TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 05/2025/LĐ-ST Ngày: 26-6-2025 V/v Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thuần Phong.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hồ Hoàng Việt – Nguyên Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động Quận 7;
2. Bà Hồ Huỳnh Mỹ Linh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hoài Thu – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Châu – Kiểm sát viên.
Ngày 26/6/2025 Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 24/2024/LĐST ngày 21/10/2024 về việc “Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-LĐ ngày 10/6/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phùng Hải Đ; địa chỉ: 2 T, Phường C, Quận A,Tp. Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Văn D hoặc ông Nguyễn Thanh K hoặc ông Nguyễn Thành T; cùng địa chỉ: F K, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh – là những người đại diện theo ủy quyền (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 19/12/2023 và Giấy ủy quyền ngày 19/5/2024 của Công ty L) (có mặt).
Bị đơn: Công ty TNHH C1; địa chỉ trụ sở: A N, Khu phố A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Lê Uyên P, bà Dương Thị Minh H; địa chỉ liên lạc: P, Tầng B, Tòa nhà T, Số B H, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh – là những người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 16/5/2025). (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Lương Trung Vân N là Luật sư của Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; địa chỉ liên lạc: P, Tầng B, Tòa nhà T, Số B H, phường B, Quận A, Tp .. (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện, Đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện ngày 01/8/2025; các Văn bản, ý kiến trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày và yêu cầu khởi kiện như sau:
Ngày 01/10/2018, ông Phùng Hải Đ ký kết Hợp đồng lao động số HK-032/HĐLĐ-2018 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng lao động lần 1, hoặc HĐLĐ lần 1) với Công ty TNHH C1 (sau đây gọi tắt là Công ty), với thời hạn Hợp đồng là 12 tháng (kể từ ngày 01/10/2018 – 30/09/2019), mức lương gộp là 20.300.000 đồng/tháng.
Ngày 30/9/2019 (là ngày kết thúc hợp đồng lao động số HK-032/HĐLĐ-2018 ngày 10/10/2018); công ty và ông Đ tiếp tục ký tiếp Phụ lục hợp đồng lao động số HK-032-01/PLHĐLĐ-2018. Đây là hợp đồng lao động mới có xác định thời hạn; thời hạn Hợp đồng lao động mới là 24 tính từ ngày 01/10/2018 – 30/09/2020.
Theo quy định, hợp đồng lao động (có tiêu đề là Phụ lục hợp đồng) ký ngày 01/10/2018 hết hạn vào ngày 30/9/2019 thì người sử dụng lao động (công ty) bắt buộc phải ký hợp đồng lao động mới với người lao động (ông Đ). Việc ký kết Phụ lục Hợp đồng lao động ngày 30/9/2019 để thay đổi thời hạn Hợp đồng lao động đã giao kết, dù về hình thức, tiêu đề là phụ lục, nhưng về bản chất pháp lý, đây được là các bên ký tiếp thêm một lần Hợp đồng lao động xác định thời hạn. Theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 Phụ lục hợp đồng ngày 30/9/2019 này là Hợp đồng lao động xác định thời hạn thứ hai. Thời hạn thực hiện của HĐLĐ này là từ 01/10/2018 đến 30/9/2020, tức là kéo dài từ hợp đồng 12 tháng ban đầu lên thành 24 tháng.
Mặt khác phụ lục hợp đồng lao động ký ngày 30/9/2019 phải là hợp đồng lao động xác định thời hạn lần 2 bởi lẽ có nội dung được các bên thể hiện tại khoản 1.1 của hợp đồng như sau: “……Thời hạn hợp đồng lao động mới: có xác định thời hạn 24 tháng……”. Như vậy, các bên ký hợp đồng ngày 30/9/2019 (HĐLĐ lần 2) được hiểu rằng, các bên thống nhất đây là một hợp đồng lao động mới có xác định thời hạn 24 tháng (như đã nêu trong khoản 1.1 của hợp đồng lao động); nó thể hiện ý chí của các bên là ký kết một Hợp đồng lao động mới (lần 2), không phải là phụ lục sửa đổi thời hạn của hợp đồng lao động lần 1.
Ngày 01/10/2020, Công ty TNHH C1, đại diện người sử dụng lao động là ông Lee Seng C và ông Phùng Hải Đ tiếp tục ký kết Hợp đồng lao động số HK-032/HĐLĐ-2020 ngày 01/10/2020 (Hợp đồng lao động lần 3 – HĐLĐ lần 3) với thời hạn Hợp đồng là 36 tháng (kể từ ngày 01/10/2020 – 01/10/2023). Hợp đồng lao động này xác định thời hạn, với thời hạn 36 tháng là không đúng quy định pháp luật. Vì, theo quy định tại khoản 2 Điều 22 Bộ luật lao động năm 2012 quy định rõ các bên chỉ được ký thêm 1 lần hợp đồng lao động xác định thời hạn. Ngày 30/9/2019 các bên đã ký hợp đồng xác định thời hạn (HĐLĐ lần 2). Do đó, khi HĐLĐ lần 2 kết thúc và ông Phùng Hải Đ vẫn tiếp tục làm việc cho Công ty, thì Công ty B phải ký kết Hợp đồng lao động không xác định thời hạn với ông Đ. Như vậy, Hợp đồng lao động số HK-032/HĐLĐ-2020 (HĐLĐ lần 3) các bên ký ngày 01/10/2020 phải là Hợp đồng lao động không xác định thời hạn theo quy định tại khoản 2 Điều 22 Bộ luật lao động năm 2012.
Ngày 01/10/2023, Công ty TNHH C1 ban hành Quyết định chấm dứt Hợp đồng lao động số 24/2023/QĐTV-SSSA có nội dung: “Điều 1. Hợp đồng lao động số HK-032/HĐLĐ-2020 giữa Công ty TNHH C1 và ông Phùng Hải Đ sẽ hết hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2023. Điều 2. Chế độ tiền lương và phụ cấp nếu có của ông Phùng Hải Đ được tính đến hết 30 tháng 09 năm 2023. Công ty sẽ đóng BHXH, BHYT, BHTN cho ông Phùng Hải Đ đến hết tháng 09 năm 2023 ...”
Ông Phùng Hải Đ không đồng ý với Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động nêu trên, vì Công ty TNHH C1 đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật quy định tại các Điều 36 (quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động), Điều 37 (trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động) và Điều 39 (Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật) của Bộ luật Lao động năm 2019 (thời điểm công ty ban hành quyết định chấm dứt HĐLĐ với ông Đ thì Bộ luật Lao động 2019 đang có hiệu lực). Theo quyết định, công ty chấm dứt hợp đồng lao động với lý do hết hạn hợp đồng lao động là không đúng; vì, theo quy định tại khoản 2 Điều 22 Bộ luật lao động năm 2012 thì Hợp đồng lao động số HK-032/HĐLĐ-2020 phải được xác định là hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
Ông Phùng Hải Đ không đồng ý với quyết định chấm dứt hợp đồng lao động của công ty, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 7, Tp . giải quyết như sau:
- - Buộc Công ty TNHH C1 thanh toán tiền lương trong 20 tháng nghỉ việc (tính từ ngày 01/10/2023 cho đến khi Tòa án đưa ra xét xử, tạm tính đến ngày làm bản tự khai này là ngày 30/5/2025) là 20 tháng), với số tiền: (20.300.000 đồng x 20 tháng = 406.000.000 đồng;
- - Buộc Công ty TNHH C1 đóng các khoản Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp, Bảo hiểm tai nạn trong thời gian từ ngày 01/10/2023 đến khi Tòa án đưa ra xét xử (tạm tính đến ngày 30/5/2025) là 20 tháng, với số tiền như sau: (20.300.000 đồng x 21,5% x 20tháng = 87.290.000đồng;
- - Buộc Công ty TNHH C1 bồi thường 02 tháng tiền lương đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật là 40.600.000 đồng.
Tổng cộng yêu cầu Công ty TNHH C1 phải bồi thường cho ông Phùng Hải Đ số tiền là: 406.000.000 đồng + 87.290.000đồng + 40.600.000 đồng = 533.890.000 đồng.
