Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG NINH

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/KDTM-ST

Ngày: 24 - 03 - 2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nam.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Thùy và bà Ngô Thị Tân

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Ngọc Anh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Phan Bảo Cường, kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 14/2024/TLST-KDTM ngày 25 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXXST - KDTM ngày 25/12/2024, giữa các đương sự:

Đồng nguyên đơn:

  1. Công ty Cổ phần M, địa chỉ: Tầng A, tòa nhà V, số I D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Công T - Chức vụ: Giám đốc; người đại diện theo ủy quyền: Ông Cao Duy T1, chức vụ: Trưởng phòng xử lý nợ miền B; Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Bùi Tiến D, chức vụ: Trưởng bộ phận xử lý nợ; ông Lê Văn C, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ, địa chỉ: Tầng A, tòa nhà V, số I D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội.
  2. Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (Ngân hàng TMCP V - V1).
    Địa chỉ: Tòa V, số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội; người đại diện theo pháp luật: ông Ngô Chí D1 - chức vụ: Hội đồng quản trị; Đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Hoàng L - chức vụ: Giám đốc trung tâm thu hồi nợ khác hàng doanh nghiệp và xử lý nợ pháp lý; địa chỉ: Tòa V, số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội. Đại diện theo ủy quyền lại: Ông Lê Văn C – Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ của Công ty Cổ phần M (Theo Văn bản uỷ quyền số 11/2024/UQ-VPB ngày 01/7/2024 của Ngân hàng TMCP V), địa chỉ: Tầng A, tòa nhà V, số I D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội.

Ông Lê Văn C vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

2

Bị đơn: Ông Mai Văn Đ, địa chỉ: Thôn X, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Sở Nông Nghiệp và Môi trường tỉnh Q; Người đại diện theo pháp luật: ông Trần Quốc T2, Giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Trung H, Phó Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Q; Địa chỉ: Số A, đường H, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; Ông Nguyễn Trung H vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • - Ủy ban nhân dân xã H; Người đại diện theo pháp luật: ông Phan Quốc K, Chủ tịch UBND; địa chỉ: Xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt
  • - Ông Mai Văn Đ1 và bà Hoàng Thị B, địa chỉ: Thôn X, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 16/9/2024, các bản tự khai, quá trình giải quyết và tại phiên tòa,đại diện hợp pháp phía nguyên đơn là Công ty Cổ phần M và Ngân hàng TMCP V trình bày:

Theo (các) Hợp đồng cho vay ký giữa V1 với Ông Mai Văn Đ, Ông Đ đã có quan hệ tín dụng với V1, cụ thể theo (các) Hợp đồng như dưới đây:

  • Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2205105731216 ngày 11/05/2022 (Hợp đồng tín dụng) và Phụ lục số 02/PLHĐ ngày 28/06/2022, số tiền cho vay: 3.790.000.000 đồng.
  • Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn; giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 26/04/2022, số tiền cho vay, hạn mức đề nghị: 30.000.000 đồng.

Để đảm bảo cho các khoản vay trên, Ông Mai Văn Đ đã thế chấp (các) tài sản là:

  • Tài sản 1: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 233, tờ bản đồ số 04, thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CP 744615 vào sổ cấp giấy chứng nhận số CS02549 do sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 27/12/2018. Mọi công trình, tài sản khác được cải tạo, xây dựng gắn liền với thửa đất nêu trên đều thuộc tài sản bảo đảm cho khoản vay. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 4485 ngày 11/05/2022.
  • Tài sản 2: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 167, tờ bản đồ số 07, thôn X, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CP 744602 vào số cấp giấy chứng nhận số CS02551 do sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 09/01/2020. Mọi công trình, tài sản khác được cải tạo, xây dựng gắn liền với thửa đất nêu trên đều thuộc tài sản bảo đảm cho khoản vay. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số LN2206216037147 ngày 28/06/2022.

3

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Đ đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 15/07/2023 nên toàn bộ (các) khoản nợ đã chuyển sang quá hạn và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn.

Ngày 27/04/2024, V1 đồng ý bán và Công ty cổ phần M (sau đây gọi tắt là “Công ty M”) đồng ý mua một phần khoản nợ phát sinh theo (các) Hợp đồng tín dụng/Hợp đồng cho vay ký giữa V1 với Ông Mai Văn Đ, cụ thể như sau:

  • Một phần (90%) khoản nợ phát sinh theo Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2205105731216 ngày 11/05/2022 và Phụ lục số 02/PLHĐ ngày 28/06/2022.
  • Toàn bộ (100%) khoản nợ phát sinh theo Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn; giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 26/04/2022.

Ngày 30/11/2024, V1 tiếp tục bán và Công ty cổ phần M (sau đây gọi tắt là “Công ty M”) đồng ý mua một phần (90%) khoản nợ còn lại thuộc sở hữu của V1 tại Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2205105731216 ngày 11/05/2022 và Phụ lục số 02/PLHĐ ngày 28/06/2022.

Căn cứ vào quy định của pháp luật, Công ty M kế thừa một phần quyền, nghĩa vụ của V1 phát sinh từ các hợp đồng này và các biện pháp bảo đảm kèm theo. Trong đó, có quyền thực hiện khởi kiện khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm tại Tòa án theo quy định pháp luật. Đồng thời, V1 tiếp tục là chủ nợ và bên nhận bảo đảm tương ứng với phần khoản nợ chưa bán cho Công ty M.

Quá trình xử lý khoản vay, V1 và Công ty M đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu Ông Mai Văn Đ thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản vay cho VPBank/ Công ty M tuy nhiên Ông Đ không thực hiện. Vì vậy, Công ty M và V1 yêu cầu Tòa án buộc Ông Mai Văn Đ phải thanh toán cho Công ty M và V1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 24/3/2025 là: 5,228,110,216 đồng (trong đó, Nợ gốc: 3,819,076,675 đồng, N lãi trong hạn: 43,754,828 đồng, N lãi quá hạn: 1,235,645,409 đồng, L1 chậm trả: 129,633,304 đồng). Cụ thể:

  • + Buộc ông Mai Văn Đ phải thanh toán cho Công ty cổ phần M tổng số tiền tạm tính đến ngày 24/03/2025 là: 5.176.411.248 đồng (Năm tỷ, một trăm bảy mươi sáu triệu, bốn trăm mười một nghìn, hai tẳm bốn mươi tám đồng); Trong đó, nợ gốc: 3.781.176.675 đồng, nợ lãi trong hạn: 43.317.279 đồng, nợ lãi quá hạn: 1.223.566.319 đồng và lãi chậm trả: 128.350.975 đồng;
  • + Buộc Ông Mai Văn Đ phải thanh toán cho V1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 24/03/2025 là: 51,698,968 đồng (trong đó, Nợ gốc: 37.900.000 đồng, N lãi trong hạn: 437.549 đồng, N lãi quá hạn: 12.079.090 đồng, L1 chậm trả: 1.282.329 đồng).

Đồng thời kể từ ngày 25/3/2024 ông Đ tiếp tục phải chịu tiền lãi theo đúng thỏa thuận trong (các) Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ (nếu có) và văn bản tín dụng của khoản vay cho đến ngày ông Mai Văn Đ thực tế thanh toán hết nợ cho Công ty M và V1. Lãi phát sinh phải trả cho Công ty M và V1 tương ứng với tỷ lệ sở hữu của mỗi bên đối với từng khoản nợ.

Kể từ ngày Bản án/Quyết định có hiệu lực pháp luật mà ông Mai Văn Đ không trả nợ đầy đủ cho Công ty M và V1 thì Công ty M và V1 có quyền yêu cầu cơ quan

4

Thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ cho Công ty M và/hoặc V1, cụ thể như sau:

  • - Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của ông Mai Văn Đ tại thửa đất số 233, tờ bản đồ số 04, thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CP 744615 vào sổ cấp giấy chứng nhận số CS02549 do sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 27/12/2018. Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 4485 ngày 11/05/2022.
  • - Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của ông Mai Văn Đ tại thửa đất số 167, tờ bản đồ số 07, thôn X, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CP 744602 vào sổ cấp giấy chứng nhận số CS02551 do sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 09/01/2020. Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số LN2206216037147 ngày 28/06/2022.

Trong trường hợp tài sản bảo đảm sau khi kê biên, phát mại không đủ trả nợ, Công ty M và V1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh, kê biên, phát mại các tài sản khác của ông Ông Mai Văn Đ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty M và V1 cho đến khi thực tế trả hết (các) khoản nợ.

Ông Mai Văn Đ phải chịu án phí và các chi phí tố tụng liên quan (nếu có).

Về phía bị đơn ông Mai Văn Đ trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ nhưng ông Đ không đến Tòa án làm việc. Công an xã H cung cấp thông tin, ông Đ sinh sống, có mặt tại địa phương. Trước đó, vụ án này đã được thụ lý tại Hồ sơ thụ lý số: 03/2024/TLST-KDTM ngày 29/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, nhưng do nguyên đơn rút đơn khởi kiện nên vụ án đình chỉ giải quyết. Theo hồ sơ này, vào ngày 07/8/2024 ông Đ có bản tự khai và tại phiên hòa giải ngày 14/8/2024, ông Đ trình bày: ông đã ký Hợp đồng vay hạn mức LN2205105731216 ngày 11/05/2022; Phụ lục số 02/PLHĐ ngày 28/06/2022 để vay số tiền 3.790.000.000 đồng và Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn; giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 26/04/2022, số tiền cho vay, hạn mức đề nghị: 30.000.000 đồng. Để đảm bảo cho các khoản vay trên, ông đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số LN2206216037147 ngày 28/06/2022 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 4485 ngày 11/05/2022, theo đó tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 233, tờ bản đồ số 04, thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 167, tờ bản đồ số 07, thôn X, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Trong quá trình thực hiện, do làm ăn thua lỗ nên đã không trả lãi cho Ngân hàng đầy đủ. Nay Ngân hàng khởi kiện ông đề nghị được gia hạn thời gian để sắp xếp trả nợ cho Ngân hàng.

Tòa án đã tổ chức các buổi hòa giải cho các đương sự thỏa thuận giải quyết vụ án, tuy nhiên phía bị đơn không tham gia hòa giải nên không thể thỏa thuận thống nhất giải quyết toàn bộ vụ án.

Tòa án cũng đã tổ chức xem xét, thẩm định tại chỗ đối với các tài sản thế chấp

5

là QSD đất và tài sản gắn liền với đất của thửa đất số 233, tờ bản đồ số 04, thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, hiện trạng sử dụng không có tài sản trên đất.

Đối với thửa đất số 167, tờ bản đồ số 07, thôn X, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Hiện trạng trên thửa đất có một phần diện tích nhà ở và công trình phụ của ông Mai Văn Đ1, bà Hoàng Thị B cụ thể: Diện tích 16,2m² (phần phía trước mặt hiên nhà + phòng lồi đổ bê tông) ngôi nhà cấp 4; Diện tích 10,2m² mái che Broximăng; Diện tích 12m² mái tôn. Hàng rào xây bao quanh 53,77m, 02 trụ cổng 0,5x0,5x2,1; có 02 cây Mưng, 01 cây Huê.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Mai Văn Đ1, bà Hoàng Thị B; ông Đ1 trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 13/11/2024 như sau: Đối với phần tài sản theo sơ đồ thẩm định ngày 25/6/2024 thể hiện có phần diện tích ngôi nhà cấp 4 và các tài sản khác nằm trên thửa đất số 167 tờ bản đồ số 07 là tài sản của vợ chồng ông tạo dựng nên từ năm 2001 đến nay, trong đó có bàn thờ trời và hàng rào cũng do ông, bà xây dựng. Đối với phần tài sản này nằm trên thửa đất mà ông Đ thế chấp cho Ngân hàng, đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

Qua xác minh tại Công an xã H, bà Hoàng Thị B hiện có sinh sống có mặt tại địa phương. Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng bà B không đến Tòa án làm việc.

Ý kiến của Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh Q tại Văn bản số: 1407/VPĐKĐĐ ngày 17/12/2024 như sau:

Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 167, tờ bản đồ số 7 xã H, huyện Q: Ông Mai Văn Đ được UBND huyện Q giao đất làm nhà ở tại thửa đất số 321, tờ bản đồ số 3, diện tích 450,0 m² tại thôn C, xã H theo Quyết định số 130/QĐ-UB ngày 07/4/2004; ngày 25/11/2005 ông Mai Văn Đ được UBND huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AC 967363.

Ngày 20/9/2016, ông Mai Văn Đ được UBND huyện Q ký cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CĐ 906357 tại thửa đất có thông tin nêu trên (Thông tin thửa đất có thay đổi thành thửa đất số 53, tờ bản đồ số 7 xã H do đo đạc lại bản đồ địa chính).

Ngày 13/10/2016, ông Mai Văn Đ đề nghị tách thửa đất số 53, tờ bản đồ số 7 xã H thành 02 thửa đất và được chỉnh lý thành thửa đất số 167 và 168, tờ bản đồ số 7 xã H, đồng thời đề nghị cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi tách thửa mang tên ông Mai Văn Đ: Thửa đất số 167, diện tích 306,7 m² được UBND huyện Q ký cấp Giấy chứng nhận số phát hành CĐ 921033 ngày 31/10/2016; Thửa đất số 168, diện tích 298,3 m² được UBNDhuyện Quảng Ninh ký cấp Giấy chứng nhận số phát hành CĐ 921034 ngày 31/10/2016.

Ngày 27/12/2018, ông Mai Văn Đ được Sở T ký cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CP 744602 tại thửa đất số 167, tờ bản đồ số 7 xã H, huyện Q (do đo đạc lại Bản đồ địa chính).

Trong hồ sơ cấp Giấy chứng nhận của thửa đất số 167, tờ bản đồ số 7 xã H, huyện Q cho ông Mai Văn Đ không có văn bản, tài liệu nào về việc thỏa thuận về tài sản gắn liền với đất.

Đối với việc xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thửa đất số 167, tờ bản đồ số 7 xã H có liên quan đến tài sản trên đất thuộc quyền sở hữu của người

6

khác: Theo quy định tại khoản 1 Điều 95 Luật Đất đai 2013 thì việc đăng ký bổ sung quyền sở hữu tài sản được thực hiện theo yêu cầu của chủ sỡ hữu mà không phải bắt buộc. Theo hồ sơ lưu trữ do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Q cung cấp, tại toàn bộ hồ sơ đo đạc, tách thửa để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Mai Văn Đ không có bất kỳ giấy tờ, nội dung nào chứng minh các thửa đất nêu trên đã được đăng ký bổ sung quyền sở hữu tài sản trên đất, cũng như các văn bản, tài liệu nào khác về việc thỏa thuận tài sản gắn liền với đất, do đó việc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai hoàn thiện hồ sơ, trình Sở T ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 167, tờ bản đồ số 7 xã H, huyện Q cho ông Mai Văn Đ là đúng quy định.

Mặt khác, căn cứ quy định tại Điều 13 Nghị định 102/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai thì nội dung đề nghị cho ý kiến về việc xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất có liên quan đến tài sản trên đất thuộc quyền sở hữu của người khác không thuộc chức năng, nhiệm vụ của Văn phòng Đăng ký đất đai.

Ý kiến của UBND xã H, huyện Q tại Văn bản số: 655/UBND-ĐC ngày 31/12/2025 như sau:

Thửa đất số 167, tờ bản đồ số 7 tại xã H, huyện Q được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Q cấp giấy CNQSD đất số: CP 744602 ngày 27/12/2018 cho ông Mai Văn Đ. Việc Ông Mai Văn Đ được cấp Giấy CNQSD đất số: CP 744602 ngày 27/12/2018 đối với thửa đất số 167, tờ bản đồ số 7 tại xã H, huyện Q. Về sự thỏa thuận nào về tài sản gắn liền với đất tại thời điểm cấp giấy CNQSD đất, đề nghị Tòa án liên hệ Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Q cung cấp thông tin để đảm bảo chính xác hơn. Việc xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất thửa đất số 167, tờ bản đồ số 7 tại xã H, huyện Q đã cấp cho ông Mai Văn Đ sẽ làm ảnh hưởng đến tài sản trên đất là ngôi nhà cấp 4 và một số tài sản khác của ông Mai Văn Đ1, bà Hoàng Thị B. Đối với vấn đề này UBND xã H có quan điểm như sau: Qua xác minh, ông Đ1 khai ngồi nhà cấp 4 này do vợ chồng ông xây dựng và sinh sống từ năm 2001 đến nay vẫn sử dụng. Và có một số tài sản xây dựng trên thửa đất như hàng rào bao quanh, bàn thờ trời... đều là tài sản của ông Đ1, bà B tạo lập là đúng thực tế. Vì vậy, đề nghị Tòa án làm việc với ông Mai Văn Đ, ông Mai Văn Đ1, bà Hoàng Thị B, Nguyên đơn để thỏa thuận phương án xử lý phù hợp. Trường hợp các bên không thỏa thuận được đề nghị Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với đương sự: phía nguyên đơn đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình; Phía bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình trong quá trình tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Áp dụng các Điều 292, 293, 295, 298, 299, 318, 319, 322, 323, 325, 357, 401, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 91 và 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Đề nghị Hội đồng xét xử Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (V1) và Công ty Cổ phần M. Buộc

7

ông Mai Văn Đ phải thanh toán cho Công ty cổ phần M và V1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 24/3/2025 là: 5.228.110.216 đồng (Năm tỷ, hai trăm tám mươi tám triệu, một trăm mười nghìn, hai trăm mười sáu đồng); Trong đó, nợ gốc: 3.819.076.675đồng, nợ lãi trong hạn: 43.754.828 đồng, nợ lãi quá hạn: 1.235.645.409 đồng, lãi chậm trả: 129.633.304 đồng, tỷ lệ trả nợ cho Công ty M và V1 theo Hợp đồng mua bán nợ giữa Công ty cổ phần M và V1. Kể từ ngày 25/3/2025 ông Mai Văn Đ tiếp tục chịu lãi theo Hợp đồng tín dụng và các phụ lục, Khế ước nhận nợ kèm theo.

Trong trường hợp ông Mai Văn Đ không thực hiện trả, thanh toán toàn bộ số tiền nợ nêu trên thì đồng nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V và Công ty Cổ phần M được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của ông Đ tại thửa đất số 233, tờ bản đồ số 04, thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình và Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của ông Mai Văn Đ tại thửa đất số 167, tờ bản đồ số 07, địa chỉ thôn X, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, theo các hợp đồng thế chấp đã ký kết.

Đề nghị tuyên dành quyền ưu tiên cho ông Mai Văn Đ1, Hoàng Thị B, có tài sản trên đất mua lại (Nhận chuyển nhượng) thửa đất số 167, tờ bản đồ số 07, thôn X, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị đơn chịu nghĩa vụ về án phí, chi phí tố tụng khác theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về Tố tụng:

[1.1] Thẩm quyền giải quyết: Đồng nguyên đơn Công ty Cổ phần M và Ngân hàng TMCP V khởi kiện bị đơn yêu cầu ông Mai Văn Đ thanh toán tiền vay do vi phạm nghĩa vụ trả nợ, bị đơn có nơi cư trú tại thôn X, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vụ án có quan hệ tranh chấp Hợp đồng tín dụng mà các đều có đăng ký kinh doanh và mục đích lợi nhuận; căn cứ Điều 30, Điều 35, Điều 39 của BLTTDS, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

[1.2] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập nhiều lần đối với bị đơn Mai Văn Đ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mai Văn Đ1, bà Hoàng Thị B, mặc dù đang sinh sống có mặt tại địa phương nhưng ông Đ, ông Đ1, bà B không đến Tòa án làm việc. Tòa án đã xác minh, tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa lần thứ hai này, ông Đ, ông Đ1, bà B vẫn vắng mặt không có lý do.

Đại diện sở T, Môi trường và UBND xã H đã có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án, việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết nội dung vụ án, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiếp tục

8

xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[1.3] Đối với tư cách người khởi kiện: Theo hợp đồng tín dụng tranh chấp là Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2205105731216 ngày 11/05/2022 và Phụ lục số 02/PLHĐ ngày 28/06/2022, số tiền cho vay: 3.790.000.000 đồng. Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn; giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 26/04/2022, số tiền cho vay, hạn mức đề nghị: 30.000.000 đồng được ký kết giữa Ngân hàng V1 chi nhánh Q và ông Mai Văn Đ.

Theo Hợp đồng mua bán nợ số 02/2024/VPB-Mars ngày 27/04/2024, thì V1 đồng ý bán và Công ty cổ phần M (sau đây gọi tắt là “Công ty M”) đồng ý mua một phần khoản nợ phát sinh theo (các) Hợp đồng tín dụng/Hợp đồng cho vay ký giữa V1 với Ông Mai Văn Đ, cụ thể như sau: Một phần (90%) khoản nợ phát sinh theo Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2205105731216 ngày 11/05/2022 và Phụ lục số 02/PLHĐ ngày 28/06/2022 và toàn bộ (100%) khoản nợ phát sinh theo Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn; giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 26/04/2022.

Ngày 30/11/2024, theo Hợp đồng mua bán nợ số 14/2024/ VPB-Mars, V1 tiếp tục bán và Công ty cổ phần M (sau đây gọi tắt là “Công ty M”) đồng ý mua một phần (90%) khoản nợ còn lại thuộc sở hữu của V1 tại Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2205105731216 ngày 11/05/2022 và Phụ lục số 02/PLHĐ ngày 28/06/2022.

Theo quy định tại Điều 13 Thông tư số 09/2015/TT-NHNN ngày 17/5/2015 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động mua, bán nợ của Tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì V1 có quyền bán nợ cho Công ty Cổ phần M. Căn cứ khoản 1 Điều 401 Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy định: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác” và tại khoản 3 Điều 450 Bộ luật dân sự năm 2015, cụ thể “thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với quyền tài sản là thời điểm bên mua nhận được giấy tờ về quyền sở hữu đối với quyền tài sản đó hoặc từ thời điểm đăng ký việc chuyển quyền sở hữu, nếu pháp luật có quy định”. Thì hợp đồng đã phát sinh hiệu lực. Căn cứ Khoản 4 Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự và Theo quy định tại Điều 7 Nghị quyết 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì Công ty Cổ phần M là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của V1. Do đó Công ty Cổ phần M và V1 được xác định cùng đồng nguyên đơn là đúng quy định.

[2]. Xem xét nội dung yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng:

Nhận thấy ông Mai Văn Đ thừa nhận đã ký kết Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2205105731216 ngày 11/05/2022 và Phụ lục số 02/PLHĐ ngày 28/06/2022, số tiền cho vay: 3.790.000.000 đồng và ký kết Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn; giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng

9

tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 26/04/2022, số tiền cho vay, hạn mức đề nghị: 30.000.000 đồng.

Xét các Hợp đồng nêu trên được các bên ký kết hoàn toàn tự nguyện; về hình thức, nội dung, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp và đúng quy định tại các Điều 117,119 Bộ luật Dân sự. vì vậy các Hợp đồng tín dụng nêu trên có hiệu lực kể từ ngày ký kết, các bên phải có trách nhiệm, nghĩa vụ thực hiện các điều khoản theo các Hợp đồng này.

Về lãi suất, theo Hợp đồng tín dụng ngày 11/5/2022, 02 Khế ước nhận nợ vào ngày 15/5/2023 và ngày 16/5/2023 số tiền giải ngân 2.090.000.000 đồng, lãi suất trong hạn 12,5% /năm; Khế ước nhận nợ ngày 27/6/2023 số tiền giải ngân 1.700.000.000 đồng, lãi suất 12,3%/năm; Về Lãi suất quá hạn: 150% mức lãi suất cho vay trong hạn. Lãi suất chậm trả: tối đa không quá 10%/năm đối với dư lãi chậm trả là phù hợp quy định theo Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng nên các thỏa thuận về lãi suất là hợp pháp.

Đối với yêu cầu trả lãi chậm trả, căn cứ điểm a khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự và điểm b, khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất..., vì vậy thỏa thuận về trả lãi chậm trả là hợp pháp.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Mai Văn Đ đã được Ngân hàng giải ngân tổng số tiền 3.790.000.000 đồng. Đến ngày 15/07/2023 ông Đ bắt đầu vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận cho đến nay, nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn là đúng với thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng. Căn cứ theo thỏa thuận tại điểm 10 Điều 1 của Hợp đồng tín dụng và theo quy định tại Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự, Công ty Cổ phần M và Ngân hàng TMCP V khởi kiện ông Đ là có cơ sở.

Đối với việc thực hiện Hợp đồng Thẻ Hạn mức tín dụng thẻ đề nghị: 30,000,000 đồng. Loại thẻ tín dụng: Step up. Tên in trên thẻ: MAI VAN DIEP. Lãi suất thẻ tín dụng: Theo quy định của V1. Ông Mai Văn Đ đã kích hoạt thẻ và sử dụng nên phải thực hiện theo các điều khoản của Hợp đồng. Tuy nhiên, kể từ ngày 09/08/2023, ông Đ vi phạm nghĩa vụ để phát sinh nợ quá hạn, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

[3] Xem xét yêu cầu khởi kiện về việc đồng nguyên đơn Công ty Cổ phần M và Ngân hàng TMCP V được quyền xử lý tài sản sản bảo đảm theo các Hợp đồng thế chấp.

[3.1] Đối với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 4485 ngày 11/05/2022, theo đó tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 233, tờ bản đồ số 04, thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CP 744615 vào sổ cấp giấy chứng nhận số CS02549 do sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 27/12/2018.

Xét thấy Hợp đồng nêu trên được các bên ký kết hoàn toàn tự nguyện; về hình thức, nội dung, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp và đúng quy định tại các Điều 117,119 Bộ luật Dân sự.

10

Các Hợp đồng thế chấp có đăng ký tài sản bảo đảm tại cơ quan thẩm quyền là đúng quy định theo Điều 12 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 và Điều 3 Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 của Chính Phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm. Quá trình thẩm định hiện trạng sử dụng không có tài sản trên đất, phù hợp với Giấy CNQSD đất nên có đủ điều kiện để xử lý tài sản bảo đảm.

Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 318, 319 của Bộ luật dân sự; Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng để chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về xử lý tài sản bảo đảm là thửa đất số 233, tờ bản đồ số 04, thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, trong trường hợp ông Đ không trả tiền gốc và nợ lãi phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng.

[3.2] Đối với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số LN2206216037147 ngày 28/06/2022. Theo đó tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 167, tờ bản đồ số 07, thôn X, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CP 744602 vào sổ cấp giấy chứng nhận số CS02551 do sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 09/01/2020.

Xét thấy Hợp đồng này được các bên ký kết hoàn toàn tự nguyện; về hình thức, nội dung, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp và đúng quy định tại các Điều 117,119 Bộ luật Dân sự. Các Hợp đồng thế chấp có đăng ký tài sản bảo đảm tại cơ quan thẩm quyền là đúng quy định theo Điều 12 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 và Điều 3 Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 của Chính Phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm.

Tuy nhiên trong quá trình xem xét, thẩm định đối với thửa đất số 167, tờ bản đồ số 07, thôn X, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Hiện trạng trên thửa đất có một phần diện tích nhà ở và công trình phụ của ông Mai Văn Đ1, bà Hoàng Thị B cụ thể: Diện tích 16,2m² (phần phía trước mặt hiên nhà + phòng lồi đổ bê tông) ngôi nhà cấp 4; Diện tích 10,2m² mái che Bro ximăng; Diện tích 12m² mái tôn. Hàng rào xây bao quanh 53,77m, 02 trụ cổng 0,5x0,5x2,1; có 02 cây Mưng, 01 cây Huê, 01 bàn thờ trời. Ông Đ1 khai tất cả tài sản này do vợ chồng ông xây dựng, tạo lập nên. Đối với ngôi nhà cấp 4 kiên cố, vợ chồng ông đã xây dựng từ năm 2001, và ở ổn định từ đó đến nay. Như vậy, việc xử lý tài sản bảo theo Hợp đồng thế chấp đối với thửa đất số 167 tờ bản đồ số 07 sẽ làm ảnh hưởng đến các tài sản của ông Đ1, bà B nằm trên thửa đất. Trong quá trình thẩm định tài sản bảo đảm, Ngân hàng V1 không thẩm định đầy đủ nên không xác định được tài sản trên đất thuộc sở hữu của chủ sử dụng đất hay của người thứ ba không phải chủ sử dụng đất, nên Hợp đồng thế chấp xác định tài sản bảo đảm bao gồm toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (là bao gồm tài sản thuộc sở hữu của ông Đ1, bà B) mà không có ý kiến, chữ ký của ông Đ1, bà B là không đúng quy định về quyền định đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự, làm ảnh hưởng quyền, lợi ích hợp pháp của ông Đ1, bà B.

Xét quá trình cấp giấy CNQSD đất đối với thửa 167 tờ bản đồ 07 thì thấy: thửa đất này tách ra từ thửa số 321, tờ bản đồ số 3, diện tích 450,0 m² tại thôn C, xã H được UBND huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành AC

11

967363 ngày 25/11/2005 cho ông Mai Văn Đ. Do ông Đ có nhu cầu tách thửa nên ngày 31/10/2016 được UBND huyện Q ký cấp Giấy chứng nhận số phát hành CĐ 921033 đối với thửa đất số 167, diện tích 306,7 m²; Ngày 27/12/2018, ông Mai Văn Đ được Sở T ký cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CP 744602 tại thửa đất số 167, tờ bản đồ số 7 xã H, huyện Q (do đo đạc lại Bản đồ địa chính).

Theo ý kiến của Sở Tài nguyên, Môi trường tỉnh Q thì toàn bộ hồ sơ đo đạc, tách thửa để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Mai Văn Đ không có bất kỳ giấy tờ, nội dung nào chứng minh các thửa đất nêu trên đã được đăng ký bổ sung quyền sở hữu tài sản trên đất, cũng như các văn bản, tài liệu nào khác về việc thỏa thuận tài sản gắn liền với đất, do đó việc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai hoàn thiện hồ sơ, trình Sở T ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 167, tờ bản đồ số 7 xã H, huyện Q cho ông Mai Văn Đ là đúng quy định. Hội đồng xét xử nhận thấy tại Điều 95 Luật đất đai năm 2013 thì việc đăng ký bổ sung quyền sở hữu tài sản được thực hiện theo yêu cầu của chủ sỡ hữu mà không phải bắt buộc. Vì vậy Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận QSD đất đối với ông Mai Văn Đ thửa đất số 167, tờ bản đồ số 7 xã H, mà không đăng ký tài sản gắn liền với đất là đúng với Luật đất đai 2013 và Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014.

Đồng thời theo khoản 2 Điều 325 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất không đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì khi xử lý quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của mình; quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp trong mối quan hệ với chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao cho người nhận chuyển quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 95 Luật đất đai, các Điều 117,119, 318, 319, 325 của Bộ luật dân sự; Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng để chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của ông Mai Văn Đ tại thửa đất số 167, tờ bản đồ số 7 xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, trong trường hợp ông Đ không trả tiền gốc và nợ lãi phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng. Dành quyền ưu tiên cho ông Đ1, bà B mua, nhận chuyển nhượng lại thửa đất.

[4]. Về chi phí tố tụng: Đã được giải quyết trong vụ án khác nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm.

[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

[5].Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

12

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 179, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 117,119, 292, 293, 295, 298, 299, 318, 319, 322, 323, 325, 357, 401, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 91 và 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (V1) và Công ty Cổ phần M. Buộc ông Mai Văn Đ phải thanh toán cho Công ty cổ phần M và V1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 24/3/2025 là: 5.228.110.216 đồng (Năm tỷ, hai trăm hai mươi tám triệu, một trăm mười nghìn, hai trăm mười sáu đồng); Trong đó, nợ gốc: 3.819.076.675đồng, nợ lãi trong hạn: 43.754.828 đồng, nợ lãi quá hạn: 1.235.645.409 đồng, lãi chậm trả: 129.633.304 đồng. Cụ thể:

  • + Buộc ông Mai Văn Đ phải thanh toán cho Công ty cổ phần M tổng số tiền tính đến ngày 24/03/2025 là: 5.176.411.248 đồng (Năm tỷ, một trăm bảy mươi sáu triệu, bốn trăm mười một nghìn, hai trăm bốn mươi tám đồng); Trong đó, nợ gốc: 3.781.176.675 đồng, nợ lãi trong hạn: 43.317.279 đồng, nợ lãi quá hạn: 1.223.566.319 đồng và lãi chậm trả: 128.350.975 đồng;
  • + Buộc ông Mai Văn Đ phải thanh toán cho V1 tổng số tiền tính đến ngày 24/03/2025 là: 51.698.968 đồng (Năm mươi mốt triệu, sáu trăm chín mươi tám nghìn, chín trăm sáu mươi tám đồng); Trong đó, nợ gốc: 37.900.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 437.549 đồng, nợ lãi quá hạn: 12.079.090 đồng, L1 chậm trả: 1.282.329 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (24/3/2025) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận theo Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2205105731216 ngày 11/05/2022 và Phụ lục số 02/PLHĐ ngày 28/06/2022. Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn; giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 26/04/2022. Khế ước nhận nợ vào ngày 15/5/2023, Khế ước nhận nợ ngày 16/5/2023 và Khế ước nhận nợ ngày 27/6/2023 được ký kết giữa Ngân hàng V1 chi nhánh Q và ông Mai Văn Đ.

Lãi phát sinh phải trả cho Công ty Cổ phần M và V1 tương ứng với tỷ lệ sở hữu của mỗi bên đối với từng khoản nợ theo Hợp đồng chuyển nhượng số 03/2024/VPB-MARS ngày 27/4/2024 và Hợp đồng chuyển nhượng số 14/2024/VPB-MARS ngày 30/11/2024 giữa Ngân hàng TMCP V và Công ty cổ phần M.

2. Trong trường hợp ông Mai Văn Đ không thực hiện trả, thanh toán toàn bộ số tiền nợ nêu trên thì đồng nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V và Công ty Cổ phần M được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là:

  • - Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 233, tờ bản đồ

13

  • số 04, thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CP 744615 vào sổ cấp giấy chứng nhận số CS02549 do sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 27/12/2018 mang tên ông Mai Văn Đ. Theo Hợp đồng thế chấp số 4485 ngày 11/05/2022 được ký kết giữa ông Mai Văn Đ và V1 chi nhánh Q
  • - Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (thuộc sở hữu của ông Mai Văn Đ) tại thửa đất số 167, tờ bản đồ số 07, địa chỉ thôn X, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CP 744602 vào sổ cấp giấy chứng nhận số CS02551 do sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 09/01/2020 mang tên Mai Văn Đ, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số LN2206216037147 ngày 28/06/2022 được ký kết giữa ông Mai Văn Đ và V1, chi nhánh Q.

Dành quyền ưu tiên cho ông Mai Văn Đ1, Hoàng Thị B, có tài sản trên đất mua lại (Nhận chuyển nhượng) thửa đất số 167, tờ bản đồ số 07, thôn X, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CP 744602 vào sổ cấp giấy chứng nhận số CS02551 do sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 09/01/2020. Trong trường hợp ông Đ1 bà B không mua lại (Nhận chuyển nhượng) quyền sử dụng thửa đất này, thì ông Đ1, bà B được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của mình; quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp (ông Mai Văn Đ) trong mối quan hệ với chủ sở hữu tài sản (ông Đ1, bà B) được chuyển giao cho người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

3. Về án phí Dân sự sơ thẩm:

  • - Buộc ông Mai Văn Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền: 113.228.110 đồng (Một trăm mười ba triệu, hai trăm hai mươi tám nghìn, một trăm mười đồng) để sung vào Ngân sách Nhà nước.
  • - Ngân hàng Thương mại Cổ phần V được nhận lại số tiền: 11.510.000 đồng (Mười một triệu, năm trăm mười nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003982 ngày 25/10/2024.
  • - Công ty cổ phần M được nhận lại số tiền: 56.163.000 đồng (Năm mươi sáu triệu, một trăm sáu mươi ba nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003983 ngày 25/10/2024.

4. Về quyền kháng cáo: Đồng nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

5. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi

14

hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Quảng Ninh;
  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Trần Thị Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/KDTM-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 05/2025/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty Cổ phần Mars, VPBANK khởi kiện Mai Văn Điệp yêu cầu trả nợ theo HĐTD
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger