 22,2 m², đơn giá đất trồng cây lâu năm 54.000 đồng/m², trị giá 1.198.800 đồng. Thửa đất số 535 có diện tích 359,8 m² đất ở, đơn giá 900.000 đồng/m², trị giá 323.820.000 đồng, cộng với giá trị tài sản gắn liền với đất là 87.489.716 đồng, tổng giá trị là 411.309.716 đồng, trong đó phần di sản của cụ Hoàng Thị T6 được xác định bằng 1/2, tương ứng 205.654.858 đồng. Tổng giá trị toàn bộ di sản thừa kế của cụ Hoàng Thị T6 là 245.901.158 đồng, làm tròn 245.901.000 đồng; chia thành 09 kỷ phần, mỗi kỷ phần trị giá 27.322.000 đồng (làm tròn).
Xét hiện trạng quản lý, sử dụng các thửa đất và tài sản thuộc di sản, Hội đồng xét xử thấy rằng các tài sản này đã được các thành viên trong gia đình quản lý, sử dụng ổn định, liên tục trong thời gian dài, phù hợp với sự phân chia thực tế mà vợ chồng cụ Hoàng Văn Y - cụ Hoàng Thị T6 đã thực hiện từ trước và không phát sinh tranh chấp. Tại phiên tòa, các bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía bị đơn đều tự nguyện đề nghị giữ nguyên hiện trạng sử dụng đất, không đồng ý chia di sản bằng hiện vật, đồng thời tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc thanh toán chênh lệch giá trị di sản để bảo đảm quyền lợi của các đồng thừa kế.
Đối với kỷ phần của ông Hoàng Văn A, các bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía bị đơn tự nguyện thống nhất thanh toán cho ông A tổng số tiền 100.000.000 đồng, bao gồm giá trị kỷ phần thừa kế mà ông A được hưởng theo pháp luật và một khoản tiền hỗ trợ thêm. Sự tự nguyện này là phù hợp thực tế, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, cần được Hội đồng xét xử ghi nhận.
[8] Về yêu cầu kháng cáo, ý kiến của Kiểm sát viên và căn cứ sửa bản án sơ thẩm
Xét yêu cầu kháng cáo của các đương sự, đối chiếu với nội dung bản án sơ thẩm và các nhận định đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy rằng giữa nguyên đơn và phía bị đơn vẫn tồn tại tranh chấp về phạm vi di sản và phương thức chia di sản. Bản án sơ thẩm đã chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn A và giải quyết chia di sản chủ yếu bằng hiện vật, trong khi chưa đánh giá đầy đủ ý chí định đoạt thực tế của vợ chồng cụ Hoàng Văn Y - cụ Hoàng Thị T6 đối với các thửa đất đã được giao ổn định cho các con sử dụng từ nhiều năm trước, cũng như điều kiện tách thửa và tính khả thi trong việc thi hành án.
Tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định các thửa đất số 536, 483 và 534 đã được giao ổn định cho các con sử dụng trước thời điểm mở thừa kế; do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm đưa các thửa đất này vào chia di sản là chưa phù hợp. Đối với khối di sản còn lại của cụ Hoàng Thị T6 đã được xác định tại mục [7], tranh chấp giữa các đương sự chủ yếu tập trung vào phương thức chia, không phải ở việc xác định giá trị di sản.
Mặt khác, tại phiên tòa phúc thẩm, các bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía bị đơn thống nhất đề nghị không chia di sản bằng hiện vật, giữ nguyên hiện trạng sử dụng đất và tự nguyện thỏa thuận thanh toán giá trị kỷ phần, đồng thời hỗ trợ thêm cho ông Hoàng Văn A bằng tiền. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà T3, bà L1 và bà O cũng trình bày rõ: nếu tiếp tục chia cho ông A bằng hiện vật như án sơ thẩm thì các đương sự này cũng yêu cầu được chia bằng hiện vật theo kỷ phần của mình, điều này sẽ dẫn đến việc chia nhỏ các thửa đất, không bảo đảm điều kiện tách thửa và gây khó khăn cho thi hành án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân đề nghị chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng xác định lại phạm vi di sản và phương thức chia di sản, ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự.