* Tại các văn bản trình bày ý kiến, các lời trình trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty TNHH C1 trình bày:
- - Công ty và Nguyên đơn ký kết Hợp đồng lao động ngày 01/10/2018 là hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn là 12 tháng (tính từ ngày 01/10/2018 đến hết ngày 30/9/2019). Đến ngày 30/9/2019, Công ty và Nguyên đơn ký bổ sung Phụ lục Hợp đồng lao động, theo phụ lục các bên thống nhất sửa đổi thời hạn của Hợp đồng lao động ngày 01/10/2018 từ thời hạn xác định 12 tháng (từ ngày 01/10/2018 đến ngày 30/9/2019) thành thời hạn xác định 24 tháng (từ ngày 01/10/2018 đến ngày 30/9/2020).
- - Việc Công ty và Nguyên đơn ký Phụ lục Hợp đồng lao động 2018 để sửa đổi thời hạn của Hợp đồng lao động ngày 01/10/2018 là phù hợp với quy định của pháp luật lao động. Vì theo Bộ luật lao động năm 2012 và các văn bản hướng dẫn, các bên được phép sửa đổi thời hạn hợp đồng một lần bằng phụ lục hợp đồng lao động và việc sửa đổi không được làm thay đổi loại hợp đồng lao động đã giao kết. Do đó, việc Công ty và Nguyên đơn ký phụ lục hợp đồng lao động để sửa đổi thời hạn (từ 12 tháng thành 24 tháng) của Hợp đồng lao động ngày 01/10/2018 với loại hợp đồng vẫn là hợp đồng xác định thời hạn là hoàn toàn phù hợp quy định pháp luật. Phụ lục Hợp đồng lao động ngày 30/9/2019 các thỏa thuận rõ đây là một bộ phận của Hợp đồng lao động ngày 01/10/2018 và chỉ thỏa thuận sửa đổi về thời hạn của Hợp đồng lao động ngày 01/10/2018 mà không sửa đổi các nội dung nào khác của một hợp đồng lao động như công việc phải làm, địa điểm làm việc, mức lương là đúng quy định pháp luật.
- Đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Công ty TNHH C1 có ý kiến như sau:
- - Như đã trình bày, theo Điều 24 Bộ luật lao động năm 2012 (có hiệu lực tại thời điểm Công ty và Nguyên đơn ký kết, thực hiện Phụ lục Hợp đồng lao động ngày 30/9/2019) quy định Phụ lục hợp đồng lao động để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động và là một bộ phận của hợp đồng lao động và có hiệu lực như hợp đồng lao động; đồng thời Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ luật lao động 2012 quy định thời hạn hợp đồng lao động được sửa đổi một lần bằng phụ lục và không được làm thay đổi loại hợp đồng lao động đã giao kết. Do đó, việc nguyên đơn cho rằng Phụ lục Hợp đồng lao động ngày 30/9/2019 là Hợp đồng lao động không xác định thời hạn lần 2 là không có cơ sở.
Vì vậy, Công ty TNHH C1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Phùng Hải Đ.
Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, phía nguyên đơn chỉ điều chỉnh số tiền yêu cầu bị đơn phải trả do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật so với đơn khởi kiện và buổi hòa giải ngày 05/6/2025 (do số ngày không được làm việc có thay đổi).
Tại phiên tòa, các bên đã tranh luận các nội dung liên quan đến vụ tranh chấp.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, các đương sự và Hội đồng xét xử; đồng thời phát biểu quan điểm về nội dung vụ án; đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ các yêu cầu của phía nguyên đơn, các tài liệu chứng có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa:
Xét thấy, ngày 30/9/2019, Công ty C1 và ông Đ ký Phụ lục Hợp đồng lao động để sửa đổi thời hạn lao động của Hợp đồng lao động ký ngày 01/10/2018. Cụ thể, Điều 1 khoản 1.1 của Phụ lục, các bên thỏa thuận thay đổi như sau: “...Thời hạn hợp đồng lao động mới: có xác định thời hạn 24 tháng, chính thức từ 01/10/2018 đến 30/9/2020”.
Và tại Điều 2 của Phụ lục HĐLĐ: “Phụ lục này là bộ phận của hợp đồng số HK-032/HĐLĐ-2018, được làm thành hai bản có giá trị như nhau, mỗi bên giữ một bản và là cơ sở để giải quyết khi có tranh chấp lao động.
Căn cứ Điều 24. Phụ lục hợp đồng lao động - Bộ luật lao động năm 2012
- “1. Phụ lục hợp đồng lao động là một bộ phận của hợp đồng lao động và có hiệu lực như hợp đồng lao động.
- 2. Phụ lục hợp đồng lao động quy định chi tiết một số điều khoản hoặc để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
Trường hợp phụ lục hợp đồng lao động quy định chi tiết một số điều, khoản của hợp đồng lao động mà dẫn đến cách hiểu khác với hợp đồng lao động thì thực hiện theo nội dung của hợp đồng lao động.
Trường hợp phụ lục hợp đồng lao động dùng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động thì phải ghi rõ nội dung những điều khoản sửa đổi, bổ sung và thời điểm có hiệu lực.”
Tại thời điểm hai bên ký kết Phục lục hợp đồng lao động thì Bộ luật Lao động năm 2012 vẫn còn hiệu lực. Do đó, Phụ lục hợp đồng có hiệu lực pháp luật về điều chỉnh thời hạn lao động.
Như vậy, việc hai bên ký kết Phụ lục hợp đồng là phù hợp với quy định tại Điều 24 Bộ luật lao động năm 2012. Khi thời hạn lao đồng theo Phục lục hợp đồng hết, ngày 01/10/2020 hai bên tiếp tục ký kết hợp đồng lao động mới (số H), với thời hạn làm việc là 36 tháng, (từ ngày 01/10/2020 – 01/10/2023) là phù hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 20 Bộ luật lao động năm 2019.
Do đó, nguyên đơn ông Đ cho rằng Hợp đồng lao động số HK-032/HĐLĐ-2020 ký kết ngày 01/10/2020 là loại Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là không có cơ sở.
Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí: Nguyên đơn ông Phùng Hải Đ không phải chịu án phí lao động theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn ông Phùng Hải Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn Công ty TNHH C1 phải thanh toán tiền lương, đóng các khoản Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nên đây là tranh chấp về đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động.
Căn cứ vào Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH MTV, mã số doanh nghiệp: 0313473928, đăng ký lần đầu: ngày 30/6/2015, đăng ký thay đổi lần thứ 6: ngày 07/4/2022, bị đơn có địa chỉ trụ sở chính đăng ký tại: A N, Khu phố A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận 7, Tp . theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Xét các Hợp đồng lao động, Phụ lục hợp đồng lao động các bên ký kết, thực hiện; thấy rằng, Hợp đồng được các bên ký kết có hình thức đúng quy định của pháp luật, nội dung các bên thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, các bên tự nguyện ký kết, thực hiện phù hợp với quy định pháp luật làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
[3] Xét các căn cứ, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn:
[3.1] Theo người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Sau khi Hợp đồng lao động số HK-032/HĐLĐ-2018 hết hạn vào ngày 30/9/2019 và hai bên tiếp tục ký Phụ lục hợp đồng lao động số HK-032-01/PLHĐLĐ-2018 ngày 30/9/2019 theo quy định pháp luật lao động đây phải được xem là hợp đồng lao động mới, loại hợp đồng lao động có xác định thời hạn, với thời hạn là 24 tháng (từ ngày 01/10/2018 – 30/09/2020). Việc các bên ký kết Phụ lục Hợp đồng lao động ngày 30/9/2019 để thay đổi thời hạn Hợp đồng lao động ngày 01/10/2018 đã thực hiện, dù về hình thức và tiêu đề ghi là phụ lục, nhưng về bản chất pháp lý, đây phải xem là các bên ký thêm 01 lần HĐLĐ xác định thời hạn theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 và trở thành Hợp đồng lao động xác định thời hạn thứ hai (HĐLĐ lần 2) chứ không phải là phụ lục sửa đổi thời hạn của hợp đồng lao động ngày 01/10/2018.
Hội đồng xét xử thấy rằng:
Căn cứ điểm b khoản 1; khoản 2 Điều 22 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định“ Hợp đồng lao động xác định thời hạn; Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng; Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn”.
Điều 24 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: “Phụ lục hợp đồng lao động là một bộ phận của hợp đồng lao động và có hiệu lực như hợp đồng lao động. Phụ lục hợp đồng lao động quy định chi tiết một số điều khoản hoặc để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động. Trường hợp phụ lục hợp đồng lao động dùng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động thì phải ghi rõ nội dung những điều khoản sửa đổi, bổ sung và thời điểm có hiệu lực” và Điều 5 Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động quy định “Thời hạn hợp đồng lao động chỉ được sửa đổi một lần bằng phụ lục hợp đồng lao động và không được làm thay đổi loại hợp đồng đã giao kết”.
Do đó, phía nguyên đơn cho rằng Phụ lục hợp đồng số HK-032-01/PLHĐLĐ-ngày 30/9/2019 là hợp đồng lao động xác định thời hạn mới (HĐLĐ lần 2), bị đơn Công ty phải có nghĩa vụ ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn khi Phụ lục Hợp đồng lao động số HK-32-01/PLHĐLĐ-2018 ngày 30/9/2019 hết hạn là không có cơ sở chấp nhận.
[3.2] Xét yêu cầu của đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Phùng Hải Đ tại phiên tòa:
- - Buộc Công ty TNHH C1 thanh toán tiền lương trong thời gian nghỉ việc (tính từ ngày 01/10/2023 đến ngày 26/6/2025) theo Điều 3.1.2 Hợp đồng lao động số HK-032/HĐLĐ-2020 ngày 01/10/2020 với số tiền là 423.176.923 đồng;
- - Buộc Công ty TNHH C1 đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp, Bảo hiểm tai nạn trong thời gian từ ngày 01/10/2023 đến ngày 26/6/2025 theo Điều 3.1.9 – Chế độ bảo hiểm của Hợp đồng lao động số HK-032/HĐLĐ-2020 ngày 01/10/2020 với số tiền là 90.983.038 đồng.
- - Buộc Công ty TNHH C1 bồi thường 02 tháng tiền lương đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật với số tiền là 40.600.000 đồng.
Tổng cộng nguyên đơn ông Phùng Hải Đ yêu cầu bị đơn Công ty TNHH C1 phải bồi thường cho ông số tiền là: (423.176.923 đồng + 90.983.000đồng + 40.600.000 đồng = 544.759.961 đồng).
Hội đồng xét xử xét thấy, như đã phân tích tại Mục [3.1] trên, là không có cơ sở chấp nhận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với phân tích, nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử.
[4] Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án thì nguyên đơn được miễn án phí sơ thẩm. Bị đơn không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 32; điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 91, 147, 271, 273, 277 và Điều 401 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 22 và Điều 24 Bộ luật Lao động năm 2012;
- - Căn cứ khoản 1 Điều 34 Bộ luật Lao động năm 2019;
- - Căn cứ Điều 5 Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động;
- - Căn cứ Luật phí, lệ phí Tòa án và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014
Xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phùng Hải Đ đối với bị đơn Công ty TNHH C1:
- - Buộc Công ty TNHH C1 thanh toán tiền lương trong thời gian nghỉ việc (tính từ ngày 01/10/2023 ngày 26/6/2025) theo Điều 3.1.2 Hợp đồng lao động số HK-032/HĐLÐ-2020 ngày 01/10/2020 với số tiền là 423.176.923 (bốn trăm hai mươi ba triệu, một trăm bảy mươi sáu ngàn, chín trăm hai mươi ba) đồng;
- - Buộc Công ty TNHH C1 đóng các khoản: Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp, Bảo hiểm tai nạn trong thời gian từ ngày 01/10/2023 đến ngày 26/6/2025 theo Điều 3.1.9 – Chế độ bảo hiểm của Hợp đồng lao động số HK-032/HĐLĐ-2020 ngày 01/10/2020 là 90.983.038 (chín mươi triệu, chín trăm tám mươi ba ngàn, không trăm tám mươi ba) đồng.
- - Buộc Công ty TNHH C1 bồi thường 02 tháng tiền lương đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật là 40.600.000 (bốn mươi triệu, sáu trăm ngàn) đồng.
Tổng cộng số tiền yêu cầu Công ty TNHH C1 phải trả cho ông Phùng Hải Đ số tiền là: (423.176.923 đồng + 90.983.000đồng + 40.600.000 đồng = 544.759.961 (năm trăn bốn mươi bốn triệu, bảy trăm năm mươi chín ngàn, chín trăm sáu mươi mốt) đồng.
- Về án phí: Nguyên đơn ông Phùng Hải Đ được miễn án phí sơ thẩm; Bị đơn Công ty TNHH C1 không phải chịu án phí.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thuần Phong |
Bản án số 05/2025/LĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
- Số bản án: 05/2025/LĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Lao động
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
