|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ QUANG TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 05/2025/HS-ST Ngày 18-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ QUANG, TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Đạt.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Thành Hà, ông Phạm Quốc Bảo.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Việt Thắng - Thẩm phán Tòa án nhân dân huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Ngô Đức Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2024/TLST-HS ngày 24/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HS ngày 24/01/2025 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 01/TB-TA, ngày 03/02/2024, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh ngày: 19/10/2000 tại xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn H, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1978 và bà Trần Thị T1, sinh năm 1978; có vợ Nghiêm Thị Ngọc L, sinh năm 1999; con chưa có; tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: Ngày 19/3/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Trộm cắp tài sản”, tại Bản án số 01/2018/HS-ST; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/5/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an H7; có mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Anh T2, sinh ngày: 14/6/2000 tại xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc T3, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: Ngày 26/7/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tại Bản án số 15/2018/HS-ST; bị bắt tạm giam từ ngày 16/9/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an H7; có mặt.
- Họ và tên: Phạm Quốc T4, sinh ngày: 15/12/2000 tại xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn D, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1957 và bà Dương Thị T5, sinh năm 1962; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an H7; có mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Văn G, sinh ngày: 01/10/1982 tại xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn K, xã Q, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T6, sinh năm 1962 và bà Cao Thị B, sinh năm 1961; có vợ Nguyễn Thị C, sinh năm 1982 và 04 đứa con, lớn nhất 20 tuổi, nhỏ nhất 01 tuổi; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an H7; có mặt.
- Họ và tên: Dương Quang Đ1, sinh ngày: 26/6/1993 tại xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Xuân H1 và bà Nguyễn Thị H2 (đều đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: Ngày 01/11/2022 bị Công an huyện V xử phạt 3.500.000đ về hành vi hủy hoại nguồn lợi thủy sản, theo Quyết định số 37/QĐ-XPHC; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an H7; có mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Thái Q1, sinh ngày: 01/10/1986 tại thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1951 và bà Trần Thị B1, sinh năm 1961; có vợ Nguyễn Thị G1, sinh năm 1988 và 04 đứa con, lớn nhất 15 tuổi, nhỏ nhất 08 tuổi; tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: Ngày 20/11/2009 bị Công an huyện V xử phạt 100.000đ về hành vi gây rối trật tự công cộng, theo Quyết định số 17/QĐ-VPHC; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an H7; có mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Văn N, sinh ngày: 02/4/1985 tại xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn D, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T7, sinh năm 1942 và bà Dương Thị K, sinh năm 1950; có vợ Nguyễn Thị D, sinh năm 1986 và 02 đứa con, lớn 15 tuổi, nhỏ 13 tuổi; tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: Ngày 01/11/2022 bị Công an huyện V xử phạt 3.000.000đ về hành vi hủy hoại nguồn lợi thủy sản, theo Quyết định số 37/QĐ-XPHC; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/5/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an H7; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo:
- + Bà Nguyễn Thị N1 - Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H; là người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn N; có mặt.
- + Ông Lê Văn Q2 - Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H; là người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thái Q1; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Phạm Thành Đ2, sinh năm 2002; địa chỉ: Thôn D, xã S, huyện H tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.
- +Em Phạm Trần Trung H3, sinh ngày 22/11/2007; địa chỉ: Thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.
- Người đại diện hợp pháp của em H3: Bà Trần Thị N2, sinh năm 1972 (là mẹ của em H3); địa chỉ: Thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.
- + Bà Trần Thị T1, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn H, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.
- + Bà Lê Thị Bích H4, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn V, xã Đ, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.
- + Bà Phạm Thị K1, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn D, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.
- + Ông Dương Văn L1, sinh năm 1961; địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn H, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 07/5/2024, tổ công tác 238 Công an huyện V thực hiện kế hoạch phối hợp lực lượng tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm, trật tự, an toàn giao thôn, trật tự công cộng và các loại tội phạm, vi phạm pháp luật khác trên các tuyến giao thông tại khu vực thị trấn V. Quá trình tuần tra lực lượng chức năng phát hiện Dương Quang Đ1, sinh năm 1993, trú tại thôn T, xã Q, huyện V điều khiển xe mô tô không đội mũ bảo hiểm nên đã tiến hành kiểm tra hành chính, đồng thời tiến hành test nhanh ma túy đối với Đ1 thì kết quả dương tính với chất ma túy Methamphetamine. Tổ công tác lập biên bản ghi nhận nội dung sự việc và đưa Đ1 về trụ sở Công an huyện V để tiến hành điều tra làm rõ. Quá trình làm việc với Cơ quan Công an Dương Quang Đ1 đã tự thú về việc vào trưa ngày 07/5/2024 Đ1 đã cùng với Nguyễn Văn G, sinh năm 1982, trú tại thôn K, xã Q, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh và Nguyễn Thái Q1, sinh năm 1986, trú tại tổ dân phố B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của Nguyễn Thái Q1. Từ lời khai của Đ1, quá trình điều tra sau đó, Cơ quan điều tra Công an huyện V đã chứng minh được hành vi phạm tội của Dương Quang Đ1 và của các bị cáo khác như sau:
Khoảng 18 giờ, ngày 06/5/2024 tại khu vực lòng hồ N, thuộc huyện V, Nguyễn Văn N, sinh năm 1985, trú tại thôn D, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh biết Phạm Quốc T4, sinh năm 2000, trú tại thôn D, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh có ma túy (loại Hồng phiến) và cần Kỳ Nhông, N trao đổi với Nguyễn Văn G với nội dung: “Thằng T4 hắn cần ít Kỳ Nhông, anh rảnh rỗi không ta đi bắt ít con về đổi cho T4 lấy ma túy sử dụng”, G đồng ý và cả hai đi bắt Kỳ Nhông tại khu vực hồ N. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, sau khi bắt được khoảng 03kg K. N sử dụng điện thoại nhãn hiệu Nokia, màu xanh, gắn thẻ sim số 0964.000.121 gọi cho T4 vào số điện thoại có đuôi 457 với nội dung “có ít Kỳ Nhông đây sang đổi cho ít viên hồng”, T4 nói cứ cầm về, N nói mai sẽ nhờ người đưa sang, đổi được bao nhiêu thì đổi. Sau đó, N đưa điện thoại của mình cho G để tiện lạc và nói với G mang Kỳ N3 sang cho T4 để đổi lấy ma túy về sử dụng, còn N tiếp tục ở lại lòng hồ đánh cá. Giá trị của khoảng 03kg Kỳ Nhông này theo G và N là 500.000đ.
Sau đó vào khoảng 06 giờ ngày 07/5/2024, Nguyễn Văn G rủ Đ1 cùng sang huyện H, tỉnh Hà Tĩnh để đưa Kỳ N3 cho Phạm Quốc T4, thì Đ1 đồng ý, G không nói cho Đ1 biết đưa Kỳ N3 cho T4 với mục đích gì. Sau đó, G điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter mang biển kiểm soát 38N3 - 5180 (xe của G) chở Đ1 và mang khoảng 03kg Kỳ Nhông đi theo đường mòn Hồ Chí Minh từ huyện V để sang huyện H để đưa cho T4. Khi G và Đ1 đi đến đoạn đường H, thuộc địa phận xã S, huyện H (cách ngã 4 vòng xuyến thị trấn Phố Châu, huyện H khoảng 400m về phía Bắc) thì gặp Phạm Quốc T4 và bạn của T4 (là Phạm Thành Đ2, sinh năm 2002, trú tại thôn D, xã S, huyện H) đang chờ sẵn bên đường. Như đã thỏa thuận từ trước, T4 cầm lấy túi chứa Kỳ N3 từ G rồi nói với G và Đ1 đứng chờ, còn T4 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave biển kiểm soát 38H1 - 229.81 (xe thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị Phạm Thị K1, sinh năm 1976, trú tại thôn D, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, là chị con bác của T4) cùng Đ2 đem theo số Kỳ N3 đến nhà Nguyễn Văn T, sinh năm 2000, trú tại thôn H, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Khi vào nhà T thì Đ2 ngồi chơi điện thoại ở phòng khách, còn T4 đưa số Kỳ N3 cho T và nói “quá bữa hứa đưa cho bạn”, nhưng thực chất là cả T4 và T đều hiểu là T4 đưa Kỳ N3 để đổi lấy ma túy từ T. T cùng cùng T4 đi vào phòng của T gặp Nguyễn Anh T2, sinh năm 2000, trú tại thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, T nói với T2 “bạn đưa cho mình ít cây để đưa cho T4” (ý của T là nói T2 đưa cho T4 ít ma túy để T trả cho T4 vì T4 đã đưa Kỳ N3 đến). Nghe T nói vậy, T2 lấy từ tong túi quần ra 20 viên ma túy (loại hồng phiến) đặt ở giường, T4 nói với T “Nhiều quá mình lấy mấy cái để hồi nị về đi làm thôi”. Sau đó T2 bóc 10 viên ma túy hồng phiến vào túi ni lông màu trắng rồi lấy cuộn băng dán màu đen ở tủ để dán túi ni lông lại đưa cho T4, 10 viên ma túy còn lại thì T cầm 05 viên vào phòng sử dụng một mình, còn lại 05 viên Toại cất trong túi quần trước bên trái. Sau đó T sử dụng 04 viên, còn 01 viên Thương tiếp tục cất giữ, sau khi T đi ra khỏi phòng thì lúc này Đ2 đang chơi điện thoại ở ngoài và đi ngang phòng T thấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy và một ít ma túy còn sót lại nên đã sử dụng (quá trình Đ2 sử dụng ma túy không ai biết). Sau khi nhận ma túy xong, T4 một mình cầm 10 viên ma túy (Hồng phiến) ra gặp G và giao đưa cho G, rồi tiếp tục quay lại nhà T chơi một lúc sau đó T4 và Đ2 quay về, T nhờ T4 đưa Kỳ N3 về làm giúp, lúc nào xong thì T sẽ đến nhà T4 lấy.
Sau đó, vào lúc 10 giờ cùng ngày tại nhà T4, khi T4 đang làm thịt Kỳ Nhông giúp T thì Phạm Trần Trung H3, sinh năm 2007, trú tại thôn L, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh gọi điện thoại cho T4, nhờ T4 mua ma túy thì T4 đồng ý. Sau đó, H3 rủ thêm một người bạn đi cùng (nam thanh niên tên là Đ3, là bạn của H3 nhưng không biết rõ mục đích của H3 là đi lấy ma túy) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX biển kiểm soát 38H1-042.01 (xe thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị Trần Thị N2, sinh năm 1972 là mẹ của H3) đi đến nhà T4 rồi đưa cho T4 500.000đ. Sau khi nhận tiền từ H3 thì T4 gọi điện thoại cho T nhưng T không nghe máy, do đó T4 gọi điện thoại cho T2 để trao đổi nội dung cần mua 500.000đ ma túy thì T2 đồng ý, T2 trao đổi lại với T về việc T4 hỏi mua ma túy, sau khi nghe Toại trao đổi thì T đã điều khiển xe mô tô mô tô nhãn hiệu Vison biển kiểm soát 38H1 - 350.98 (xe thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị Trần Thị T1, sinh năm 1979 là mẹ của T) chở T2 sang bán ma túy cho T4. Sau khi T2 đồng ý thì, T4 điều khiển xe mô tô (xe do H3 đi đến) để đến nhà T lấy ma túy. Trên đường đi thì T4 gặp T2 và T ở trên đường, nên T4 đã đưa 500.000đ cho T2 đồng thời T2 đưa cho T4 01 ống hút, bên trong có 05 viên ma túy (loại hồng phiến). Sau đó T4 điều khiển xe về nhà, đưa cho H3 03 viên ma túy, còn 02 viên ma túy T4 cất trong túi quần để T4 sử dụng. H3 sau khi nhận được ma túy thì chở bạn về, sau đó về nhà của mình để sử dụng hết 03 viên ma túy. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, T và T2 đến nhà T4 để lấy Kỳ Nhông về. Giá trị của khoảng 03kg Kỳ Nhông này theo T4, T và T2 là 500.000đ.
Đối với Nguyễn Văn G sau khi nhận 10 ma túy từ T4 thì G điều khiển xe mô tô chở Đ1 về nhà Nguyễn Thái Q1, sinh năm 1986, trú tại tổ dân phố B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. Khi về gần tới nhà Q1 thì Đ1 hỏi G “nãy T4 đưa chỉ đó”, thì G trả lời “ít ma túy”. Sau khi đến nhà Q1 thì Đ1 ngủ tại nhà Q1, còn G thì cùng với V đi đến Ngân hàng để làm thủ tục vay tiền. Khoảng 10 giờ cùng ngày, G và vợ về đến nhà Q1, ngồi chơi một lúc thì vợ G đi về. Lúc này, Q1 hỏi G “có tí nào đó không” (ý nói là có ma túy không đưa ra sử dụng) thì G trả lời là không có, khi này Đ1 nói với G “Đem hai cái ra chơi rồi ta đi ngược luôn”. Nghe Đ1 nói vậy thì G lấy từ trong túi quần ra một túi bóng nhỏ màu hồng quấn băng dính màu đen đồng thời móc từ trong túi bóng ra 02 viên hồng phiến và nói “có hai viên đây”, 08 viên còn lại thì G cất vào người. Q1 lấy một chai nhựa đồng thời dùng 01 điếu thuốc đang hút châm một lỗ trên thân chai, Đ1 đưa cho Q1 một tờ tiền mệnh giá 5.000đ để cuộn làm thành ống hút, Đ1 xé mảnh giấy thiếc ở bao thuốc lá đưa cho Q1 đồng thời bật lữa ga để sử dụng ma túy. Sau đó lần lượt G sử dụng 03 lượt, Đ1 sử dụng 03 lượt, còn lại thì Q1 sử dụng. Ngay sau khi sử dụng hết thì Q1 nói với Đ1 “em có tiền đó không, anh có 300.000đ đây, em góp 200.000đ ta mua ma túy dùng”. Đ1 trả lời “Em không có tiền”. Q1 tiếp tục năn nỉ Đ1 nhưng Đ1 không đồng ý, nên Q1 đưa toàn bộ dụng cụ sử dụng ma túy vứt ở mương nước bên cạnh nhà Q1, rồi cả ba cùng đi ăn trưa, sau đó cùng quay trở lại nhà Q1 nghỉ ngơi, còn Đ1 thì điều khiển xe mô tô của G đi đổ xăng thì bị Tổ công tác 238 Công an huyện V kiểm tra thì phát hiện Đ1 dương tính với ma túy, nên đã bị đưa về trụ sở Công an huyện V, để làm việc.
Khi biết Đ1 bị lực lượng Công an bắt giữ thì G đã đưa toàn bộ số ma túy (08 viên) đang tàng trữ trong người lên nhà ông Dương Văn L1, sinh năm 1961, trú tại tổ dân phố B, thị trấn V, huyện V để cất giấu. Còn Nguyễn Thái Q1 nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đã đến Công an huyện V đầu thú, khai nhận hành vi phạm tộ của mình và giao nộp chai nhựa mà Q1 cùng Đ1, G đã dùng để tổ chức sử dụng trái phép ma túy trước đó. Khoảng 16 giờ, ngày 07/5/2024 Nguyễn Văn G nhận thức được hành vi phạm tội của mình, nên đã đến Cơ quan Công an huyện Vũ Quang đầu thú đồng thời giao nộp chiếc điện thoại N4 mà trước đó N đã đưa cho G. Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của ông Dương Văn L1 và đã phát hiện thu giữ 08 viên ma túy (loại hồng phiến) do G thu giấu tại đây. Đến này 08/5/2024, Nguyễn Văn N cũng đã đến Cơ quan Công an huyện V để đầu thú về hành phạm tội của mình.
Căn cứ tại liệu thu thập được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp, khám xét khẩn cấp chổ ở đối với Phạm Quốc T4 tại nhà của ông Phạm Văn Đ (cha của T4), trú tại thôn D, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh thu giữ 01 túi nilon màu đen bên trong có 01 túi bóng màu trắng chứa 02 viên nén màu hồng để bên trong túi sau quần vải màu đen của T4 đang được treo trên móc quần áo nằm sát tường; ngoài ra còn thu giữ ba bộ dụng cụ sử dụng ma túy, một bật lữa gas, một mảnh giấy thiếc màu vàng bên trong có 01 viên ma túy bị cháy sém. Tại cơ quan Công an T4 khai 02 viên nén màu hồng Công an thu giữ là ma túy, loại Hồng phiến, nguồn gốc của 02 viên hồng phiến này là sau khi mua của T2 và T 05 viên H5 phiến với giá 500.000đ thì T4 đưa lại cho Phạm Trần Trung H3 03 viên còn 02 viên T4 giữ lại để sử dụng. Còn các dụng cụ sử dụng ma túy là của T4 có từ trước, để T4 dùng làm công cụ sử dụng ma túy; đối với 01 viên ma túy bị cháy sém T4 thừa nhận là của T4 sử dụng chưa hết nhưng nhớ rõ là viên ma túy này mua của ai.
Đồng thời, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiến hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp chổ ở của Nguyễn Văn T, tại nhà của ông Nguyễn Văn Q (cha của T) ở thôn H, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, thu giữ trong túi quần dài phía sau bên trái của Nguyễn Văn T 03 túi ni lông màu trắng được bọc bằng băng dán màu đen bên ngoài, bên trong mỗi túi ni lông có chứa 05 viên nén màu hồng; 01 túi ni lông màu trắng được bọc bằng băng dán màu đen bên trong có chứa 06 viên nén màu hồng; thu giữ tại chổ ở của Nguyễn Văn T 02 chai nhựa màu trong suốt là công cụ để sử dụng ma túy; 01 bật lữa gas màu đỏ; 01 cuộn băng dính màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS. Về nguồn gốc số ma túy, T khai nhận: Khoảng 08 giờ ngày 06/5/2024 T lên cầu H, thuộc địa phận xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh chơi rồi gặp một người đàn ông tên là H6, qua nói chuyện thì T đã hỏi người này có H5 phiến để bán không thì người đàn ông này trả lời là có và T đã đưa cho người đàn ông tên H6 này số tiền 2.000.000đ rồi đứng chờ. Một lát sau người đàn tên H6 quay lại đưa cho T một gói thuốc lá bên trong có chứa 40 viên ma túy loại H5 phiến. Sau đó T đã cất giữ 20 viên H5 phiến với mục đích sẽ sử dụng dần, 20 viên ma túy còn lại thì T đưa cho bạn của mình là Nguyễn Anh T2 để cả hai cùng sử dụng nếu cai hỏi mua thì sẽ bán. Ngoài ra T còn khai nhận 20 viên ma túy T cất giữ để sử dụng, T cho vào 04 túi ni lông, mỗi túi 05 viên, tuy nhiên sau khi lấy 05 viên ma túy từ T2 thì T chỉ sử dụng hết 04 viên còn lại 01 viên bị cáo T về bỏ vào 20 viên ma túy bị cáo T đã tàng trử để sử dụng trước đó.
Đối với Nguyễn Anh T2, sau khi biết T bị bắt đã bỏ trốn khỏi địa phương. Đến ngày 16/9/2024, T2 bị bắt tại phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương theo Lệnh bắt tạm giam của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V. Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra sau đó T2 đã thừa nhận, T có đưa cho T2 cất giữ 20 Hồng phiến để cùng sử dụng hoặc có ai hỏi mua thì bán, còn nguồn gốc số ma túy này từ đâu mà có thì T2 không biết. Sau đó T2 và T đã 02 lần trao đổi, bán ma túy gồm một lần trao đổi 10 viên ma túy để lấy khoảng 03 kg con Kỳ N3 do Phạm Quốc T4 đưa đến và một lần bán cho Phạm Quốc T4 05 viên ma túy với giá 500.000đ, còn 05 viên thì Nguyễn Văng T8 lấy sử dụng.
Tại bản Kết luận giám định số 677/KL-KTHS, ngày 13/5/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh H7, kết luận:
- - 02 viên nén màu hồng thu từ Phạm Quốc T4 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1723gam;
- - 01 phần viên nén màu hồng đã bị cháy sém thu từ Phạm Quốc T4 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,0397gam;
- - 08 viên nén màu hồng thu giữ từ Nguyễn Văn G gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,7245gam;
- - 21 viên nén màu hồng thu giữ từ Nguyễn Văn T gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 1,8083gam.
Ngày 05/12/2024, Phòng Kỹ thuật hình sự Công tỉnh K2 có Công văn số 431/PC09 xác định khối lượng trung bình của một viên nén màu hồng (Methamphetamine) là 0,086gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Vật chứng thu giữ:
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh, số Imeil: 354275383804853; 01 túi ni lông màu đen, bên trong có túi ni lông màu hồng, chứa 08 viên nén màu hồng (thu giữ của Nguyễn Văn G, khi khám xét tại nhà ông Dương Văn L1).
- + 01 chai nhựa trong suốt, không có nhãn dán, cao 18,3cm, đường kính thân chai rộng nhất 5,8cm, trên thân chai có một lỗ cách đáy chai 5,5cm (thu giữ của Nguyễn Thái Q1);
- + 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu đỏ, biển kiểm soát 38N3-5180; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi A2, kiểu máy: 23028RN4DG, số Imeil: 863328069499920, số Imei2: 863328069499938, màu đen, gắn thẻ sim số thuê bao 0982675721 (thu giữ của Dương Quang Đ1);
- + 21 viên nén màu hồng; 01 chai nhựa trong suốt, bên ngoài có nhãn Lavie, cao 21cm, đường kính thân chai rộng nhất 6cm, trên thân chai có một lỗ cách đáy chai 6cm được gắn một chiếc ống làm bằng kim loại màu trắng bạc, dài 12,5cm; 01 chai nhựa trong suốt, phía trên có nắp màu xanh, nắp có hai lỗ, có gắn một ống nhựa màu cam - trắng và một ống thủy tinh trong suốt; 01 bật lửa gas màu đỏ, có dòng chữ “Phòng khám mắt công nghệ cao, Kính thuốc dũng hiền”; 01 cuộn băng dính màu đen, đường kính rộng 5,1cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng gold, số máy MT672LL/A, số Imei 353111102733126, gắn thẻ sim thuê bao số 0869132090, đã qua sử dụng. Những vật chứng này thu giữ của Nguyễn Văn T.
- + 01 điện thoại Oppo, màu tím, kiểu máy “CPH1803”, số Imeil: 864716047973673, số Imei2: 864716047973629, có gắn số thuê bao số 0899859576, đã qua sử dụng; 01 túi ni lông màu đen, bên trong có một túi ni lông màu trắng chứa 02 viên nén màu hồng; 01 mảnh giấy thiếc màu vàng, bên trong chứa viên nén màu hồng bị cháy sém một phần; 01 chai nhựa trong suốt, có dính nhiều chất bẩn, không có nhãn dán, cao 22cm, đường kính thân chai rộng nhất 5,2cm, trên thân chai có một lỗ cách đáy chai 4,5cm được gắn một chiếc ống làm bằng giấy cuộn tròn, ống dài 8,9cm; 01 chai nhựa trong suốt, có dính nhiều chất bẩn, không có nhãn dán, cao 21cm, đường kính thân chai rộng nhất 6,2cm, trên thân chai có một lỗ cách đáy chai 6,8cm được gắn một chiếc ống làm bằng giấy cuộn tròn, ống dài 9,5cm; 01 chai nhựa trong suốt, có dính bụi bẩn, không có nhãn dán, cao 14,5cm, đường kính thân chai rộng nhất 5,5cm, trên thân chai có một lỗ cách đáy chai 5,2cm được gắn một ống làm bằng giấy cuộn tròn, ông dài 10cm; 01 một chiếc bật lữa gas màu đỏ, trên thân chai có dòng chữ “555VIP HOA VIỆT”, đã qua sử dụng. Những vật chứng này thu giữ của Phạm Quốc T4.
Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số ma túy (Methamphetamine) sau khi lấy mẫu giám định còn 26 viên với tổng khối lượng 2,27gam cùng với những vật chứng khác đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V chuyên cho C2 cụ Thi hành án dân sự huyện V để chờ xử lý theo quy định.
Tại cáo trạng số 14A/CT-VKS-VQ ngày 05/12/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh truy tố: Bị cáo Nguyễn Văn T, Phạm Quốc T4 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Anh T2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị cáo Dương Quang Đ1 và Nguyễn Thái Q1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị cáo Nguyễn Văn N, trình bày: Vì lý do đang bị ốm phải điều trị tại Bệnh xá Trại tạm giam Công an tỉnh H7 nên bị cáo không thể trực tiếp tham gia phiên tòa được, đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định của pháp luật; các tình tiết liên quan đến vụ án thì bị cáo đã khai đầy đủ thể hiện trong hồ sơ vụ án, quá trình xét hỏi bị cáo thì có Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo tham gia đầy đủ, vì vậy trong quá trình xét xử vụ án Trợ giúp viên pháp lý sẽ bào chữa cho bị cáo.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bốbị cáo Nguyễn Văn T và Phạm Quốc T4 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Anh T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Dương Quang Đ1 và Nguyễn Thái Q1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Và đề nghị áp dụng:
- + Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 07 năm 09 tháng đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chấp hành hình phạt chung từ 09 năm 03 tháng đến 09 năm 09 tháng tù;
- + Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Quốc T4 từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Phạm Quốc T4 phải chấp hành hình phạt chung từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù;
- + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T2 từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù;
- + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức trái phép chất ma túy” và từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Văn G phải chấp hành hình phạt chung từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm 03 tháng tù;
- + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thái Q1 từ 07 năm 09 tháng dến 08 năm tù;
- + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Dương Quang Đ1 từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù;
- + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2; khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy; áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Hình sự truy thu ở bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Anh T2 mỗi bị cáo số tiền 500.000đ; Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước các chiếc điện thoại thu giữ của các bị cáo Phạm Quốc T4, Nguyễn Văn N; Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy thu giữ của Nguyễn Văn T, Phạm Quốc T4 và Nguyễn Thái Q1; Trả lại điện thoại di động cho Nguyễn Văn T và Dương Quang Đ1; Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Hà Tĩnh để điều tra, xác minh và xử lý theo thẩm quyền đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu đỏ, biển kiểm soát 38N3 - 5180.
Các bị cáo đã thừa nhận về hành vi về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát và các bị cáo không kêu oan, xin giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm được trở về với xã hội.
Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thái Q1 có ý kiến: Về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ hoàn toàn đồng tình với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, về hình phạt đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Q1 vì bị cáo có trình độ học vấn 10/12, bị cáo hiện bị bệnh tiểu đường, thường xuyên đau ốm, bị cáo không phải là người cung cấp ma túy cho việc tổ chức sử dụng, cha bị cáo là người có công với cách mạng, gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, vợ con thường xuyên đau ốm; về án phí đề nghị miễn án phí cho bị cáo.
Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn N có ý kiến: Về tội danh đề nghị đối với bị cáo N như Viện kiểm sát truy tố là toàn đúng quy định của pháp luật nên không có ý kiến gì cần tranh luận; tuy nhiên xem xét về nguyên nhân điều kiện, hoàn cảnh, trình độ học vấn của bị cáo N, cũng như với việc N không trực tiếp tàng trữ ma túy chỉ tham gia với vai trò đồng phạm, sau khi phạm tội thì N đã đầu thú, quá trình điều tra bị cáo N rất thành khẩn và hối hận về hành vi phạm tội của mình, mặt khác bị cáo N có một nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự như thuộc diện hộ cận nghèo, vợ bị bệnh tật, con còn nhỏ, cha bị cáo N là người có công; về án phí thì đề nghị xem xét miễn cho bị cáo N. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo N được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Bị cáo Nguyễn Văn N có đơn xin xét xử vắng mặt vị lý do đang phải điều trị tại Bệnh xá của Trại tạm giam và có người bào chữa cho bị cáo tham gia phiên tòa. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn và xét xử vắng mặt của bị cáo Nguyễn Văn N.
[3] Tại phiên tòa, các bị tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án được xem xét công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Xuất phát từ việc Dương Quang Đ1 bị Tổ công tác 328 Công an huyện V phát hiện về hành vi vi phạm khi tham gia giao thông vào trưa ngày 07/5/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện V đã điều tra và xác định được trước đó tại nhà của Nguyễn Thái Q1 các bị cáo Nguyễn Văn G, Nguyễn Thái Q1 và Dương Quang Đ1 đã cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (sử dụng 02 viên Methamphetamine), nguồn gốc ma túy mà G, Q1 và Đ1 sử dụng là do G cung cấp; ngoài ra Nguyễn Văn G còn có hành vi tàng trữ 08 viên ma túy (Methamphetamin) có khối lượng là 0,7245gam, 08 viên ma túy này có nguồn gốc là số viên ma túy còn lại trong số 10 viên ma túy mà trước đó (sáng ngày 07/5/2024) Giảng đã đưa khoảng 03kg Kỳ Nhông có trị giá 500.000đ, sang đổi cho Phạm Quốc T4 (Số K này do G và Nguyễn Văn N đã cùng nhau bắt được trước đó rồi cả hai cùng thống nhất đưa Kỳ N3 sang đổi ma túy cho Phạm Quốc T4 để về cùng sử dung). Số ma túy mà Phạm Quốc T4 đã bán (thông qua việc đổi Kỳ N3) cho G và N có nguồn gốc là sau khi nhận Kỳ Nhông từ G thì T4 đã dùng số Kỳ Nhông này để trao đổi (mua) với Nguyễn Văn T và Nguyễn Anh T2; ngoài ra cũng trong ngày 07/5/2024 Phạm Quốc T4 còn có hành vi mua 05 viên ma túy có khối lượng 0,43gam với giá 500.000đ từ T và T2 để bán lại cho Phạm Trần Trung H3 03 viên có khối lượng 0,258gam với giá 500.000đ, bên cạnh 02 lần mua bán ma túy như trên thì Phạm Quốc T4 còn tàng trữ 02 viên ma túy (mua từ T, T2) có khối lượng 0,1723 gam và 01 viên ma túy khác có khối lượng 0,0397gam (T4 không còn nhớ viên ma túy này mua từ ai), tổng khối lượng ma túy T4 tàng trữ để sử dụng là 0,2120gam. Nguồn gốc ma túy của T2, T dùng để bán cho T4 là do trước đó Nguyễn Văn T đã đưa cho T2 20 viên để cùng sử dụng hoặc có ai mua thì sẽ bán và T2 với T đã bán 15 viên còn 05 viên thì T đã lấy sử dụng. Còn nguồn gốc ma túy của Nguyễn Văn T đưa cho Nguyễn Anh T2 là do vào ngày 06/5/2024 T gặp và mua 40 viên ma túy (Methamphetamine) của một người tên Đ3 ở khu vực cầu H, thuộc xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh với giá 2.000.000đ, sau đó T giữ 20 viên ma túy để sử dụng riêng, còn 20 viên ma túy T đưa cho T2 để cùng sử dụng hoặc có ai mua thì sẽ bán (Sau đó T2 và T đã bán 02 với số lương 15 viên, còn 05 viên T lấy sử dụng hết 04 viên, còn 01 viên Thương tàng trữ cùng với 20 viên của T cất giữ để sử dụng (21 viên có khối lượng là 1,8083gam).
Với số lần mua bán, tổ chức cho số người sử dụng ma túy và khối lượng ma túy tàng trữ như trên thì hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T và Phạm Quốc T4 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Anh T2 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn G đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị cáo Dương Quang Đ1 và Nguyễn Thái Q1 đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội và ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống. Do đó cần phải xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Dương Quang Đ1 sau khi bị lực lượng chức năng bắt về hành vi vi phạm giao thông và xét nghiệm dương tính với ma túy thì Đ1 đã tự nguyện tự thú về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trước đó nên bị cáo Đ1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn N thuộc diện hộ cận nghèo, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú và có cha là ông Nguyễn Văn T9 được nhận Huy chương kháng chiến chống Mỹ; bị cáo Nguyễn Văn G đã tự nguyện đầu thú; bị cáo Nguyễn Thái Q1 thuộc diện hộ cận nghèo, cha bị cáo từng tham gia kháng chiến chống Mỹ và được tặng Bằng khen, được hưởng trợ cấp đối với người hoạt động kháng chiến, bị cáo tự nguyện ra đầu thú; bị cáo Phạm Quốc T4 có mẹ thuộc diện khuyết tật nặng, cha bị cáo được hưởng chế độ trợ cấp một lần đối với đối tượng tham chiến tranh bảo vệ tổ quốc, bản thân bị cáo từng tham gia cứu người chết đuối được chính quyền địa phương xác nhận; bị cáo Nguyễn Văn T có ông nội tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất; do đó các bị cáo N, G, Q1, T4, T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ngoại trừ bị cáo T4 và G có nhân thân tốt thì các bị cáo còn lại đều có nhân thân xấu, các bị cáo đều là người sử dụng ma túy, phạm tội với tính chất nghiêm trọng và rất nghiêm trọng. Do đó, cần phải có mức án thật nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Các bị cáo Nguyễn Văn T, Phạm Quốc T4 và Nguyễn Văn G phạm 02 tội nên cần áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt, buộc các bị cáo phải chịu hình phạt chung của hai tội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249; khoản 5 Điều 251 và khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị áp dụng một số hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, do đó cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo như để nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, để cho các bị cáo yên tâm cải tạo cũng như thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của pháp luật là có căn cứ và phù hợp.
[7] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Số Methamphetamine là vật cấm lưu hành; còn toàn dụng cụ các bị cáo dùng làm phương tiện để sử dụng ma túy là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Anh T2 thu lợi bất chính mỗi bị cáo 500.000đ nên phải truy thu số tiền này ở các bị cáo. Đối với chiếc điện thoại di động của bị cáo Nguyễn Văn N (thu giữ ở N), Phạm Quốc T4 là các phương tiện, công cụ các bị cáo dùng trong quá trình phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước, các chiếc sim trong các chiếc điện thoại này không còn giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu đỏ, biển kiểm soát 38N3-5180, có số khung RLCJ4B2106Y012891, số máy 4B21-012891 là phương tiện mà bị cáo Nguyễn Văng G2 dùng để đi sang huyện H đổi Kỳ Nhông lấy ma túy, G2 khai chiếc xe này G2 mua của một người không quen biết ở thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh nhưng xe không có giấy tờ và G2 cũng không có tài liệu chứng minh việc mua bán này. Quá trình điều tra xác định được chiếc xe này thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị Lê Thị Bích H4, sinh năm 1977, trú tại thôn V, xã Đ, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh, chị H4 khai nhận chị bị mất trộm chiếc xe này vào năm 2011, sau khi bị mất chị đã làm đơn trình báo với Công an xã. Xét thấy chiếc xe này liên quan đến nguồn tin tội phạm, do đó cần giao chiếc xe này cho Công an huyện V để điều tra, xem xét giải quyết theo thẩm quyền là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Đối với chiếc điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Văn T, Dương Quang Đ1 xét thấy chiếc điện thoại này không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo do đó cần áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để trả lại chiếc điện thoại này cho Nguyễn Văn T và Dương Quang Đ1.
[8] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về điều luật áp dụng; tội danh truy tố; mức hình phạt; xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận; Quan điểm của Trợ giúp viên pháp lý đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo N và bị cáo Q1 sẽ được Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình lượng hình.
[9] Về các nội dung khác:
Đối với Phạm Trần Trung H3 là người đã mua ma túy từ Phạm Quốc T4 về để sử dụng một mình tại nhà; Phạm Thành Đ2 không biết và không liên quan đến việc Phạm Quốc T4 mua bán, trao đổi ma túy với Nguyễn Văn G cũng như với Nguyễn Văn T, Đ2 chỉ có hành vi một mình sử dụng ma túy tại nhà của T; do đó H3 và Đ2 đã bị cơ quan Công an huyện V xem xét xử lý hành chính là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Nguyễn Văn T khai mua ma túy của người đàn ông tên H6 ở cầu H, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh nhưng T không rõ về nhân thân của người đàn ông này nên không có căn cứ để điều tra, xử lý. Đối với bà Trần Thị T1 (người cho bị cáo T mượn xe mô tô), bà Phạm Thị K1 (người cho Phạm Quốc T4 mượn xe mô tô), ông Dương Văn L1 (chủ nhà nơi bị cáo G cất dấu 08 viên ma túy), nhưng cả ba người này đều không biết về hành vi phạm tội của các bị cáo, do đó không có căn cứ để xem xét, xử lý trách nhiệm.
Kỳ Nhông không thuộc loại động vật nằm trong Danh mục loài động vật hoang dã được ưu tiên bảo vệ hay loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ, nên không có căn cứ xem xét trách nhiệm của các bị cáo liên quan đến hành vi săn bắt, mua bán, trao đổi số Kỳ nhông này.
[10] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn N và Nguyễn Thái Q1 thuộc diện hộ cận nghèo nên được miễn án phí; các bị cáo còn lại phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T;
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Quốc T4;
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Anh T2;
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn G;
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, r khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Dương Quang Đ1;
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thái Q1;
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn N.
Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47; Điều 58 Bộ luật Hình sự; khoản 2; khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T và Phạm Quốc T4 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Anh T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Dương Quang Đ1 và Nguyễn Thái Q1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, 07 năm 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chấp hành hình phạt chung là 09 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/5/2024.
- Xử phạt bị cáo Phạm Quốc T4 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Phạm Quốc T4 phải chấp hành hình phạt chung là 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2024.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T2 07 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/9/2024.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, 07 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Nguyễn Văn G phải chấp hành hình phạt chung là 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2024.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái Q1 07 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2024.
- Xử phạt bị cáo Dương Quang Đ1 07 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2024.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/5/2024.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, 07 năm 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Tịch thu, tiêu hủy:
- + 01 chai nhựa trong suốt, không có nhãn dán, cao 18,3cm, đường kính thân chai rộng nhất 5,8cm, trên thân chai có một lỗ cách đáy chai 5,5cm;
- + 03 chai nhựa trong suốt, không có nhãn dán: 01 chai nhựa có dính nhiều chất bẩn, không có nhãn dán, cao 22cm, đường kính thân chai rộng nhất 5,2cm, trên thân chai có một lỗ cách đáy chai 4,5cm được gắn một chiếc ống làm bằng giấy cuộn tròn, ống dài 8,9cm; 01 chai nhựa có dính nhiều chất bẩn, không có nhãn dán, cao 21cm, đường kính thân chai rộng nhất 6,2cm, trên thân chai có một lỗ cách đáy chai 6,8cm được gắn một chiếc ống làm bằng giấy cuộn tròn, ống dài 9,5cm; 01 chai nhựa có dính bụi bẩn, không có nhãn dán, cao 14,5cm, đường kính thân chai rộng nhất 5,5cm, trên thân chai có một lỗ cách đáy chai 5,2cm được gắn một ống làm bằng giấy cuộn tròn, ống dài 10cm; 01 một chiếc bật lữa gas màu đỏ, trên thân chai có dòng chữ “555VIP HOA VIỆT”.
- + 01 phong bì niêm phong có chữ ký đầy đủ thành phần bên trong có 26 viên nén màu hồng (ma túy loại Methamphetamine) bên ngoài có dòng chữ công AN TỈNH HÀ TĨNH – PHÒNG K2.
- + 01 chai nhựa trong suốt, bên ngoài có nhãn Lavie, cao 21cm, đường kính thân chai rộng nhất 6cm, trên thân chai có một lỗ cách đáy chai 6cm được gắn một chiếc ống làm bằng kim loại màu trắng bạc, dài 12,5cm; 01 chai nhựa trong suốt, phía trên có nắp màu xanh, nắp có hai lỗ, có gắn một ống nhựa màu cam-trắng và một ống thủy tinh trong suốt; 01 bật lửa gas màu đỏ, có dòng chữ “Phòng khám mắt công nghệ cao, Kính thuốc dũng hiền”; 01 cuộn băng dính màu đen, đường kính rộng 5,1cm, đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng gold, số máy MT672LL/A, số Imei 353111102733126, gắn thẻ sim thuê bao số 0869132090, đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo Dương Quang Đ1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi A2, kiểu máy: 23028RN4DG, số Imei 1: 863328069499920, số Imei 2: 863328069499938, màu đen, có gắn thẻ sim số thuê bao 0982.675721.
- Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh, số Imei1: 354275383804853, có gắn thẻ sim bên trong, đã qua sử dụng; 01 điện thoại Oppo, màu tím, kiểu máy “CPH1803”, số Imeil: 864716047973673, số Imei2: 864716047973629, có gắn số thuê bao số 0899859576, đã qua sử dung. Tịch thu, tiêu hủy các thẻ sim có trong các chiếc điện thoại này.
- Giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V xem xét, xử lý theo thẩm quyền 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển kiểm soát 38N3 – 5180, xe đã qua sử dụng.
(Tình trạng, đặc điểm theo biên bản giao nhân vật chứng ngày 28/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Hà Tĩnh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh).
- Truy thu, sung công Nhà nước ở bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Anh T2 mỗi bị cáo 500.000đ.
- Về án phí: Miễn án phí cho bị cáo Nguyễn Văn N và Nguyễn Thái Q1; buộc bị cáo Nguyễn Văn T, Phạm Quốc T4, Nguyễn Anh T2, Nguyễn Văn G, Dương Quang Đ1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Văn Đạt |
Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ QUANG, TỈNH HÀ TĨNH về hình sự: mua bán, tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 05/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Mua bán, Tàng trữ và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ QUANG, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T và đồng phạm