Hội đồng xét xử thấy rằng yêu cầu kháng cáo và ý kiến của Kiểm sát viên là có căn cứ; do đó, cần chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm.
[9] Về án phí và chi phí tố tụng:
Do kháng cáo của các bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được chấp nhận, bản án dân sự sơ thẩm bị sửa, nên các bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Đối với án phí dân sự sơ thẩm, do nội dung bản án bị sửa theo hướng xác định lại phạm vi di sản và phương thức chia di sản, nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm được xác định lại tương ứng với phần nghĩa vụ tài sản mà mỗi đương sự phải chịu, theo quy định của pháp luật.
Về chi phí xác minh, thẩm định, đo đạc và định giá tài sản: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Hoàng Văn A chịu toàn bộ chi phí; ông A đã nộp xong, nên không đặt ra việc giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 609, Điều 612, Điều 613, Điều 649, Điều 651, Điều 660, Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận kháng cáo của các ông Hoàng Văn T, Hoàng Văn T1, Hoàng Văn L, Hoàng Văn T2 và các bà Hoàng Thị T3, Hoàng Thị L1, Hoàng Kim O, bà Đỗ Thị S; sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2025/DS-ST ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên.
- Xác định di sản thừa kế của cụ Hoàng Thị T6 gồm: phần quyền sử dụng đất và giá trị tài sản gắn liền với đất tương ứng với phần của cụ Hoàng Thị T6 trong thửa đất số 535, tờ bản đồ số 51, diện tích 359,8 m²; 619,5 m² đất ruộng canh tác; 161,45 m² đất ao thể hiện tại các thửa đất số 531, 532, 533 và một phần thửa 534; và 22,2 m² đất bờ ao giáp đường giao thông; tất cả đều thuộc thôn M, xã Đ, tỉnh Hưng Yên.
- Tổng giá trị di sản thừa kế của cụ Hoàng Thị T6 là 245.901.000 đồng. Di sản được chia theo pháp luật cho 09 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, giá trị mỗi kỷ phần là 27.322.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc đưa vào khối di sản thừa kế các thửa đất số 536, 483 và 534, tờ bản đồ số 51, đều tại thôn M, xã Đ, tỉnh Hưng Yên, tiếp tục giao cho các cá nhân đang trực tiếp quản lý, sử dụng ổn định, cụ thể:
- - Thửa đất số 534 giao cho ông Hoàng Văn L quản lý, sử dụng (theo sơ đồ giao đất số 1 kèm theo bản án);
- - Thửa đất số 483 giao cho ông Hoàng Văn T quản lý, sử dụng (theo sơ đồ giao đất số 3 kèm theo bản án);
- - Thửa đất số 536 giao cho ông Hoàng Văn T1 quản lý, sử dụng (theo sơ đồ giao đất số 4 kèm theo bản án).
- Chấp nhận phương thức chia di sản theo hiện trạng quản lý, sử dụng:
- - Giao 619,5 m² đất ruộng canh tác cho ông Hoàng Văn T2 tiếp tục quản lý, sử dụng;
- - Giao 161,45 m² đất ao và 22,2 m² đất bờ ao cho ông Hoàng Văn T1 và ông Hoàng Văn T2 quản lý, sử dụng chung (theo sơ đồ giao đất số 1 kèm theo bản án);
- - Giao thửa đất số 535, tờ bản đồ số 51, diện tích 359,8 m² cùng toàn bộ tài sản gắn liền với đất cho cụ Hoàng Văn Y tiếp tục quản lý, sử dụng (theo sơ đồ giao đất số 2 kèm theo bản án).
