|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 05/2025/KDTM-PT Ngày: 28/5/2025 “Về tranh chấp hợp đồng phân phối sản phẩm”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thị Phương Thúy.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Trường, bà Đoàn Thị Thu Thúy.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Hoa- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Huế- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 03/2025/TLPT-KDTM ngày 12/3/2025 về tranh chấp hợp đồng phân phối sản phẩm. Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 32/2024/KDTM-ST ngày 30/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 03/2025/QĐXXPT-KDTM ngày 10/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QĐ-PT ngày 05/5/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty cổ phần K Đất Việt.
Địa chỉ trụ sở: Khu T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu T- Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Bà Hoàng Thị P, sinh năm 1994 và ông Phạm Văn T1, sinh năm 1995. Địa chỉ liên hệ: Số H phố V, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Vũ Quang N- Luật sư của Công ty L và ông Bùi Duy P1, sinh năm 1989. Địa chỉ: Công ty L ở số H phố V, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1991- Chủ hộ kinh doanh Nga N2.
Địa chỉ: Chợ G, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương.
Tại phiên tòa có mặt bà P, ông N; vắng mặt các đương sự khác.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và quá trình làm việc với Tòa án cấp sơ thẩm, đại diện nguyên đơn trình bày: Trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, Công ty cổ phần K Đất Việt (viết tắt: CT Gốm Đất Việt) và bà Nguyễn Thị N1- Chủ hộ kinh doanh Nga N2 cùng ký Hợp đồng giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm gạch ngói cao cấp số 07/HD/HĐNPP-2021 ngày 31/12/2020. Thực hiện hợp đồng, Công ty đã giao các sản phẩm gạch, ngói mang thương hiệu Gốm Đất Việt cho bà N1 nhưng bà N1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán công nợ với Công ty như đã thỏa thuận. Tại bản cam kết ngày 05/6/2023, bà N1 xác nhận còn nợ CT Gốm Đất Việt số tiền 877.207.534đ. Vì vậy CT Gốm Đất Việt khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà N1 phải thanh toán cho Công ty số tiền 877.207.534đ và tiền lãi phát sinh từ ngày 01/8/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm vụ án với mức lãi suất 10%/năm. Số tiền lãi tạm tính đến ngày 30/6/2024 là 43.860.376đ.
Quá trình làm việc với Tòa án cấp sơ thẩm, bị đơn là bà Nguyễn Thị N1- Chủ hộ kinh doanh Nga N2 trình bày: Bà có ký với CT Gốm Đất Việt hợp đồng giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm gạch ngói cao cấp số 07/HD/HĐNPP-2021 ngày 31/12/2020. Bà đã nhận đủ số hàng do Công ty cung cấp và còn nợ Công ty số tiền 877.207.534đ. Bà nhất trí trả nợ cho CT Gốm Đất Việt số tiền gốc là 877.207.534đ và số tiền lãi tạm tính đến ngày 30/6/2024 là 43.860.376đ, tổng là 921.067.910đ.
Tại Bản án sơ thẩm số 32/2024/KDTM-ST ngày 30/12/2024, Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ căn cứ các Điều 357, 468 Bộ luật dân sự; Điều 306 Luật thương mại; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử buộc bà Nguyễn Thị N1- Chủ hộ kinh doanh Nga N2 phải trả cho CT Gốm Đất Việt số tiền 1.001.478.600đ gồm tiền gốc là 877.207.534đ, tiền lãi tính đến ngày 30/12/2024 là 124.271.067đ. Ngoài ra cấp sơ thẩm còn quyết định về lãi chậm thi hành án, án phí, quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án.
Ngày 11/01/2025, đại diện nguyên đơn kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm do có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn nhất trí về số tiền nguyên đơn được thanh toán theo quyết định của cấp sơ thẩm nhưng đề nghị Hội đồng xét xử hủy toàn bộ bản án sơ thẩm do cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục xử lý đơn khởi kiện, thụ lý vụ án, xác định quan hệ tranh chấp, tống đạt văn bản tố tụng, thu thập và công khai chứng cứ, xác định thiếu người tham gia tố tụng là ông Nguyễn Văn N3.
Đại diện Viện kiểm sát xác định Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã tuân theo và chấp hành đúng; bị đơn chưa chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 32/2024/KDTM-ST ngày 30/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ. Buộc nguyên đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng:
[1.1] Kháng cáo của nguyên đơn được thực hiện trong thời hạn quy định tại Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự nên là kháng cáo hợp lệ và được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn:
[2.1] Trình bày của các đương sự phù hợp với tài liệu đã thu thập tại hồ sơ vụ án nên có căn cứ xác định CT Gốm Đất Việt và bà Nguyễn Thị N1 đã cùng ký Hợp đồng giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm gạch ngói cao cấp số 07/HD/HĐNPP-2021 ngày 31/12/2020. Công ty đã cung cấp đủ số lượng hàng hóa theo thỏa thuận nhưng bà N1 chưa thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán cho Công ty. Cụ thể số tiền hàng hóa chưa thanh toán theo bản cam kết ngày 05/6/2023 là 877.207.534đ.
[2.2] Hội đồng xét xử nhận thấy hợp đồng ngày 31/12/2020 và bản cam kết ngày 05/6/2023 được bà N1 ký xác nhận với tư cách đại diện nhà phân phối Nga N4. Nhà phân phối Nga Nhân thực hiện đăng ký kinh doanh với loại hình và tên gọi Hộ kinh doanh cá thể Nga N2 do bà Nguyễn Thị N1 làm chủ. Kết quả xác minh với phòng Tài chính- Kế hoạch thuộc UBND huyện T phản ánh hộ kinh doanh Nga N chỉ có một thành viên là bà Nguyễn Thị N1. Quá trình làm việc với Tòa án cấp sơ thẩm, bà N1 xác định không có ai khác tham gia việc kinh doanh cùng bà N1, chồng bà là ông Nguyễn Văn N3 không liên quan gì tới số tiền bà chưa thanh toán cho C. Tại biên bản làm việc ngày 28/7/2021 có chữ ký của ông N3 nhưng không thể hiện quan điểm, ý kiến của ông N3 như thế nào mà chỉ ghi nhận nội dung bà N1 nhận trách nhiệm trả tiền cho C. Tại cấp phúc thẩm, các đương sự không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh ông N3 có quyền lợi, nghĩa vụ đối với số tiền phải thanh toán theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy cấp sơ thẩm không đưa ông N3 tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và buộc bà N1- Chủ hộ kinh doanh Nga N2 phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn là phù hợp các quy định của pháp luật.
[2.3] Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, các bên đương sự đều có đăng ký kinh doanh và có mục đích lợi nhuận nên là tranh chấp về kinh doanh thương mại theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy cấp sơ thẩm đã xác định lại quan hệ tranh chấp giữa các bên là tranh chấp kinh doanh thương mại và áp dụng các quy định pháp luật phù hợp để giải quyết là có căn cứ.
[2.4] Cấp sơ thẩm có một số vi phạm về thời hạn, trình tự, thủ tục xử lý đơn khởi kiện, thụ lý vụ án, tống đạt văn bản tố tụng, thu thập và công khai chứng cứ nhưng không ảnh hưởng đến nội dung sự việc và không làm thay đổi chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Tuy nhiên cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm đối với những vi phạm này.
[2.5] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 và Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là Công ty cổ phần K Đất Việt.
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 32/2024/KDTM-ST ngày 30/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
- Công ty cổ phần K Đất Việt phải chịu 2.000.000đ án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 2.000.000đ (do bà Trần Thị Khánh T2 nộp thay) theo biên lai số 0005837 ngày 04/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Công ty cổ phần K đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp án phí phúc thẩm.
- Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Thị Phương Thúy |
5
Bản án số 05/2025/KDTM-PT ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng phân phối sản phẩm
- Số bản án: 05/2025/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng phân phối sản phẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng phân phối sản phẩm
