|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Bản án số: 05/2025/HSCTN-PT | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Ngày: 24/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiệp
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Duy
Ông Thái Văn Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Tiên là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà:
Bà Hồ Kim Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 34/2024/TLPT-HSCTN ngày 29 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Võ Thanh B cùng các bị cáo khác do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 86/2024/HS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Bị cáo có kháng cáo:
- Võ Thanh B, sinh ngày 17 tháng 3 năm 2004 tại tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Khu phố G, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn T, sinh năm 1974 và bà Trần Thị T1, sinh năm 1976; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 28/12/2021, bị Chủ tịch UBND phường B, thị xã H xử phạt vi phạm hành chính 375.000 đồng về hành vi đánh nhau, ngày 29/12/2021 chấp hành xong; có mặt.
- Đoàn Đức T2, sinh ngày 03 tháng 8 năm 2004 tại tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Khu phố Đ, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Đức T3, sinh năm 1975 và bà Đỗ Thị Mỹ T4, sinh năm 1981; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; có mặt.
- Trần Thế T5, sinh ngày 23 tháng 10 năm 2003 tại tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thế K, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị Hữu C, sinh năm 1981; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; có mặt.
- Nguyễn Đoàn D, sinh ngày 20 tháng 12 năm 1999 tại tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Khu phố T, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hồng C1, sinh năm 1973 và bà Lê Thị Hồng T6, sinh năm 1980; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 01/3/2021, bị Công an thị xã H xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 01/3/2021 chấp hành xong; có mặt.
- Nguyễn Văn L, sinh ngày 23 tháng 11 năm 2001 tại tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Khu phố G, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1975; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 15/3/2021, bị Chủ tịch UBND phường B, thị xã H xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi đánh nhau, ngày 19/3/2021 chấp hành xong; có mặt.
- Nguyễn Thanh T14, sinh ngày 01 tháng 4 năm 2004 tại tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Khu phố Đ, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Nông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành L1, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị T7, sinh năm 1971; vợ: Nguyễn Trần Bảo T8, sinh năm 2003, con: Có 01 người sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 13/9/2022, bị Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội Gây rối trật tự công cộng theo Bản án số 104/2022/HS-ST ngày 13/9/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn (được coi là không có án tích, đang chấp hành Bản án tại phường H, thị xã H); có mặt.
Ngoài ra còn có 05 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị. Bị cáo Hồ Xuân T9 có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng đã rút kháng cáo trước khi mở phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn trước đó tại quán K1, rạng sáng ngày 20/12/2023, Đinh Hoàn V rủ Lê Văn T10 tìm đánh Hồ Xuân T9, Nguyễn Đoàn D, Trần Thế T5, Dương Quốc P, Đoàn Đức T2, Nguyễn Thanh T14, Võ Thanh B và Nguyễn Văn L.
Khoảng 03 giờ sáng cùng ngày, từ nhà trọ thuộc khu phố D, phường T, thị xã H, T10 điều khiển xe mô tô biển số 77C1-439.33 chở V mang theo 02 phảng phát bờ và 01 bình xịt hơi cay di chuyển trên các tuyến đường Q, Chu Văn A, Nguyễn Chí T11 thuộc phường T, thị xã H để tìm đánh nhóm của Hồ Xuân T9.
Khi đi đến đoạn đường N thì T10 và V phát hiện nhóm của Hồ Xuân T9 đang đứng tại cầu G. Thấy T10 và V mỗi người cầm 01 phảng phát bờ tiến đến thì Võ Thanh B điều khiển xe mô tô 77C1-816.97 lao vào liền bị V, T10 vung phảng chém nhưng không trúng. B xuống xe, nhặt 01 cây gỗ (hình trụ, dài khoảng 1,5m) ở lề đường cùng những người trong nhóm tiếp tục xông vào thì bị V xịt hơi cay rồi V cùng T10 chạy trốn. Sau khi hết bị hơi cay, T9 dắt xe mô tô biển số 77C1-439.33 của V đẩy xuống ruộng phía Nam đường Nguyễn Chí T11.
Với mục đích tìm đánh V và T10, Đoàn Đức T2 gọi điện rủ thêm Lê Tấn Đ, Võ Thanh B gọi điện rủ Trần Phi Q rồi cả nhóm di chuyển xuống đoạn đường C chờ Đ. Đ điều khiển xe mô tô 77C1-867.37 mang theo 01 bao cần câu cá bên trong chứa 03 cây phảng phát bờ, 01 cây kiếm tự chế đến gặp nhóm của Hồ Xuân T9. Tại đây, Đ bỏ bao cần câu xuống thì T5, B, Đ mỗi người cầm 01 cây phảng, T9 cầm 01 cây kiếm tự chế. Lúc này, cả nhóm thống nhất quay lại cầu G tìm đánh V và T10. Khi đi, P điều khiển xe 77K1-229.74 chở T9 cầm kiếm tự chế, D điều khiển xe 77D1-511.16 chở T2, B điều khiển xe 77C1-816.97 chở T14 và để 01 phảng phát bờ trên pô xe, L điều khiển xe mô tô Exciter màu đỏ chở T5 cầm 01 phảng phát bờ, riêng Đ cầm 01 phảng phát bờ đứng chặn đầu tại đường C.Trên đường đi thì T2 xuống xe nhặt 01 cây gỗ (hình trụ, dài khoảng 2m) làm hung khí, P rút 01 cây gỗ nhưng bị mục, gãy nên bỏ lại. Cả nhóm đi đến cầu G nhưng không tìm thấy V và T10 nên quay lại chỗ Đ đang chờ. Khi di chuyển đến đoạn đường N thì gặp 01 thanh niên không rõ nhân thân, P và Tin tưởng là V nên chặn lại dùng tay đánh vào vùng mặt người này nhiều lần. Sau đó, cả nhóm cùng đến gặp Đ và thống nhất di chuyển đến quán N thuộc khu phố E, phường T, thị xã H để đón Q rồi tiếp tục đi tìm đánh V, T10. Trên đường đi, T14 qua đi cùng xe 77K1-229.74 với P, T2 điều khiển xe 77C1-867.37 của Đ, T9 qua đi cùng xe 77D1-511.16 với D, L điều khiển xe Exciter màu đỏ chở Tin, Tin đưa cây phảng đang cầm cho Đ và Đ qua đi cùng xe 77C1-816.97 với B, Quyền. Khi đang đi, B, Đ và Q tách nhóm để đi đến nhà trọ ở khu phố D, phường T, thị xã H đánh V. Đến nơi, B và Đ cầm phảng đi vào nhà trọ gặp Chế Minh L2 (sinh năm 2005, ở khu phố C, phường T, thị xã H), tưởng L2 là V nên B dùng ghế nhựa có có sẵn tại nhà trọ và Đ dùng tay đánh nhiều lần vào vùng đầu của L2. Khi phát hiện đã đánh nhầm người thì cả ba lên xe mô tô đi tìm nhóm Hồ Xuân T9.
Tại ngã ba đường C giao nhau với đường 3 Tháng 2, những người còn lại trong nhóm Hồ Xuân T9 đứng chờ B, Q và Đ. Lúc này, có Nguyễn Thanh T12 (sinh ngày 13/4/2002, ở khu phố A, phường H, thị xã H) điều khiển xe mô tô chạy đến, Tin cầm 01 cây phảng giơ lên tư thế chém và hỏi: “Phải thằng đây không?” thì T2 nói: “Không phải”, nên T5 để cho T12 đi. Cả nhóm tiếp tục di chuyển lên cầu G nhưng không tìm thấy V và T10 nên đứng chờ. Khoảng 10 phút sau, B chở Q, Đ đến. Sau đó, cả nhóm phát hiện có Công an phường T đang tuần tra nên bỏ chạy và đưa lại các hung khi cho Đ.
Vụ việc nêu trên đã gây hoang mang, ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của người dân, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, nên chính quyền khu phố G, phường T, thị xã H kiến nghị các cơ quan chức năng điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật, nhằm ổn định tình hình an ninh trật tự.
Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã tạm giữ, sau đó trả lại 05 xe mô tô các loại cho chủ sở hữu hợp pháp; hiện còn tạm giữ 04 phảng phát bờ, 01 cây kiếm tự chế, 01 đĩa CD (đặc điểm như biên bản tạm giữ có tại hồ sơ vụ án).
Đối với 02 khúc cây gỗ của Võ Thanh B và Đào Đức T13; 01 phảng phát bờ của Lê Văn T10, 01 bình xịt hơi cay của Đinh Hoàn V, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã truy tìm nhưng không thu giữ được.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 86/2024/HS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn đã quyết định:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Võ Thanh B, Đoàn Đức T2, Trần Thế T5, Nguyễn Đoàn D, Nguyễn Văn L;
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 56; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 1 Điều 7 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đối với bị cáo Nguyễn Thanh T14;
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Võ Thanh B, Đoàn Đức T2, Trần Thế T5, Nguyễn Đoàn D, Nguyễn Văn L, Nguyễn Thanh T14 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
2. Về hình phạt:
- - Xử phạt bị cáo Võ Thanh B 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- - Xử phạt bị cáo Đoàn Đức T2 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- - Xử phạt bị cáo Trần Thế T5 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Đoàn D 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T14 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng tại Bản án hình sự sơ thẩm số 104/2022/HS-ST ngày 13/9/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt đối với các bị cáo Đinh Hoàn V, Lê Văn T10, Hồ Xuân T9, Lê Tấn Đ, Dương Quốc P, Trần Phi Q; quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Các bị cáo Hồ Xuân T9, Võ Thanh B, Đoàn Đức T2, Trần Thế T5, Nguyễn Đoàn D, Nguyễn Văn L, Nguyễn Thanh T14 kháng cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 86/2024/HS-ST ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn với cùng nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Trước khi mở phiên tòa, bị cáo Hồ Xuân T9 có đơn rút kháng cáo và đã đình chỉ xét xử phúc thẩm theo Quyết định số:17/2024/HSCTNPT-QĐ ngày 30/10/2024.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Các bị cáo Võ Thanh B, Đoàn Đức T2, Trần Thế T5 và Nguyễn Thanh T14 tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo; các bị cáo Nguyễn Đoàn D, Nguyễn Văn L giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu quan điểm và đề nghị: Áp dụng Điều 342, Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của các bị cáo Võ Thanh B, Đoàn Đức T2, Trần Thế T5 và Nguyễn Thanh T14. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn L. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 65 Bộ luật hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đoàn D, giữ nguyên mức hình phạt 24 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, sửa bản án hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Kháng cáo của các bị cáo Võ Thanh B, Đoàn Đức T2, Trần Thế T5, Nguyễn Đoàn D, Nguyễn Văn L và Nguyễn Thanh T14 là trong thời hạn luật định, nên HĐXX xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Võ Thanh B, Đoàn Đức T2, Trần Thế T5 và Nguyễn Thanh T14 trình bày tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo. Căn cứ Điều 342, Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của các bị cáo Võ Thanh B, Đoàn Đức T2, Trần Thế T5 và Nguyễn Thanh T14.
[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Đoàn D và bị cáo Nguyễn Văn L, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và phúc thẩm bị cáo Nguyễn Đoàn D và Nguyễn Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thể hiện:
Rạng sáng ngày 20/12/2023, Đinh Hoàn V và Lê Văn T10 điều khiển xe mô tô mang theo hung khí nguy hiểm gồm 02 cây phảng phát bờ và 01 bình xịt hơi cay di chuyển qua nhiều tuyến đường địa bàn phường T, thị xã H, để tìm đánh nhóm Hồ Xuân T9. Khi đi đến đoạn đường N thì T10 và V phát hiện nhóm của T9 đang đứng tại cầu G. Khi thấy T10 và Vũ tiến đến thì Võ Thanh B(nhóm của T9) điều khiển xe mô tô lao vào liền bị V, T10 vung phảng chém nhưng không trúng. B xuống xe, nhặt 01 cây gỗ (hình trụ, dài khoảng 1,5m) ở lề đường cùng những người trong nhóm tiếp tục xông vào thì bị V xịt hơi cay rồi cùng T10 chạy trốn.
Nhóm Hồ Xuân T9 gồm: Hồ Xuân T9, Võ Thanh B, Đoàn Đức T2, Lê Tấn Đ, Trần Thế T5, Dương Quốc P, Nguyễn Đoàn D, Nguyễn Văn L, Trần Phi Q, Nguyễn Thanh T14, mang theo hung khí nguy hiểm là 03 cây phảng phát bờ và 01 cây kiếm tự chế cũng di chuyển bằng xe mô tô qua nhiều tuyến đường khác nhau ở phường T để tìm đánh lại Đinh Hoàn V và Lê Văn T10. Trong khi tìm V và T10 bị cáo D và bị cáo L lái xe mô tô, không mang theo hung khí.
Cho nên, việc các bị cáo tụ tập, đi nhiều xe mô tô mang theo hung khí chạy xe dọc các tuyến phố phường T, thị xã H để tìm đánh nhau. Sự việc xảy ra tại khu vực đông dân cư, gây rối trật tự công cộng ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương. Cho nên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Võ Thanh B, Đoàn Đức T2, Trần Thế T5, Nguyễn Đoàn D, Nguyễn Văn Lưng Nguyễn Thanh T14 về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.2] Về mức hình phạt:
Các bị cáo bị xét xử về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 02 năm đến 7 năm tù. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá, nhận định về tính chất, hành vi phạm tội cũng như về nhân thân và áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, nguyên nhân dẫn đến việc phạm tội là do bị cáo V và T10 tìm đánh nhóm bị cáo D và L trước rồi bỏ trốn, nhóm bị cáo D và L tìm đánh lại. Trong quá trình tìm V và T10, bị cáo D và bị cáo L chỉ lái xe, không mang theo hung khí. Khi phát hiện có Công an phường Tam Quan tuần tra nên cả nhóm bỏ chạy giải tán. Với vai trò nêu trên, cấp sơ thẩm xử phạt Nguyễn Đoàn D, Nguyễn Văn L mỗi bị cáo 24 tháng tù là có phần nghiêm khắc đối với bị cáo.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Đoàn D, cung cấp Quyết định về việc thực hiện cho quân nhân xuất ngũ số: 05/QĐ BTM ngày 02/01/2020 của Tham mưu trưởng Binh chủng hóa học, Giấy chứng nhận được hưởng chính sách như thương binh, Huân chương kháng chiến hạng nhất(kèm theo bản khai lý lịch trích ngang, có xác nhận của UBND phường H) thể hiện bị cáo có thời gian tham gia trong quân đội, có ông ngoại được hưởng chính sách như thương binh, bà ngoại có công với cách mạng. Bị cáo Nguyễn Văn L cung cấp đơn xác nhận hoàn cảnh khó khăn được UBND phường H xác nhận. Cho nên, đây là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo D và bị cáo L.
Với nhận định, phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo D và bị cáo L phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể, nên áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đoàn D và bị cáo Nguyễn Văn L.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đoàn D, Nguyễn Văn L được chấp nhận; các bị cáo Võ Thanh B, Đoàn Đức T2, Trần Thế T5, Nguyễn Thanh T14 rút đơn kháng cáo tại phiên tòa nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm quy định tại khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14.
[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có phần chưa phù hợp với nhận định của HĐXX, nên chấp nhận một phần.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bịkháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 342, 348 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 và khoản 2 Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Đoàn D, Nguyễn Văn L;
Căn cứ khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Võ Thanh B, Đoàn Đức T2, Trần Thế T5 và Nguyễn Thanh T14.
2. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đoàn D, Nguyễn Văn L, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 86/2024/HS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn.
2.1 Xử phạt bị cáo Nguyễn Đoàn D 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2.2 Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
3. Án phí: Các bị cáo Nguyễn Đoàn D, Nguyễn Văn L, Võ Thanh B, Đoàn Đức T2, Trần Thế T5 và Nguyễn Thanh T14 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Nguyễn Văn Hiệp |
Bản án số 05/2025/HSCTN-PT ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 05/2025/HSCTN-PT
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Gây rối