- Về nghĩa vụ thanh toán giá trị kỷ phần:
Chấp nhận sự tự nguyện của 07 người con thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Hoàng Thị T6, gồm các ông Hoàng Văn T, Hoàng Văn T1, Hoàng Văn L, Hoàng Văn T2 và các bà Hoàng Thị T3, Hoàng Thị L1, Hoàng Kim O, liền đời thanh toán cho ông Hoàng Văn A số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), là tiền giá trị kỷ phần thừa kế và hỗ trợ thêm, bao gồm cả phần nghĩa vụ thanh toán thuộc kỷ phần thừa kế của cụ Hoàng Văn Y.
Trong quan hệ nội bộ giữa các đồng thừa kế, mỗi người trong số 07 người nêu trên chịu trách nhiệm tương ứng phần nghĩa vụ bằng nhau là 14.286.000 đồng/người.
Kể từ ngày bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật và ông Hoàng Văn A có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì còn phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian chậm trả.
- Về án phí:
- - Án phí dân sự sơ thẩm: Cụ Hoàng Văn Y, ông Hoàng Văn A, bà Hoàng Thị T3 và bà Hoàng Thị L1 là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
- Các ông Hoàng Văn T, Hoàng Văn T1, Hoàng Văn L, Hoàng Văn T2 và bà Hoàng Kim O mỗi người phải chịu 1.366.100 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Án phí dân sự phúc thẩm: Các ông Hoàng Văn T, Hoàng Văn T1, Hoàng Văn L, Hoàng Văn T2 và các bà Hoàng Thị T3, Hoàng Thị L1, Hoàng Kim O, bà Đỗ Thị S không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; hoàn trả cho các ông T, T1, L, T2 và bà Kim O mỗi người 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo các biên lai số 0001724, 0001729, 0001727, 0001723 ngày 06/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Phượng |
SƠ ĐỒ GIAO ĐẤT 1
(Kèm theo Bản án số 05/2026/DS-PT ngày 12/01/2026 của TAND tỉnh Hưng Yên)
Người sử dụng: Hoàng Văn T1 – Hoàng Văn T2; Hoàng Văn L
- - Giao ông Hoàng Văn L thửa 534, diện tích 224,2m². Tại các vị trí có kí hiệu từ 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 1.
- - Giao ông Hoàng Văn T1 và Hoàng Văn T2 các thửa 531, 532, 533, diện tích tương ứng 133,36m², 96,74m², 95,7m². Tại các vị trí có kí hiệu từ 10, 9, 8, 7, 23, 22, 21, 20, 29, 18, 17, 16, 15, 14, 13, 12, 11, 10.
SƠ ĐỒ GIAO ĐẤT 2
(Kèm theo Bản án số 05/2026/DS-PT ngày 12/01/2026 của TAND tỉnh Hưng Yên)
Người sử dụng: Hoàng Văn Y
- - Giao cụ Hoàng Văn Y thửa 535, diện tích 359,8m². Tại các vị trí có kí hiệu từ 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 23.
SƠ ĐỒ GIAO ĐẤT 3
(Kèm theo Bản án số 05/2026/DS-PT ngày 12/01/2026 của TAND tỉnh Hưng Yên)
Người sử dụng: Hoàng Văn T
SƠ ĐỒ GIAO ĐẤT 4
(Kèm theo Bản án số 05/2026/DS-PT ngày 12/01/2026 của TAND tỉnh Hưng Yên)
Người sử dụng: Hoàng Văn T1
- - Giao ông Hoàng Văn T thửa 483, diện tích 330,7m². Tại các vị trí có kí hiệu từ 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43.
- - Giao ông Hoàng Văn T1 thửa 536, diện tích 312,7m². Tại các vị trí có kí hiệu từ 36, 57, 56, 71, 70, 69, 68, 67 ,66, 65, 64, 63, 62, 61, 60, 59, 58, 36.
Bản án số 05/2026/DS-PT ngày 12/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 05/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của các đương sự sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2025/DS-ST ngày 29/8/2025
