|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 05/2025/KDTM-ST Ngày 06-3-2025 “V/v tranh chấp hợp đồng xây dựng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoàng Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Hoàng Khởi.
Ông Huỳnh Minh Bền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Huyền Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 58/2024/TLST-KDTM ngày 25 tháng 11 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng thi công”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-KDTM ngày 02 tháng 01 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số: 18/2025/QĐST-KDTM ngày 14 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH X (viết tắt là Công ty X).
Địa chỉ: Số E đường L, phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Dương Chí H – Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Cao Quốc T – sinh năm 1975. (có mặt)
Địa chỉ: Số B đường P, khóm E, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Công ty TNHH X1 (viết tắt là Công ty X1).
Địa chỉ: Ấp D, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc N – Giám đốc. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Cao Quốc T trình bày:
Vào ngày 20/10/2023, Công ty X và Công ty X1 ký kết hợp đồng xây dựng “thi công đóng cọc 30x30 đại trà” thuộc dự án: Xây dựng kè chống ngập dọc tuyến Quốc lộ A qua địa bàn tỉnh Bạc Liêu, với giá trị hợp đồng tạm tính là 426.300.000 đồng. Trong quá trình thực hiện việc đóng cọc 30x30 đại trà:
- Đợt 1: Ngày 25/10/2023 50 tim (50 tim x 20md = 1.000md cọc).
- Đợt 2: Ngày 25/11/2023 50 tim (50 tim x 20md = 1.000md cọc).
- Đợt 3: Ngày 12/01/2024 50 tim (50 tim x 20md = 1.000md cọc).
- Đợt 4: Ngày 22/01/2024 52 tim (52 tim x 20md = 1.040md cọc).
Giá trị thanh toán thực tế phát sinh theo khối lượng hoàn thành (biên bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng) là 437.610.000 đồng. Công ty X đã xuất 02 hóa đơn theo yêu cầu nghiệm thu khối lượng hoàn thành, ký hiệu: 1C24TCT, hóa đơn số 02 ngày 18/01/2024 với số tiền là 210.000.000 đồng; ký hiệu 1C24TCT, hóa đơn số 3 ngày 28/02/2024 với số tiền là 227.610.000 đồng.
Công ty X1 đã thanh toán được 03 đợt với tổng số tiền là 300.000.000 đồng. Trong biên bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng có ghi rõ “Bên A phải thanh toán hết cho Bên B ngay sau khi biên bản nghiệm thu, thanh lý hợp đồng ký kết”. Nhưng sau khi Công ty X1 thanh toán được 300.000.000 đồng thì ngưng đến nay không thanh toán tiếp số tiền còn lại là 137.610.000 đồng.
Nay Công ty X yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau giải quyết buộc Công ty X1 thanh toán số tiền còn nợ là 137.610.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất.
* Bị đơn là Công ty TNHH X1 được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng đại diện Công ty không tham gia và cũng không có văn bản trình bày ý kiến về việc Công ty X khởi kiện.
* Tại phiên tòa:
Ông Cao Quốc T trình bày: Yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty TNHH X1 trả cho Công ty TNHH X số tiền còn nợ trong hợp đồng kinh tế số 02/HDDKT-2023 là 137.610.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất.
- Bị đơn Công ty X1 vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Công ty TNHH X1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia xét xử lần 2, nhưng vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt đối với bị đơn Công ty TNHH X1.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét về hợp đồng xây dựng: Vào ngày 20/10/2023, Công ty X và Công ty X1 đã ký kết hợp đồng kinh tế số 02/HĐKT.2023, nội dung hợp đồng: Công ty X1 giao khoán cho Công ty X thi công đóng cọc 30x30 cho công trình xây dựng kè chống ngập tuyến Quốc lộ A qua địa bàn tỉnh Bạc Liêu, đơn giá cọc 30x30 = 105.000 đồng/md, thi công xây dựng đoạn 02 dài 3.390m (từ lý trình Km2201 + 690 đến Km2205 + 080), giá trị hợp đồng tạm tính là 426.300.000 đồng; sau khi nghiệm thu bên B sẽ xuất hóa đơn đồng thời bên A thanh toán giá trị khối lượng nghiệm thu thực tế, thời gian thực hiện hợp đồng từ ngày 20/10/2023 đến ngày 30/01/2024; việc ký hợp đồng đại diện theo pháp luật của 02 Công ty đã thỏa thuận và ký kết hợp đồng, ký tên đóng dấu (thể thiện tại bút lục số 11, 12, 13) ; Do đó, Hợp đồng kinh tế số 02/HĐKT.2023 giữa Công ty X và Công ty X1 là hợp pháp và thực thế xảy ra.
[2.1] Xét về thực hiện hợp đồng: Sau khi ký kết hợp đồng kinh tế, thì Công ty X đã thực hiện xong thi công đóng cọc 30x30 theo nội dung thỏa thuận của hợp đồng, 02 bên đã lập biên bản xác nhận khối lượng vào ngày 22/01/2024 với tổng giá trị là 437.610.000 đồng (thể hiện tại bút lục số 09), phía Công ty X đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng số 2 ngày 18/01/2024 với số tiền là 210.000.000 đồng và hóa đơn giá trị gia tăng số 3 ngày 28/02/2024 với số tiền là 227.610.000 đồng (thể hiện tại bút lục số 03, 04); trong quá trình thực hiện hợp đồng thì Công ty X1 chỉ mới thanh toán cho Công ty X tổng số tiền là 300.000.000 đồng, còn nợ lại số tiền 137.610.000 đồng thì ngưng không thanh toán tiếp cho đến nay, 02 bên có lập biên bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng (thể hiện tại bút lục số 10). Do đó, Công ty X yêu cầu Công ty X1 thanh toán số tiền còn nợ là 137.610.000 đồng là có cơ sở.
Phía Bị đơn là Công ty X1 đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải và triệu tập xét xử vụ án nhưng bị đơn không tham gia và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình nộp cho Tòa án; Do đó, Công ty X1 phải chịu hậu quả của việc không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đầy đủ chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích pháp của mình được quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Từ những phân tích nêu trên, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, xét yêu cầu của Công ty X là có căn cứ, nên được chấp nhận, buộc Công ty TNHH X1 thanh toán cho Công ty TNHH X số tiền còn nợ là 137.610.000 đồng.
Trường hợp Công ty X1 chậm trả số tiền nêu trên thì phải chịu thêm tiền lãi với mức lãi suất quy định của pháp luật.
[3] Về án phí kinh doanh thương sơ thẩm: Áp dụng Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Buộc Công ty TNHH X1 phải chịu án phí 6.880.000 đồng. (Sáu triệu, tám trăm tám mươi ngàn đồng, tính tròn số)
- Phần Công ty X nộp tạm ứng án phí số tiền 3.440.000 đồng theo biên lai số 0009733 ngày 21 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được nhận lại toàn bộ khi án có hiệu lực.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 30, 35, 147, 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Các Điều 274, 275, 276, 385, 401, 468 của Bộ luật Dân sự;
- Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
* Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH X đối với Công ty TNHH X1.
Buộc Công ty TNHH X1 thanh toán cho Công ty TNHH X số tiền còn nợ là 137.610.000 đồng.
Ngoài ra, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, trường hợp người bị thi hành án chậm trả số tiền nêu trên, thì còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thi hành án.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Buộc Công ty TNHH X1 phải chịu án phí 6.880.000 đồng.
- Phần Công ty X nộp tạm ứng án phí số tiền 3.440.000 đồng theo biên lai số 0009733 ngày 21 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được nhận lại toàn bộ khi án có hiệu lực.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoàng Tuấn |
Bản án số 05/2025/KDTM-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng xây dựng
- Số bản án: 05/2025/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng xây dựng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CT - CT tranh chấp xây dựng
