Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 - QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - QUẢNG NINH

Bản án số: 05/2025/KDTM-ST

Ngày: 30-9 - 2025

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quýnh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Tường Vi và Bà Lê Thị Thanh Thuỷ;

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Quảng Ninh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Mạc Thị Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 3 - Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 05/2025/TLST - KDTM ngày 04 tháng 4 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-KDTM ngày 03 tháng 9 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số: 05/2025/QÐST-KDTM ngày 18 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng N2 (A1); địa chỉ trụ sở: số B, L, phường G, thành phố Hà Nội; người đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng N2: ông Nguyễn Trung H, chức vụ: Phó giám đốc A1 Chi nhánh N3 theo Giấy uỷ quyền ngày 29/7/2024, có mặt tại phiên toà.

Bị đơn: - Ông Hoàng Văn T, sinh năm: 1967; nơi thường trú: thôn A, xã H, đặc khu V, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: tổ C, khu D, phường C, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên toà.

- Bà Đào Thị Minh N, sinh năm: 1973; nơi thường trú: thôn A, xã H, đặc khu V, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: tổ D, khu G, phường Q, tỉnh Quảng Ninh (bà N được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh số 22B 8004597), vắng mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Hoàng Xuân D, sinh năm: 1996; nơi thường trú: thôn A, xã H, đặc khu V, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: tổ C, khu D, phường C, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 10 tháng 6 năm 2024, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngân hàng N2 (A1) có ký với ông Hoàng Văn T và bà Đào Thị Minh N Hợp đồng tín dụng số 8018LAV202300036 ngày 23/02/2023, với các nội dung cụ thể: số tiền cho vay 9.400.000.000 đồng; toàn bộ dư nợ đang theo dõi tại HĐTD số 8018-LAV-202100317 ngày 11/11/2021 sẽ được chuyển sang theo dõi tại HĐTD này kể từ ngày 23/02/2023; phương thức cho vay: cho vay theo hạn mức; mục đích kinh doanh mua bán vật tư phụ tùng ô tô, sửa chữa ô tô, mua bán các loại máy móc phục vụ công trình khai thác mỏ; thời hạn duy trì hạn mức: 01 năm (12 tháng), kể từ ngày ký kết hợp đồng; thời hạn cho vay và kỳ hạn trả nợ: theo từng báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ; lãi suất tại thời điểm ký hợp đồng 10,5%/năm, điều chỉnh 03 (hoặc 06) tháng/lần, lãi suất cho vay thả nổi = lãi suất niêm yết tối đa tiền gửi tiết kiệm VNĐ 12 tháng trả lãu cuối kỳ + biên độ nhất định, không thấp hơn sàn lãi suất cho vay theo quy định của A1 tại thời điểm cho vay hoặc thời điểm điều chỉnh lãi suất. Để đảm bảo cho toàn bộ khoản vay trên, ông Hoàng Văn T và bà Đào Thị Minh N đã thế chấp các tài sản sau:

Tài sản 1: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: -/-, Tờ bản đồ số: -/-, địa chỉ thửa đất: ô số 21 lô TT8 QH khu biệt thự khách sạn phía Tây cầu B, phường B, thành phố H, nay là phường B, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 772586, số vào sở cấp GCN: CH 17174 do UBND thành phố H, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 30/10/2017 mang tên bà Đào Thị Minh N, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/BĐTD ngày 09/12/2020, số công chứng: 2595/2020, quyển số 06 TP/CC-SCC/HĐGĐ ngày 09/12/2020 tại Văn phòng C và phụ lục hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/BĐTD – PL 01 ngày 11/11/2021.

Tài sản 2: Toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa số: 331c, tờ bản đồ số: 18, địa chỉ thửa đất: tổ E, khu D, phường C, nay là phường C, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 534614, số vào sổ cấp GCN: CH 00224 do UBND thành phố C, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 27/04/2021 mang tên ông Hoàng Văn T và bà Đào Thị Minh N, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02/HĐBĐ ngày 11/11/2021, số công chứng: 2839, quyển số 06/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 11/11/2021 tại văn phòng C và hợp đồng sửa đổi bổ sụng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/BĐTD – PL 02 ngày 23/02/2023 và hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02/HĐBĐ – PL 01 ngày 23/02/2023 được ký kết giữa bên nhận thế chấp: Ngân hàng A1 - Chi nhánh N3 với bên thế chấp là bà Đào Thị Minh N, ông Hoàng Văn T.

A1 đã giải ngân cho ông T, bà N số tiền là 9.400.000.000 đồng theo đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ đã ký, quá trình thực hiện hợp đồng ông T, bà N mới trả cho A1 tổng số tiền là 229.245.205 đồng, trong đó: trả tiền nợ gốc là 0 đồng, nợ lãi là 229.245.205 đồng.

A1 đã nhiều lần đôn đốc ông T, bà N trả nợ theo đúng cam kết, đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ tuy nhiên ông T, bà N không tiếp tục trả nợ nên các khoản vay đều đã chuyển nợ quá hạn, cụ thể: kể từ ngày 14/5/2024 phát sinh lãi quá hạn đối với giấy nhận nợ 8018LDS202200480 đã giải ngân ngày 11/8/2022; kể từ ngày 24/8/2024 phát sinh lãi quá hạn đối với giấy nhận nợ 8018LDS202300068 đã giải ngân ngày 23/02/2023; kể từ ngày 11/9/2024 đã phát sinh lãi quá hạn đối với giấy nhận nợ 8018LDS202300094 đã giải ngân ngày 10/3/2023.

Do ông T, bà N vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên A1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các nội dung: buộc ông T, bà N phải thanh toán cho A1 tổng số tiền gốc, lãi, lãi phạt chậm trả tính đến ngày xét xử 30/9/2025 là 12.538.068.124 đồng (mười hai tỷ năm trăm ba mươi tám triệu không trăm sáu mươi tám nghìn một trăm hai mươi bốn đồng) trong đó: nợ gốc 9.400.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 2.411.101.096 đồng; lãi quá hạn 571.595.068 đồng, lãi phạt chậm trả: 155.371.959 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông T, bà N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn các bên thoả thuận trong trong Hợp đồng tín dụng số 8018LAV202300036 ký ngày 23/02/2023 giữa Ngân hàng A1 – Chi nhánh N3 với bên vay là ông Hoàng Văn T và bà Đào Thị Minh N. Trường hợp ông T, bà N không trả được nợ thì A1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo các hợp đồng thế chấp đã ký kết giữa A1 với ông T, bà N. Sau khi Toà án tiến hành xem xét thẩm định tài sản, đối với tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất thuộc ô số 21 lô TT8 QH khu biệt thự khách sạn phía T cầu B, phường B, tỉnh Quảng Ninh Ngân hàng hoàn toàn nhất trí với nội dung thẩm định; riêng đối với tài sản bảo đảm là toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa số: 331c, tờ bản đồ số: 18, có địa chỉ tại tổ E, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 534614, số vào sổ cấp GCN: CH 00224 do UBND thành phố C, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 27/04/2021 mang tên ông Hoàng Văn T và bà Đào Thị Minh N, hiện trên đất có một phần nhà xưởng cùng đồ nội thất do anh Hoàng Xuân D (con trai ông T – bà N) xây dựng để rửa xe ô tô, đây là tài sản của anh D, được hình thành sau khi ông T, bà N ký hợp đồng thế chấp với A1 nên khi phải xử lý tài sản thế chấp thì A1 yêu cầu anh D phải di dời, tháo dỡ toàn bộ nhà xưởng và phụ tùng nội thất để trả lại quyền sử dụng đất đảm bảo để xử lý tài sản thế chấp, thu hồi khoản nợ đảm bảo quyền lợi cho A1.

Trường hợp số tiền thu được từ xử lý tài sản thế chấp không đủ trả nợ thì ông T, bà N phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho A1 cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay. A1 yêu cầu ông T, bà N hoàn trả lại chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ mà A1 đã nộp.

* Tại bản tự khai và quá trình tiếp cận công khai chứng cứ, bị đơn bà Đào Thị Minh N có quan điểm: do có nhu cầu vốn kinh doanh nên bà và ông Hoàng Văn T có ký kết hợp đồng vay Ngân hàng N4 Chi nhánh N3 số tiền 9.400.000.000 đồng, hai bên ký hợp đồng tín dụng tại Ngân hàng và giải ngân đủ số tiền. Để đảm bảo khoản vay bà và ông T có ký hợp đồng thế chấp 02 tài sản đúng như Ngân hàng đã trình bày. Tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng và thế chấp bà có đăng ký hộ kinh doanh và là chủ hộ kinh doanh. Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với vợ chồng ông bà, bà đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện về mặt thời gian để cho vợ chồng ông bà thu xếp trả nợ trong thời gian sớm nhất. Khi thẩm định tại chỗ do bận công việc nên bà N không tham gia thẩm định nhưng đến nay được công khai chứng cứ bà N nhất trí với kết quả thẩm định. Đối với một phần nhà xưởng xây dựng trên thửa đất ở tổ E, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh nay thuộc phường C, tỉnh Quảng Ninh trước đây ông T là người xin giấy phép xây dựng hộ cho anh D (con trai) để làm nhà xưởng kinh doanh rửa xe, nội thất ô tô. Anh D có hợp đồng thuê đất của bà, do là mẹ con nên hợp đồng thuê đất không làm thủ tục công chứng chứng thực nhưng bà khẳng định việc xây dựng nhà xưởng trên đất thế chấp là của anh Hoàng Xuân D, việc kinh doanh trên đó là của anh D, tài sản nhà xưởng là của con trai ông bà. Trong trường hợp ông T và bà N không trả được nợ cho Ngân hàng thì bà đồng ý xử lý tài sản quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại thửa đất thuộc ô số 21 lô TT8 QH khu biệt thự khách sạn phía Tây cầu B, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh và quyền sử dụng đất ở tổ E, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh nay thuộc phường C, tỉnh Quảng Ninh theo quy định nhưng đối với tài sản trên đất của anh Hoàng Xuân D thì đề nghị Toà án xử lý đảm bảo quyền lợi cho con trai ông bà. Bà N1 cũng đã nhận được bản sao đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo đơn do Ngân hàng gửi và nhận được thông báo của Tòa án về việc thu thập được tài liệu chứng cứ. Bà Nguyệt không yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu chứng cứ nào khác, không yêu cầu Tòa án triệu tập đương sự khác, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa.

Bị đơn ông Hoàng Văn T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Hoàng Xuân D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng hợp lệ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa được tống đạt theo đúng quy định tuy nhiên, ông T và anh D đều vắng mặt không có lý do, không trình bày ý kiến, quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả nay là Toà án nhân dân khu vực 3 - Quảng Ninh đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với các tài sản thế chấp của ông T và bà N1 theo các hợp đồng thế chấp đã ký kết, cụ thể như sau:

Đối với tài sản 1: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: -/-, Tờ bản đồ số: -/-, địa chỉ thửa đất: ô số 21 lô TT8 QH khu biệt thự khách sạn phía Tây cầu B, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh nay là phường B, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 772586, số vào sổ cấp GCN: CH 17174 do UBND thành phố H, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 30/10/2017 mang tên bà Đào Thị Minh N. Kết quả thẩm định: nhà, đất được xây dựng đúng quy hoạch, không chồng lấn, không có tranh chấp khiếu kiện liên quan. Hiện trên đất có chị Đào Thúy A - là cháu ruột của bà Đào Thị Minh N, chị Thúy A có quan điểm: do bà N không sử dụng đến tài sản này nên cho chị mượn để ở từ tháng 8/2023 cho thuận tiện việc đi học của các con. Do là cô cháu trong nhà nên không có ký kết hợp đồng thuê mượn, quá trình mượn và sử dụng nhà ở gia đình chị không xây dựng, tôn tạo gì mới. Việc bà N thế chấp nhà, đất này cho Ngân hàng A1 chị cũng biết, nếu bà N không có khả năng trả nợ cho Ngân hàng thì chị cũng sẽ bàn giao trả lại nhà cho bà N để xử lý tài sản theo quy định và việc xử lý tài sản thế chấp không ảnh hưởng đến quyền lợi của chị.

Đối với tài sản 2: Toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa số: 331c, tờ bản đồ số: 18, có địa chỉ tại tổ E, khu D, phường C, nay là phường C, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 534614, số vào sổ cấp GCN: CH 00224 do UBND thành phố C, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 27/04/2021 mang tên ông Hoàng Văn T và bà Đào Thị Minh N. Kết quả thẩm định thể hiện: về quyền sử dụng đất được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 132,0m² được giới hạn bởi các điểm (1,2,3,4,1), phù hợp với kích thước, diện tích, ranh giới theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đã được cấp. Về tài sản trên đất có 01 phần xưởng mái tôn được ông Hoàng Văn T và bà Đào Thị Minh N xin cấp phép ngày 22/11/2022, toàn bộ xưởng + nội thất của xưởng hình thành sau khi thế chấp cho Ngân hàng và là tài sản của anh Hoàng Xuân D. Anh Hoàng Xuân D có quan điểm: mảnh đất 132m² là của bố mẹ đẻ anh (ông Hoàng Văn T và bà Đào Thị Minh N). Sau khi bố mẹ anh ký thế chấp quyền sử dụng đất cho Ngân hàng A1 thì anh có nhờ bố mẹ anh làm thủ tục xin cấp phép xây dựng để anh xây dựng xưởng rửa xe ô tô lợp mái tôn và toàn bộ phụ tùng, nội thất của xưởng để phục vụ kinh doanh, việc xây dựng Ngân hàng biết và đồng ý để anh xây dựng, toàn bộ tài sản xây dựng là của anh. Anh có hợp đồng thuê đất với bố mẹ anh, có đăng ký giấy phép kinh doanh và giấy phép xây dựng. Trong trường hợp bố mẹ anh không trả được nợ cho Ngân hàng mà phải xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thì anh sẽ tự nguyện tháo dỡ toàn bộ công trình trên đất đi chỗ khác. Các phụ tùng vật tư phục vụ cho việc kinh doanh và nội thất trong xưởng cũng là của anh. Anh đề nghị Toà án tạo điều kiện cho đến khi bên Thi hành án xử lý tài sản thế chấp cho bên thứ 3 (chủ mới) thì anh di chuyển đi chỗ khác.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025); về thẩm quyền: xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp và đúng tư cách tố tụng của các đương sự tham gia tố tụng; về thời hạn chuẩn bị xét xử và các thủ tục tố tụng khác. Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025); bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có mặt theo triệu tập của Tòa án, vi phạm Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Về quan điểm giải quyết vụ án: căn cứ vào các Điều 292, 299, 317, 319, 463, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 210 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024; khoản 1 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ·HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đề nghị Hội đồng xét xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N2 (A1), buộc bị đơn ông Hoàng Văn T và Đào Thị Minh N phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 30/9/2025 là 12.538.068.124 đồng (mười hai tỷ năm trăm ba mươi tám triệu không trăm sáu mươi tám nghìn một trăm hai mươi bốn đồng) trong đó: nợ gốc 9.400.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 2.411.101.096 đồng; lãi quá hạn 571.595.068 đồng, lãi phạt chậm trả: 155.371.959 đồng và toàn bộ lãi phát sinh theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng ký kết giữa các bên cho đến khi ông Hoàng Văn T và bà Đào Thị Minh N thanh toán hết nợ cho A1. Trường hợp ông T, bà N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Al có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo quy định pháp luật. Buộc anh Hoàng Xuân D phải tháo dỡ một phần công trình xây dựng là xưởng tôn được giới hạn bởi các điểm (1,2,3,4,1) trên thửa đất số: 331c, tờ bản đồ số: 18, có địa chỉ tại tổ E, khu D, phường C, nay là phường C, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 534614, số vào sổ cấp GCN: CH 00224 do UBND thành phố C, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 27/04/2021 mang tên ông Hoàng Văn T và bà Đào Thị Minh N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: đây là vụ án kinh doanh thương mại về tranh chấp hợp đồng tín dụng và bị đơn ông Hoàng Văn T và bà Đào Thị Minh N có nơi cư trú tại phường C và phường Q, tỉnh Quảng Ninh; bà N có đăng ký hộ kinh doanh có địa điểm kinh doanh tại phường Q, tỉnh Quảng Ninh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả nay là Toà án nhân dân khu vực 3 – Quảng Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 30; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

[2] Quá trình giải quyết vụ án Toà án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ phát sinh người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Hoàng Xuân D nên đã ra thông báo bổ sung người tham gia tố tụng. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt tại phiên tòa; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên toà nhưng vẫn vắng mặt, nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 2, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.

[3] Về nội dung tranh chấp: Ngân hàng A1 - Chi nhánh N3 và ông Hoàng Văn T, bà Đào Thị Minh N đã ký kết hợp đồng tín dụng số 8018LAV202300036 ngày 23/02/2023, xét thấy, giao dịch dân sự giữa A1 với ông T, bà N được lập thành văn bản, tại thời điểm ký kết các đương sự có đầy đủ năng lực chủ thể, hoàn toàn tự nguyện, về hình thức của hợp đồng, mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, do đó các giao dịch này có hiệu lực pháp luật theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015, là căn cứ pháp lý để các bên thực hiện.

Sau khi ký hợp đồng, A1 đã thực hiện đúng nghĩa vụ giải ngân cho ông T, bà N theo đúng hợp đồng tín dụng số 8018LAV202300036 ngày 23/02/2023 với tổng số tiền là 9.400.000.000 đồng, theo các báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ số 8018-LDS-202200480 ngày 11/8/2022; 8018-LDS-202300068 ngày 23/02/2023; 8018-LDS-202300094 ngày 10/3/2023, được ký kết giữa bên cho vay: Ngân hàng A1 - Chi nhánh N3 và bên vay: ông Hoàng Văn T và bà Đào Thị Minh N. Ông T, bà N đã nhận đủ số tiền vay và đã trả A1 tổng số tiền là 229.245.205 đồng, trong đó: trả tiền nợ gốc là 0 đồng, nợ lãi là 229.245.205 đồng. Sau đó, ông T, bà N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho A1 như đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, do đó các khoản vay phát sinh lãi trong hạn, kể từ ngày 14/5/2024 thì phát sinh lãi quá hạn đối với giấy nhận nợ 8018LDS202200480 đã giải ngân ngày 11/8/2022; kể từ ngày 24/8/2024 thì phát sinh lãi quá hạn đối với giấy nhận nợ 8018LDS202300068 đã giải ngân ngày 23/02/2023; kể từ ngày 11/9/2024 đã phát sinh lãi quá hạn đối với giấy nhận nợ 8018LDS202300094 đã giải ngân ngày 10/3/2023. Bà N1 cũng thừa nhận do việc làm ăn kinh doanh gặp khó khăn nên không trả được nợ cho A1, do vậy ông T, bà N1 đã vi phạm Điều 5 của hợp đồng tín dụng đã ký kết, do vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên A1 khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông T, bà N1 phải trả toàn bộ nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nghĩa vụ theo hợp đồng tín dụng đã ký giữa các bên, yêu cầu của A1 là phù hợp và có căn cứ theo quy định của: Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 210 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024;

Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 01/BĐTD ngày 09/12/2020 và phụ lục hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/BĐTD – PL 01 ngày 11/11/2021; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02/HĐBĐ ngày 11/11/2021, hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/BĐTD – PL 02 ngày 23/02/2023 và hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02/HĐBĐ – PL 01 ngày 23/02/2023 được ký kết giữa bên nhận thế chấp: Ngân hàng A1 - Chi nhánh N3 với bên thế chấp là bà Đào Thị Minh N, ông Hoàng Văn T là hoàn toàn tự nguyện, được chứng nhận bởi cơ quan công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Quá trình xem xét, thẩm định đối với các tài sản thế chấp thể hiện: đối với tài sản 1: toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: -/-, Tờ bản đồ số: -/-, địa chỉ thửa đất: ô số 21 lô TT8 QH khu biệt thự khách sạn phía Tây cầu B, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh nay là phường B, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 772586, số vào sổ cấp GCN: CH 17174 do UBND thành phố H, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 30/10/2017 mang tên bà Đào Thị Minh N. Kết quả thẩm định: nhà, đất được xây dựng đúng quy hoạch, không chồng lấn, không có tranh chấp khiếu kiện liên quan. Hiện trên đất có chị Đào Thúy A là cháu ruột của bà Đào Thị Minh N, do bà N không sử dụng đến tài sản này nên cho chị Thúy A mượn để ở việc xử lý tài sản thế chấp không ảnh hưởng đến quyền lợi của chị Thúy A.

Đối với tài sản 2: toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa số: 331c, tờ bản đồ số: 18. địa chỉ thửa đất: tổ E, khu D, phường C, nay là phường C, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 534614, số vào sổ cấp GCN: CH 00224 do UBND thành phố C, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 27/04/2021 mang tên ông Hoàng Văn T và bà Đào Thị Minh N. Kết quả thẩm định thể hiện: Về quyền sử dụng đất được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 132,0m² được giới hạn bởi các điểm (1,2,3,4,1), phù hợp với kích thước, diện tích, ranh giới theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đã được cấp. Về tài sản trên đất có 01 phần xưởng mái tôn được ông Hoàng Văn T xin cấp phép ngày 22/11/2022, toàn bộ xưởng + nội thất của xưởng hình thành sau khi thế chấp cho Ngân hàng và là tài sản của anh Hoàng Xuân D (là con trai của ông T và bà N). Anh Hoàng Xuân D có hợp đồng thuê đất có chữ ký của anh D với bà N, quá trình giải quyết vụ án bà N và đại diện A1 cũng khẳng định tài sản trên thửa đất là do anh D đứng ra xây dựng và trực tiếp kinh doanh kể từ sau khi thửa đất được thế chấp cho A1; anh D cũng có quan điểm tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ: trong trường hợp bố mẹ anh không trả được nợ cho Ngân hàng mà phải xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thì anh sẽ tự nguyện tháo dỡ toàn bộ công trình trên đất đi chỗ khác. Các phụ tùng vật tư phục vụ cho việc kinh doanh và nội thất trong xưởng cũng là của anh. Anh đề nghị Toà án tạo điều kiện cho đến khi bên Thi hành án xử lý tài sản thế chấp cho bên thứ 3 (chủ mới) thì anh di chuyển đi chỗ khác. Do vậy, căn cứ Điều 1 về tài sản thế chấp; Điều 2 về nghĩa vụ được bảo đảm; Điều 5, Điều 7 của các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và các phụ lục hợp đồng; khoản 1 Điều 3 của hợp đồng tín dụng đã ký kết. Căn cứ quy định tại khoản 1, 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng, các Điều 298, 299, 317, 319, 320 Bộ luật Dân sự năm 2015, do bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì bên cho vay có quyền xử lý nợ và tài sản bảo đảm theo hợp đồng cấp tín dụng và hợp đồng thế chấp nên chấp nhận yêu cầu của A1 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp khi ông T, bà N không trả được nợ.

Trường hợp ông T và bà N khồng trả được nợ cho A1 và phải xử lý tài sản thế chấp thì cần buộc anh D phải tháo dỡ một phần công trình nhà xưởng sửa chữa xe ô tô được giới hạn bởi các điểm (1,2,3,4,1) của anh Hoàng Xuân D trên thửa số: 331c, tờ bản đồ số: 18 tại tổ E, khu D, phường C, nay là phường C, tỉnh Quảng Ninh của ông T và bà N.

(Cả 02 tài sản thế chấp có sơ đồ khảo sát hiện trạng sử dụng đất do Công ty cổ phần Đ bản đồ và kiến trúc quy hoạch Việt Nam kèm theo).

[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: nguyên đơn Ngân hàng N2 yêu cầu bị đơn phải hoàn trả lại tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đã nộp là 19.900.000 đồng (mười chín triệu chín trăm nghìn đồng), do yêu cầu khởi kiện của A1 được Toà án chấp nhận nên cần buộc bị đơn phải hoàn trả lại tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ mà nguyên đơn đã nộp.

Về chi phí triệu tập đương sự là ông Hoàng Văn T trên phương tiện thông tin đại chúng do A1 tự nguyện chịu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng N2 (A1) được chấp nhận nên bị đơn là ông T và bà N phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Trả lại cho nguyên đơn Ngân hàng N2 tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[6] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025);

Căn cứ vào các Điều 117, 298, 299, 317, 319, 320, 357, 398, 422, 463; khoản 1 Điều 466; Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 và khoản 1 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 210 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024; khoản 1 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;

Căn cứ vào Điều 7, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N2 (A1);

Buộc bị đơn ông Hoàng Văn T và bà Đào Thị Minh N phải trả cho Ngân hàng N2 tổng số tiền tính đến ngày 30/9/2025 là 12.538.068.124 đồng (mười hai tỷ năm trăm ba mươi tám triệu không trăm sáu mươi tám nghìn một trăm hai mươi bốn đồng) trong đó: nợ gốc 9.400.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 2.411.101.096 đồng; lãi quá hạn 571.595.068 đồng, lãi phạt chậm trả: 155.371.959 đồng theo hợp đồng tín dụng số 8018LAV202300036 ngày 23/02/2023 được ký kết giữa Ngân hàng N2, Chi nhánh N3 với ông Hoàng Văn T và bà Đào Thị Minh N.

Kể từ ngày 01/10/2025 cho đến khi tất toán xong toàn bộ khoản vay, ông Hoàng Văn T và bà Đào Thị Minh N còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 8018LAV202300036 ngày 23/02/2023 được ký kết giữa Ngân hàng N2, Chi nhánh N3 với ông Hoàng Văn T và bà Đào Thị Minh N.

2. Về việc xử lý tài sản thế chấp: Trong trường hợp ông Hoàng Văn T và bà Đào Thị Minh N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N2 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý các tài sản thế chấp là:

+ Tài sản 1: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: -/-, Tờ bản đồ số: -/-, địa chỉ thửa đất: ô số 21 lô TT8 QH khu biệt thự khách sạn phía Tây cầu B, phường B, thành phố H, nay là phường B, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 772586, số vào sổ cấp GCN: CH 17174 do UBND thành phố H, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 30/10/2017 mang tên bà Đào Thị Minh N theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/BĐTD ngày 09/12/2020, số công chứng: 2595/2020, quyển số 06 TP/CC-SCC/HĐGĐ ngày 09/12/2020 tại Văn phòng C và phụ lục hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/BĐTD – PL 01 ngày 11/11/2021.

- Tài sản 2: toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa số: 331c, tờ bản đồ số: 18, có địa tại tổ E, khu D, phường C, nay là phường C, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 534614, số vào sổ cấp GCN: CH 00224 do UBND thành phố C, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 27/04/2021 mang tên ông Hoàng Văn T và bà Đào Thị Minh N theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02/HĐBĐ ngày 11/11/2021, số công chứng: 2839, quyển số 06/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 11/11/2021 tại văn phòng C và hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/BĐTD – PL 02 ngày 23/02/2023 và hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02/HĐBĐ – PL 01 ngày 23/02/2023 được ký kết giữa bên nhận thế chấp: Ngân hàng A1 - Chi nhánh N3 với bên thế chấp là bà Đào Thị Minh N, ông Hoàng Văn T.

(Cả 02 tài sản thế chấp có sơ đồ khảo sát hiện trạng sử dụng đất do Công ty cổ phần Đ bản đồ và kiến trúc quy hoạch Việt Nam kèm theo).

Trong trường hợp số tiền thu hồi được từ tài sản đảm bảo không đủ trả nợ thì ông Hoàng Văn T và bà Đào Thị Minh N còn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N2 cho đến khi tất toán xong toàn bộ khoản tiền vay.

Buộc anh Hoàng Xuân D phải tháo dỡ một phần xưởng tôn có diện tích 132m² được giới hạn bởi các điểm (1,2,3,4,1) xây dựng trên thửa đất số 331c, tờ bản đồ số: 18, có địa chỉ tại tổ E, khu D, phường C, nay là phường C, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 534614, số vào sổ cấp GCN: CH 00224 do UBND thành phố C, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 27/04/2021 mang tên ông Hoàng Văn T và bà Đào Thị Minh N.

3. Về chi phí tố tụng: buộc ông Hoàng Văn T và bà Đào Thị Minh N phải hoàn trả cho Ngân hàng N2 tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, số tiền là 19.900.000 đồng (mười chín triệu chín trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Về án phí: bị đơn ông Hoàng Văn T và bà Đào Thị Minh N phải chịu 120.538.068 đồng (một trăm mười hai triệu năm trăm ba mươi tám nghìn không trăm sáu mươi tám đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Trả lại cho Ngân hàng N2 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 59.314.400 đồng (năm mươi chín triệu ba trăm mười bốn nghìn bốn trăm đồng), theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0000885 ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Quảng Ninh.

5. Về quyền kháng cáo: án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 3 – Quảng Ninh;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Quýnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/KDTM-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - QUẢNG NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 05/2025/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Ngân hàng đối với bà Đào Thị Minh Ng và ông Hoàng Văn Th
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger