Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/KDTM- PT

Ngày 21/3/2025

V/v Tranh chấp hợp đồng kinh tế,

yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài

hợp đồng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Luyện.

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang, bà Nguyễn Thị Hương Giang

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Ngọc Anh– Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Bà Lương Thanh Hảo – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 11/12/2024,ngày 13/01/2025, ngày13/3/2025, ngày 14/3/ 2025 và ngày 21/3/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại phúc thẩm thụ lý số 12/ 2024/TLPT-KDTM ngày 15/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng kinh tế, yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”

Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2024/KDTM-ST ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 06/2024/QĐ-PT ngày 18/10/2024,Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2024/QĐ-PT ngày 29/10/2024, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 491/2024/TB-TA ngày 22/11/2024, các Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 06/2024/QĐ-PT ngày 11/12/2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 05/2025/QĐ-PT ngày 13/01/2025, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 13/TB-TA ngày 13/02/2025, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 02/2025/QĐ-PT ngày 14/3/2025 giữa:

Nguyên đơn: Công ty TNHH C

Địa chỉ trụ sở: Bản Diễn, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Huang I HSing- Chức vụ: Tổng giám đốc (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Văn T, sinh năm 1982- Phó Tổng giám đốc, địa chỉ liên hệ:Bản Diễn, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (Văn bản ủy quyền ngày 22/4/2024 - có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Triệu Hạnh H – Luật sư thuộc văn phòng L2 – Đoàn luật sư tỉnh B, địa chỉ: Số nhà I, đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang - có mặt tại phiên tòa sáng ngày 13/3/2025, vắng mặt tại phiên tòa ngày 14/3/2025).

Bị đơn: Công ty Cổ phần X.

Địa chỉ trụ sở: Số I, ngõ H, đường M, phường M, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Đức P- Chức vụ: Giám Đốc; địa chỉ: Thôn Y, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1979- nhân viên Công ty cổ phần X (Văn bản ủy quyền ngày 01/01/2023), địa chỉ: Số 1, ngõ H, đường M, phường M, thành phố Hà Nội (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. UBND huyện Y, tỉnh Bắc Giang; địa chỉ: Thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
  2. UBND xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, địa chỉ: Xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

* Người kháng cáo: Bị đơn -Công ty cổ phần X (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2024/KDTM-ST ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án có nội dung như sau:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình tham gia tố tụng, bị đơn Công ty TNHH C (viết tắt là Công ty C) trình bày:

Công ty TNHH C (viết tắt là Công ty C) và Công ty cổ phần X (viết tắt là Công ty X) ký kết 02 Hợp đồng kinh tế về việc cung cấp vật tư, thiết bị và thi công xây dựng công trình Nhà máy sản xuất ván sợi MDF và Viên nén gỗ sinh học tại Bản D, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, cụ thể:

1. Hợp đồng kinh tế số 27042020/HĐKT/HR-LG ngày 27/4/2020 về việc thi công trọn gói phần cung cấp vật tư, vận chuyển, lắp dựng hoàn thiện nhà xưởng chế biến nguyên liệu thô, xưởng chứa nguyên liệu thô, kho chứa thành phẩm và xưởng sản xuất viên nén

Hạng mục thi công công trình gồm 10 hạng mục. Giá trị hợp đồng sau thuế là 20.739.000.000đồng. Qua các lần phát sinh, hai bên đã ký Phụ lục số 02 ngày 24/8/2020 (giá trị 1.810.509.800 đồng), Phụ lục số 03 ngày 23/9/2020 (giá trị 1.368.743.200 đồng); Biên bản hiện trường số 06 ngày 22/10/2020 (giá trị 250.410.000đồng); Biên bản hiện trường số 07 ngày 05/11/2020 (giá trị 264.912.000đồng). Tổng giá trị hợp đồng, phụ lục hợp đồng và các biên bản hiện trường phát sinh của hợp đồng số 27042020/HĐKT/HR-LG sau thuế VAT là 24.433.575.000 đồng (Hai mươi bốn tỷ bốn trăm ba mươi ba triệu năm trăm bẩy mươi lăm nghìn đồng). Tiến độ thi công: 04 tháng, ngày thi công tính từ 05 ngày sau khi bên A chuyển tiền tạm ứng lần thứ nhất, tức từ ngày 10/5/2020 đến ngày 10/9/2020 (theo khoản 8 Điều 1 của Hợp đồng).

Theo khoản 3.4, 3.5 của Phụ lục số 03 ngày 23/9/2020, hai bên đã thống nhất giảm các hạng mục không xây dựng gồm nhà trực bảo vệ, cổng chính, cổng phụ và tường rào, tổng giá trị các hạng mục cắt giảm là 856.762.179 đồng chưa tính giảm trừ trong tổng giá trị hợp đồng trên (do hai bên chưa làm Quyết toán giá trị hợp đồng).

Từ ngày 04/5/2020 đến ngày 23/11/2020, Công ty C đã thanh toán cho Công ty X tổng số tiền theo Hợp đồng số 27042020/HĐKT/HR-LG là: 21.421.068.300 đồng.

Ngày 08/11/2020, Công ty C và Công ty X tiến hành nghiệm thu và bàn giao các hạng mục nhà xưởng đã hoàn thành theo Hợp đồng số 27042020/HĐKT/HR-LG. Công ty X lập Biên bản nghiệm thu, bàn giao để đưa vào sử dụng số 01/2020/BBNTBG ngày 08/11/2020. Công ty C đã ký, đóng dấu trước vào 06 (sáu) Biên bản số 01/2020/BBNTBG và giao cho ông Nguyễn Văn L- Giám đốc Công ty X đem về để đóng dấu nhưng đến nay Công ty X vẫn chưa giao lại cho Công ty C.

Công ty C đã 10 lần có văn bản yêu cầu Công ty X hoàn thiện hồ sơ nghiệm thu, bản vẽ hoàn công, cung cấp chứng từ thanh toán (hóa đơn Giá trị gia tăng) của Hợp đồng số 27042020/HĐKT/HR-LG để bàn giao, đưa vào sử dụng các hạng mục đã hoàn thiện và làm cơ sở thanh toán, quyết toán nhưng Công ty X cố tình kéo dài, trì hoãn việc bàn giao, làm chậm tiến độ đưa công trình vào sử dụng. Tính tới ngày 31/3/2021, công trình theo Hợp đồng số 27042020/HĐKT/HR-LG vẫn chưa chính thức nghiệm thu, vi phạm quy định về tiến độ tại khoản 8 Điều 1 Hợp đồng kinh tế đã ký là 202 ngày.

Ngày 31/3/2021, Công ty C ra thông báo số 3103/2021/TB-HR về việc chấm dứt Hợp đồng kinh tế số 27042020/HĐKT/HR-LG ngày 27/4/2020. Ngày 20/5/2021, Công ty C có Công văn số 2005/2021/TB-HR về việc chấm dứt Hợp đồng kinh tế số 27042020/HĐKT/HR-LG ngày 27/4/2020 có nội dung: “………Hợp

đồng kinh tế số 27042020/HĐKT/HR-LG chính thức chấm dứt kể từ ngày 31/4/2021...".Tuy nhiên, đến nay đã quá nhiều ngày kể từ ngày chấm dứt hợp đồng mà Công ty X vẫn không hoàn thiện hồ sơ nghiệm thu, bản vẽ hoàn công, cung cấp chứng từ thanh toán (hóa đơn giá trị gia tăng) và phối hợp với Công ty C để hoàn tất thủ tục thanh lý hợp đồng theo quy định tại khoản 6 Điều 41 Nghị định 37/2015/NĐ-CP, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi hợp pháp của Công ty C.

Công ty C đã tiến hành kiểm tra toàn bộ các công việc mà Công ty X đã thực hiện theo Hợp đồng kinh tế số 27042020/HĐKT/HR-LG ngày 27/4/2020, phát hiện các hạng mục không đạt chất lượng và quy cách thiết kế gồm:

  • Toàn bộ nền bê tông xưởng chế biến nguyên liệu thô không đảm bảo chất lượng và chiều dày thiết kế theo quy định tại số I, Mục 1, Phụ lục Hợp đồng kinh tế số 27042020/HĐKT/HR-LG ngày 27/4/2020: Khối lượng bê tông 343,2m2, đơn giá: 1.242.076VNĐ, tổng giá trị 424.314.846 đồng.
  • Toàn bộ nền bê tông xưởng sản xuất viên nén không đảm bảo chất lượng và chiều dày thiết kế theo quy định tại số 20, M, Phụ lục Hợp đồng kinh tế số 27042020/HĐKT/HR-LG ngày 27/4/2020: Khối lượng bê tông 1.105,93m3, đơn giá 1.174.943 VNĐ, tổng giá trị 1.299.405.344 đồng.
  • Nền bê tông sân bãi nội bộ thiết kế theo quy định tại số D, Mục 5, Phụ lục Hợp đồng kinh tế số 27042020/HĐKT/HR-LG ngày 27/4/2020: Khối lượng bê tông 1.754,46m3, đơn giá 1.413.753 VNĐ, tổng giá trị 1.480.375.318 VNĐ. Khoảng 40% diện tích nền bê tông sân bãi nội bộ không đúng chiều dày thiết kế, tương ứng với giá trị khoảng 992.150.127 đồng.
  • Tấm đan hệ thống thoát nước thiết kế theo quy định tại số A, 14, 15 Mục 8, Phụ lục Hợp đồng kinh tế số 27042020/HĐKT/HR-LG ngày 27/4/2020: Tổng giá trị 209.551.099 đồng. Khoảng 35% tấm đan hệ thống thoát nước không đạt chất lượng, tương ứng với giá trị khoảng 73.342.885 đồng.

Công ty C tạm tính tổng giá trị thiệt hại mà Công ty X thi công các hạng mục không đảm bảo chất lượng và thiết kế theo Hợp đồng kinh tế số 27042020/HĐKT/HR-LG ngày 27/4/2020 là 2.791.213.202 đồng.

2. Hợp đồng kinh tế số 28062020/HĐKT/HR-LG ngày 28/6/2020 về việc Cung cấp vật tư, thi công lắp đặt các hàng mục xưởng cơ khí, bể nước PCCC, đường thoát nước thải sinh hoạt, hệ thống móng ống khói, chân tải băng viên và mương cáp điện.

Hạng mục thi công gồm 7 hạng mục, đã thi công xong. Giá trị hợp đồng: 1.635.985.000 đồng. Tiến độ thi công: 02 tháng, kể từ ngày 01/7/2020 đến ngày 01/9/2020 (ngày bắt đầu thi công: 02 ngày sau khi Công ty C chuyển tiền tạm ứng lần 01).

Từ ngày 29/6/2020 đến ngày 08/9/2020, Công ty C đã thanh toán cho Công ty X tổng số tiền theo Hợp đồng kinh tế số 28062020/HĐKT/HR-LG là 1.145.189.500đồng tương ứng với 70% giá trị Hợp đồng.

Từ ngày 26/11/2020, Công ty X dừng tất cả các hoạt động thi công các hạng mục thi công theo Hợp đồng kinh tế số 28062020/HĐKT/HR-LG. Công ty C nhiều lần có văn bản yêu cầu nhưng Công ty X vẫn không phối hợp lập hồ sơ nghiệm thu và xuất hóa đơn Giá trị gia tăng từng phần cho Công ty C theo quy định trong Hợp đồng. Tính tới ngày 04/01/2021, Công ty X mới thi công xong và gửi hồ sơ nghiệm thu cho Công ty C, tức là thi công chậm 124 ngày so với quy định trong hợp đồng. Tới nay, Công ty X vẫn chưa sửa đổi, hoàn thiện hồ sơ nghiệm thu theo yêu cầu của Công ty C, quy định hợp đồng và pháp luật.

3. Trong quá trình thực hiện 01 Hợp đồng kinh tế trên, Công ty X có hành vi ngoài hợp đồng cản trở lối vào duy nhất của công trình từ ngày 27/11/2020 đến ngày 02/12/2020 gây thiệt hại cho Công ty C số tiền 99.116.489 đồng, cụ thể:

Khoảng 21 giờ ngày 26/11/2020, Công ty X để 01 máy ủi và 01 xe trộn bê tông chặn cổng chính (lối vào duy nhất) tại công trình xây dựng của Công ty C. Ngay khi phát hiện sự việc, từ ngày 27/11/2020 đến ngày 02/12/2020, Công ty C đã nhiều lần gửi công văn, liên hệ đề nghị Công ty X di dời máy móc chặn đường để trả lại mặt bằng lối vào công trình, tuy nhiên Đội trưởng thi công tại hiện trường là ông Lê Thanh Đ không hợp tác di dời máy móc. Đến ngày 02/12/2020 thì Công ty C bắt buộc phải sử dụng biện pháp cưỡng chế để Cơ quan Nhà nước tham gia di dời máy móc của Công ty X ra khỏi vị trí cổng ra vào.

Công ty X đã cản trở lối vào của công trình, không hợp tác giải quyết với chủ đầu tư, khiến các nhà thầu và chuyên gia mà Công ty C thuê đến để lắp đặt máy móc không thể ra vào công trình để làm việc. Công ty C vẫn phải thanh toán chi phí tiền lương cho nhân công lắp đặt máy, chuyên gia và bộ phận quản lý dự án theo Hợp đồng số YLNG20200206 ký ngày 06/02/2020 đã ký kết giữa Công ty C., L1 đã ký kết trong 06 ngày bị Công ty X chắn công trình, số tiền là 99.116.489đồng.

4. Nguyên nhân và mục đích của Công ty X gây ra tranh chấp hợp đồng:

Nguyên nhân và mục đích của Công ty X, cho máy gạt, máy trộn bê tông chắn ngang lối vào duy nhất của dự án, không hoàn thiện nghiệm thu, bản vẽ hoàn công và xuất hóa đơn giá trị gia tăng theo nội dung hợp đồng nêu rõ. Đồng thời đi nộp đơn tố cáo Công ty C sai phạm trong đầu tư, xây dựng và đất đai dù không có cơ sở và được các cơ quan ban ngành trả lời bằng văn bản:

- Nguyên nhân: Trong quá trình xây dựng dự án, Công ty C có triển khai gói thầu xây dựng Trạm điện 1 x 2000 KVA+ 1 x 1500KVA cấp điện cho dự án, gói

thầu này có 05 đơn vị báo giá cùng yêu cầu về thông số, chủng loại và xuất sứ thiết bị (hoặc tương đương) trong đó Công ty X cũng được mời báo giá, kết quả Công ty X báo giá cao nhất 8,6 tỷ VNĐ và đơn vị báo thấp nhất 4,7 tỷ VNĐ. Công ty C đã tiến hành thương thảo nhưng Công ty X chỉ đồng ý giảm 1 tỷ VNĐ, giữ nguyên chào giá 7,6 tỷ VNĐ và đưa ra đề nghị có thể nhận 4,7 tỷ nhưng lắp đặt thiết bị cũ (S) điều này Công ty C không đồng ý. Vì lý do này nên Công ty X sau khi đã thực hiện hoàn thành 99% công việc hợp đồng và đến ngày 26/11/2020 đổ bê tông sân bãi thì cho 01 máy gạt và 01 máy trộn bê tông đỗ ngang đường chặn lối vào duy nhất của dự án (có hình ảnh làm bằng chứng) trong 05 ngày liên tục. Công ty C yêu cầu Công ty X di chuyển thiết bị trên, gửi giấy mời giám đốc làm việc nhưng vẫn không nhận được sự hợp tác của Công ty X (có các văn bản, giấy mời). Sau đó Công ty C làm đơn trình báo chính quyền địa phương xử lý theo quy định của pháp luật.

- Mục đích: Việc chặn đường đi lối vào duy nhất dự án nhằm gây áp lực cho Ban Tổng giám đốc Công ty C chi trả thêm số tiền gần 3 tỷ VNĐ cho Công ty X từ chênh lệch báo giá hạng mục trạm điện Công ty X và giá Công ty C ký hợp đồng với đơn vị thi công xây dựng trạm điện (7,6 – 4,7) tỷ VNĐ (có bằng chứng cuộc họp qua điện thoại giữa Tổng giám đốc Công ty C và giám đốc Công ty X được ghi âm vào ngày 02/12/2020).

Với các căn cứ như trên, Công ty TNHH C đề nghị Tòa án giải quyết:

  • Buộc Công ty cổ phần X thực hiện các nghĩa vụ đối với Công ty TNHH C bao gồm: Thiết lập và bàn giao hồ sơ hoàn công các hạng mục thi công công trình đã hoàn thành; xuất hóa đơn giá trị gia tăng; phối hợp nghiệm thu, quyết toán giá trị hợp đồng và thanh lý hợp đồng đối với Hợp đồng kinh tế số 27042020/HĐKT/HR-LG ngày 27/4/2020 và Hợp đồng kinh tế số 28062020/HĐKT/HR-LG ngày 28/6/2020;
  • Buộc Công ty cổ phần X phải có nghĩa vụ bảo hành đối với các hạng mục công trình đã thực hiện theo Hợp đồng kinh tế số 27042020/HĐKT/HR-LG ngày 27/4/2020 và Hợp đồng kinh tế số 28062020/HĐKT/HR-LG ngày 28/6/2020;
  • Buộc Công ty cổ phần X trả 507.848.568 đồng tiền phạt do vi phạm tiến độ theo Hợp đồng kinh tế (Hợp đồng kinh tế số 27042020/HĐKT/HR-LG ngày 27/4/2020 là 475.978.734 đồng số; Hợp đồng kinh tế số 28062020/HĐKT/HR-LG ngày 28/6/2020 là 31.869.834 đồng).
  • Buộc Công ty cổ phần X bồi thường thiệt hại số tiền 2.791.213.202 đồng do các hạng mục công trình không đảm bảo chất lượng, quy cách thiết kế quy định tại Hợp đồng kinh tế số 27042020/HĐKT/HR-LG ngày 27/4/2020.
  • Buộc Công ty cổ phần X bồi thường thiệt hại số tiền 99.116.489 đồng do có hành vi ngoài hợp đồng cản trở lối vào duy nhất của công trình gây thiệt hại cho Công ty C.

Trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa ngày 01/3/2024, Công ty TNHH C rút yêu cầu khởi kiện về việc buộc Công ty X bồi thường thiệt hại số tiền 2.791.213.202 đồng do các hạng mục công trình không đảm bảo chất lượng, quy cách thiết kế quy định tại Hợp đồng kinh tế số 27042020/HĐKT/HR-LG ngày 27/4/2020;

Trong đơn phản tố, bản trình bày, quá trình tham gia tố tụng bị đơn - Công ty cổ phần X trình bày:

Công ty X luôn có ý thức, tinh thần trách nhiệm tuân thủ các điều khoản ký kết trong hợp đồng và quy định pháp luật. Nhưng về phía Công ty C có nhiều hành vi cản trở thi công, vi phạm các điều khoản trong hợp đồng và đưa ra những yêu cầu khởi kiện không đúng với thực tế, bởi:

- Nội dung thứ nhất trong đơn khởi kiện nêu “Thiết lập và ban giao hồ sơ hoàn công các hạng mục thi công công trình đã hoàn thành”. Công ty X nhận thấy: Kể từ 16 giờ ngày 02/12/2020, toàn bộ mặt bằng thi công, các công trình nhưng chưa bàn giao, thiết bị máy móc của Công ty X trên công trường,... đã bị Công ty H1 lực lượng bảo vệ, nhân công đến chiếm giữ, sử dụng công trình khi chưa được bàn giao (tại công văn số 0412/2020/CV-LG gửi Công ty C). Do hành vi chiếm giữ công trường trái pháp luật của Công ty C dẫn đến Công ty X không thể thực hiện việc đo vẽ, thiết lập hồ sơ hoàn công và Công ty C cũng bất hợp tác trong việc phối hợp nghiệm thu. Quá trình thi công có phát sinh tăng, giảm khối lượng, hai bên đã cùng nhau ký các Biên bản hiện trường từ 01 đến 08 để xác nhận sự việc tăng giảm này, nhưng không rõ vì sao từ Biên bản hiện trường số 09 và số 10, Công ty C không hợp tác, đã đồng ý với khối lượng, nhưng không chịu ký Biên bản và thanh toán nên đã gây khó khăn cho Công ty X.

- Tiếp theo: “xuất hóa đơn giá trị gia tăng”: Quá trình thi công, Công ty C đã nhiều lần thanh toán tiền tạm ứng theo yêu cầu của Công ty X, nhưng đến nay Công ty X vẫn chưa xuất hóa đơn giá trị gia tăng (VAT) cho Công ty C vì: Căn cứ khoản 3 Điều 2 Hợp đồng kinh tế, quy định: Hai bên thỏa thuận: “Hóa đơn dự án này sẽ được xuất một hoặc nhiều lần khi bên B (Công ty X) hoàn thiện toàn bộ hoặc một phần các hạng mục công trình và có biên bản nghiệm thu, bàn giao xác nhận của hai bên”, vậy nên Công ty X chưa xuất hóa đơn VAT là phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng. Công ty X có thể xuất hóa đơn VAT một lần khi dự án được nghiệm thu và có Biên bản bàn giao công trình. Đến nay, Công ty X đã thi công đến 99% thì bị Công ty C chiếm giữ công trường và máy móc dẫn đến việc thi công bị đình trệ, gây rất nhiều thiệt hại cho Công ty X.

Đồng thời, căn cứ khoản 2 Điều 16 Thông tư 39/2014/TT-BTC quy định: “Ngày lập hóa đơn đối với xây dựng, lắp đặt là thời điểm nghiệm thu, bàn giao công trình, hạng mục công trình, khối lượng xây dựng, lắp đặt hoàn thành, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền”. Do vậy, đến nay công trình chưa được nghiệm thu, chưa được bàn giao mà Công ty C đã ngang nhiên chiếm giữ và sử dụng công trình, dẫn đến Công ty X không thể xác định khối lượng nghiệm thu, không có căn cứ xuất hóa đơn VAT theo Thông tư hướng dẫn của Bộ T1.

- Trong đơn khởi kiện nêu “Phối hợp nghiệm thu, quyết toán giá trị hợp đồng và thanh lý hợp đồng”: Hai bên đã nhiều lần họp bàn nội dung trên nhưng không thống nhất được quan điểm nên không thể cùng nhau phối hợp nghiệm thu dẫn đến các hoạt động này bị đình trệ. Công ty C thì vẫn đang sử dụng và đưa công trình chưa nghiệm thu vào vận hành gây mất an toàn lao động và thiệt hại cho Công ty X.

Công ty X cũng đã gửi bộ hồ sơ nghiệm thu công trình đối với hợp đồng 28062020/HĐKT/HR-LG, Công ty C đã xác nhận về khối lượng nhưng cũng không chịu ký xác nhận để quyết toán hợp đồng này.

Công ty C đã vi phạm khoản 1 Điều 4 Hợp đồng kinh tế khi: Không tiến hành thành lập và chủ trì Hội đồng nghiệm thu, không phối hợp cùng công ty X tiến hành việc nghiệm thu theo quy định của Hợp đồng.

- Về yêu cầu “Buộc Công ty X phải có nghĩa vụ bảo hành đối với hạng mục công trình”: Như đã nêu trên, Công ty C ngang nhiên chiếm giữ công trường, đưa công trình chưa nghiệm thu vào sử dụng, tiềm ẩn rất nhiều rủi ro cho người lao động và vi phạm nghiêm trọng quy định pháp luật về xây dựng. Công ty C sử dụng công trình chưa nghiệm thu, chưa bàn giao từ ngày 02/12/2020 đến nay. Đã làm ảnh hưởng đến kết cấu, kỹ thuật và làm hao mòn công trình... Nên Công ty X không có căn cứ để thực hiện việc bảo hành đối với các hạng mục công trình theo quy định của hợp đồng nữa.

Công ty cổ phần X đề nghị Tòa án giải quyết:

  • Bác bỏ toàn bộ nội dụng khởi kiện của Công ty C do không có cơ sở, nội dung khởi kiện không đúng với Hợp đồng kinh tế+ Biên bản hiện trường hai bên đã ký kết. Hơn nữa, Công ty C đã vi phạm pháp luật rất nhiều (Chưa đủ tư cách trở thành một pháp nhân là nhà đầu tư nước ngoài hoạt động tại thửa đất đang có tranh chấp với Công ty X).
  • Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Yên Thế thu hồi/hủy bỏ Giấy phép xây dựng: Tại giấy phép xây dựng số 1546/GPXD ngày 19/10/2020 do UBND huyện Y cấp. Căn cứ Điều 40 tại Quyết định số 01/2019/QĐ-UBND ngày 04/01/2019; Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cấp cho Công ty C thì Giấy

phép xây dựng này được cấp không đúng thẩm quyền; Giấy phép xây dựng này do cấp sai thẩm quyền nhằm mục đích hợp thức công trình tiến tới chiếm đoạt tài sản của nhà thầu xây dựng.

  • Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Yên Thế buộc nhà đầu tư nước ngoài di rời khỏi thửa đất đang hoạt động trái phép, trả lại nguyên trạng cho nhà đầu tư trong nước.
  • Buộc Công ty C tiếp tục thực hiện đúng, đủ nghĩa vụ tổ chức nghiệm thu (Hoàn thiện, phê duyệt bản vẽ thi công theo các Biên bản hiện trường; Hoàn trả nguyên trạng mặt bằng thi công, tổ chức nghiệm thu khối lượng, hoàn thiện hồ sơ quyết toán,...), thực hiện thanh toán các khoản phát sinh theo Hợp đồng kinh tế số 27042020/HĐKT/HR-LG ký ngày 27/4/2020 và Hợp đồng kinh tế số 28062020/HĐKT/HR-LG ký ngày 28/6/2020; Buộc Công ty TNHH C thực hiện các nghĩa vụ được hai bên ký kết theo hợp đồng, các Biên bản hiện trường và Quy định của pháp luật hiện hành.
  • Buộc Công ty C phải thanh toán số tiền còn lại trong cả hai hợp đồng cho Công ty X là 10.556.911.080đồng .Chi tiết được liệt kê từ mục IV+V+ đến XII của Thông báo số 10 (bao gồm chi phí 5% bảo hành công trình và cả tiền phạt vi phạm 1%/tháng trong 15 ngày đầu và 1,5%/tháng trong thời gian tiếp theo. Căn cứ Thông báo lần 10 số 0701/2023/TB-LG của Công ty X gửi Công ty C ngày 07 tháng 01 năm 2023.
  • Buộc Công ty C phải bồi thường thiệt hại cho Công ty X do hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, vi phạm nhiều điều khoản theo Hợp đồng, có nhiều hành vi lật lọng, gian dối và cản trở thi công chiếm giữ công trường trái phép bao gồm các thiệt hại về vật tư, máy móc, nhân công,... thi công tại công trường B, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang từ ngày 27/11/2020 đến ngày 07/01/2023, tạm tính là 76.412.411.970- 10.556.911.080= 65.855.500.890đồng.
  • Buộc Công ty trả lại cho Công ty X toàn bộ chi phí 5% (giá trị hợp đồng) bảo hành công trình do Công ty C vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng, đưa toàn bộ công trình chưa nghiệm thu và bàn giao vào sử dụng đã làm ảnh hưởng đến kết cấu, kỹ thuật và làm hao mòn công trình, thời gian bảo hành công trình đã quá 12 tháng kể từ ngày Công ty C chiếm đoạt công trình chưa bàn giao,... Nên Công ty X không còn nghĩa vụ bảo hành công trình, Công ty C không còn quyền giữ lại 5% (Giá trị hợp đồng) phí bảo hành công trình.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Người đại diện hợp pháp của Công ty X yêu cầu Công ty C phải bồi thường thiệt hại cho Công ty X số tiền phạt vi phạm 1,5%/tháng trong thời gian tiếp theo tính từ năm 2021 đến tháng 6/2024 là 42 tháng x (70 tỷ đồng- 22,5 tỷ đồng) x 1,5%= 29.920.000.000đồng; yêu cầu Công ty C phải bồi thường thiệt hại cho Công ty X do hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái

pháp luật, vi phạm nhiều điều khoản theo Hợp đồng, có nhiều hành vi lật lọng, gian dối và cản trở thi công chiếm giữ công trường trái phép bao gồm các thiệt hại về vật tư, máy móc, nhân công,... thi công tại công trường B, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang từ ngày 27/11/2020 đến ngày 07/01/2023 số tiền là 51.745.411.080đồng (Căn cứ Thông báo lần 10 số 0701/2023/TB-LG của Công ty X gửi Công ty C ngày 07 tháng 01 năm 2023 và hồ sơ sự việc).

Người đại diện của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là UBND huyện Y: Đã được Tòa án thông báo nhưng không gửi văn bản, ý kiến trình bày quan điểm đến Tòa án.

Người đại diện của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là UBND xã T, huyện Y trình bày:

Địa phương xác định Công ty C có trụ sở và nhà xưởng tại Bản D, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Thời gian vào cuối tháng 11/2020 đầu tháng 12/2020, Công ty C có báo cáo chính quyền địa phương là UBND xã và Công an xã T về việc Công ty C bị Công ty X dùng máy trộn bê tông (loại thô sơ, không phải đăng ký chủ sở hữu với cơ quan có thẩm quyền) chặn lối vào duy nhất của Công ty C làm cản trở công việc, hoạt động bình thường của Công ty C và các đơn vị đối tác của Công ty C đang lăp đặt thiết bị, máy móc cho Công ty C. Địa phương nắm bắt được khi đó các chuyên gia người nước ngoài đến để lắp đặt máy móc, thiết bị cho Công ty C. Sau khi có báo cáo của Công ty C thì UBND xã T giao cho Công an xã trực tiếp giải quyết việc có máy trộn bê tông chặn lối đi vào Công ty C. Công an xã T đã ban hành Thông báo về việc tìm chủ sở hữu máy trộn bê tông nêu trên để thông báo rộng rãi trên phương tiện thông tin đại chúng là hệ thống Đài truyền thanh, loa phát thanh của xã T và các bản trong xã, trong đó có bản Diễn, xã T là nơi có trụ sở của Công ty TNHH C. Tuy nhiên, không có đơn vị, cá nhân nào đến nhận chủ sở hữu, sử dụng máy trộn bê tông này. Do không xác định được chủ sở hữu, sử dụng máy trộn bê tông và ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của Công ty C nên Công an xã đã thực hiện việc di dời máy trộn bê tông này về Công an xã bảo quản theo đúng quy định của pháp luật. Sau đó có ông Nguyễn Văn L là người của Công ty X đến làm việc với Công an xã T nhận là đơn vị chủ sở hữu máy trộn bê tông này. Ban Công an xã đã làm việc với ông L nhiều lần để giao trả máy trộn bê tông. Sau khoảng thời gian gần 01 năm thì Công an xã mới bàn giao trả cho Công ty X được máy trộn bê tông mà Công an xã di dời từ cổng Công ty C.

Ngoài máy trộn bê tông nêu trên thì Công an xã T không di dời, tạm giữ bất cứ máy móc, thiết bị, tài sản nào khác tại lối đi duy nhất của Công ty C thời gian đầu tháng 12/2020 và từ trước cho đến nay. Địa phương xác định việc di dời máy trộn bê tông nêu trên đã thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty TNHH C trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng: Khoản 5 Điều 1; Khoản 2, Khoản 3 Điều 2; Khoản 2.1, Khoản 2.5, Khoản 2.7, Khoản 2.8 Điều 3; Khoản 3, Khoản 4 Điều 4; khoản 2 Điều 7 của Hợp đồng kinh tế số 27042020/HĐKT/HR-LG ngày 27/4/2020 và Hợp đồng kinh tế số 28062020/HĐKT/HR-LG; Khoản 1, khoản 4 Điều 147 Luật xây dựng năm 2014; Khoản 6 Điều 41 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP; Điểm a khoản 3 Điều 146 Luật xây dựng năm 2014; Khoản 2 Điều 419 BLDS năm 2015; Khoản 3 Điều 428 Khoản 1 Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 22 NĐ số 37/2015/NĐ-CP; Phụ lục VIB, Nghị định 06/2021/NĐ-CP; Điểm a khoản 2 Điều 16 TT số 39/2014/TT-BTC để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty C và bác toàn bộ yêu cầu phản tố, các ý kiến khác của Công ty X.

Với nội dung nêu trên, Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2024/KDTM-ST ngày 23/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế đã quyết định:

Căn cứ các Điều 275; 418; 419; 428; 584; 589; Điều 357 của Bộ luật dân sự; Điều 146; khoản 1, khoản 3 và khoản 4 Điều 147 của Luật xây dựng; khoản 2 Điều 22, khoản 6 Điều 41 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP; Điều 301 Luật thương mại; khoản khoản 6 Điều 26; khoản 1 Điều 30; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 271; Điều 273; khoản 2 Điều 244; điểm g khoản 1 Điều 217; Điều 218 và điểm đ khoản 1 Điều 192; Điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự. Xử:

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH C.

  • + Buộc Công ty cổ phần X thực hiện các nghĩa vụ đối với Công ty TNHH C bao gồm: Thiết lập và bàn giao hồ sơ hoàn công các hạng mục thi công công trình đã hoàn thành; xuất hóa đơn giá trị gia tăng; phối hợp quyết toán và thanh lý hợp đồng đối với Hợp đồng kinh tế số 27042020/HĐKT/HR-LG ngày 27/4/2020 và Hợp đồng kinh tế số 28062020/HĐKT/HR-LG ngày 28/6/2020;
  • + Buộc Công ty cổ phần X trả tổng số 491.646.226đồng (Bốn trăm chín mươi mốt triệu sáu trăm bốn mươi sáu nghìn hai trăm hai mươi sáu đồng) tiền phạt do vi phạm tiến độ theo Hợp đồng kinh tế số 27042020/HĐKT/HR-LG ngày 27/4/2020 và Hợp đồng kinh tế số 28062020/HĐKT/HR-LG ngày 28/6/2020;

- Không chấp nhận một phần yêu cầu của Công ty TNHH C yêu cầu Công ty cổ phần X trả số 16.202.342đồng tiền phạt do vi phạm tiến độ theo Hợp đồng kinh tế số 27042020/HĐKT/HR-LG ngày 27/4/2020 và Hợp đồng kinh tế số 28062020/HĐKT/HR-LG ngày 28/6/2020 trong tổng số tiền yêu cầu là 507.848.568 đồng.

  • - Buộc Công ty cổ phần X bồi thường thiệt hại số tiền 99.116.489 đồng do có hành vi ngoài hợp đồng cản trở lối vào duy nhất của công trình gây thiệt hại cho Công ty C.
  • - Không chấp nhận yêu cầu buộc Công ty cổ phần X phải có nghĩa vụ bảo hành đối với các hạng mục công trình đã thực hiện theo Hợp đồng kinh tế số 27042020/HĐKT/HR-LG ngày 27/4/2020 và Hợp đồng kinh tế số 28062020/HĐKT/HR-LG ngày 28/6/2020;
  • - Đình chỉ yêu cầu khởi kiện: Buộc Công ty cổ phần X bồi thường thiệt hại số tiền 2.791.213.202 đồng do các hạng mục công trình không đảm bảo chất lượng, quy cách thiết kế quy định tại Hợp đồng kinh tế số 27042020/HĐKT/HR-LG ngày 27/4/2020.

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện (phản tố) của Công ty cổ phần X, cụ thể:

  • + Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty X về việc buộc Công ty TNHH C phải thanh toán số tiền còn lại trong cả hai hợp đồng cho Công ty X là 1.409.690.030đồng.
  • + Buộc Công ty TNHH C trả lại cho Công ty X toàn bộ chi phí 5% (giá trị hợp đồng) bảo hành công trình tương đương số tiền 1.261.891.991 đồng.
  • - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện (phản tố) của Công ty X về việc buộc Công ty TNHH C phải thanh toán số tiền còn lại là 10.556.911.080 đồng - 2.671.582.021 đồng = 7.885.329.970 đồng (Bẩy tỷ tám trăm tám mươi lăm triệu ba trăm hai mươi chín nghìn chín trăm bẩy mươi đồng).
  • - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện (phản tố) của Công ty X về việc buộc Công ty TNHH C phải trả phạt vi phạm 1%/tháng trong 15 ngày đầu và 1,5%/tháng trong thời gian tiếp theo tính từ năm 2021 đến tháng 6/2024 là 42 tháng x (70 tỷ đồng- 22,5 tỷ đồng)= 29.920.000.000đ.
  • - Không chấp nhận đối với yêu khởi kiện (phản tố) của Công ty cổ phần X buộc Công ty TNHH C phải bồi thường thiệt hại cho Công ty X số tiền tạm tính là 51.745.411.080 đồng do hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, vi phạm nhiều điều khoản theo Hợp đồng.
  • - Đình chỉ đối với 02 yêu cầu phản tố của Công ty X gồm: Đề nghị thu hồi/hủy bỏ Giấy phép xây dựng số 1546/GPXD ngày 19/10/2020 do UBND huyện Y cấp cho Công ty C; Đề nghị buộc nhà đầu tư nước ngoài di rời khỏi thửa đất đang hoạt động trái phép, trả lại nguyên trạng cho nhà đầu tư trong nước.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng, quyền kháng cáo cho các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/8/2024 bị đơn Công ty X nộp đơn kháng cáo, đề nghị xem xét lại toàn bộ vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện như Đơn khởi kiện và bản án sơ thẩm đã nêu, đề nghị giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Bị đơn xác định có các yêu cầu gồm: Buộc nguyên đơn thanh toán giá trị công trình của hai hợp đồng kinh tế là 75.838.260.730đồng; yêu cầu thanh toán tiền lãi chậm trả của số tiền 75.838.260.730đồng, mức lãi suất là 1%/tháng, thời điểm tính lãi từ ngày 01/12/2020 đến khi xét xử sơ thẩm tạm tính là 29,92 tỷ đồng; yêu cầu bồi thường thiệt hại do bị chiếm dụng mặt bằng thi công là 2.141.000.000 đồng; yêu cầu hoàn trả 5% giá trị bảo hành công trình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu quan điểm:

  • - Về việc chấp hành pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở Tòa án cấp phúc thẩm: Các Thẩm phán thành viên Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ và đúng các thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng chấp hành nội quy phiên tòa và thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng.
  • - Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự, hủy bản án kinh doanh thương mại số 01/2024/KDTM-ST ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
  • + Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, chi phí tố tụng sẽ được giải quyết khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án
  • + Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Công ty X không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh luận tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ là có căn cứ theo Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn thì thấy quá trình giải quyết Tòa sơ thẩm có các vi phạm như sau:

[2.1] Thụ lý đơn khởi kiện khi chưa rõ yêu cầu của đương sự; quá trình giải quyết vụ án không làm rõ yêu cầu của đương sự dẫn đến giải quyết vụ án chung chung, tuyên không rõ ràng, không đảm bảo thi hành án.

Tòa án sơ thẩm chưa làm rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (yêu cầu bàn giao hồ sơ hoàn công các mạng mục thi công công trình đã hoàn thành bao gồm những giấy tờ gì, các hạng mục thi công công trình đã hoàn thành là những hạng mục, công trình nào; yêu cầu xuất hóa đơn giá trị gia tăng của số tiền bao nhiêu, của từng hạng mục hay của cả hợp đồng, yêu cầu quyết toán giá trị hợp đồng cụ thể thế nào) đã tuyên xử “buộc Công ty cổ phần X thực hiện các nghĩa vụ đối với Công ty TNHH C bao gồm: Thiết lập và bàn giao hồ sơ hoàn công các hạng mục thi công công trình đã hoàn thành; xuất hóa đơn giá trị gia tăng; phối hợp quyết toán và thanh lý hợp đồng đối với Hợp đồng kinh tế số 27042020/HĐKT/HR-LG ngày 27/4/2020 và Hợp đồng kinh tế số 28062020/HĐKT/HR-LG ngày 28/6/2020” là không đảm bảo quyết định của bản án được thi hành. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử cho nguyên đơn xác định rõ yêu cầu khởi kiện của mình nhưng nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không xác định yêu cầu khởi kiện là buộc bị đơn hoàn công và xuất hóa đơn giá trị gia tăng với khối lượng công việc bao nhiêu, đơn giá như thế nào, số tiền cụ thể là bao nhiêu nên Hội đồng xét xử không khắc phục được. Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng quy định tại điểm g khoản 4 Điều 189; điểm a khoản 3 Điều 191; Điều 19 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2.2] Việc thu thập chứng cứ chưa đầy đủ theo Điều 96, Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự, vi phạm khoản 1 Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự:

Theo trình bày của các đương sự và tài liệu do đương sự giao nộp xác định Công ty C và Công ty X có ký kết Hợp đồng kinh tế số 27042020/ HĐKT/HR-LG ngày 27/4/2020 (viết tắt là Hợp đồng 27042020) và Hợp đồng kinh tế số 28062020/HĐKT/HR-LG ngày 28/6/2020 (viết tắt là Hợp đồng số 28062020). Theo trình bày của nguyên đơn thì tổng giá trị hợp đồng, phụ lục hợp đồng và các biên bản hiện trường phát sinh của Hợp đồng số 27042020 là 24.433.575.000đồng; tổng giá trị của Hợp đồng số 28062020 là 1.635.985.000 đồng. Theo trình bày của bị đơn thì tổng giá trị theo hợp đồng và khối lượng hạng mục, công việc phát sinh thực tế thi công của Hợp đồng số 27042020 là 72.031.478.360 đồng; tổng giá trị theo hợp đồng và thi công thực tế của Hợp đồng số 28062020 là 3.806.782.372 đồng. Các đương sự đều xác nhận Công ty C đã tạm ứng cho Công ty X số tiền 21.421.068.300đồng của Hợp đồng số 27042020 và tạm ứng 1.145.189.500đồng của Hợp đồng số 28062020. Tại

khoản 3 Điều 2 của hai hợp đồng kinh tế nêu trên đều quy định hóa đơn của dự án này sẽ được xuất một hoặc nhiều lần sau khi bên B hoàn thiện toàn bộ hoặc một phần các hạng mục công trình và có bên bản nghiệm thu, bàn giao xác nhận của hai bên.

Để đánh giá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu của bị đơn có căn cứ chấp nhận hay không chấp nhận cần xác định, làm rõ khối lượng và giá trị từng hạng mục công trình theo hợp đồng đã ký; khối lượng và giá trị từng hạng mục công trình, công việc phát sinh trên thực tế khi thi công từ đó xác định tổng giá trị theo hợp đồng, tổng giá trị công trình theo thực tế thi công, quyền và nghĩa vụ của các bên cần tiếp tục thực hiện theo hợp đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn trình bày: Bị đơn đã thực hiện thi công theo đúng thiết kế nguyên đơn đưa ra, công trình hiện còn tồn tại trên thực tế được xây dựng thi công đúng với thiết kế yêu cầu của nguyên đơn, trong quá trình thi công hai bên có điều chỉnh về thiết kế thi công, khối lượng công việc so với thiết kế ban đầu và hợp đồng đã ký tuy nhiên hai bên chưa có sự thống nhất về khối lượng, giá trị tăng thêm của một số hạng mục công trình do yêu cầu thanh toán của bị đơn không phù hợp với thực tế thi công về khối lượng và giá cả; nguyên đơn chưa xác định khối lượng, giá trị của từng hạng mục công trình đã thi công. Phía bị đơn cho rằng giá trị công trình của hợp đồng tăng lên so với giá trị trong hợp đồng ban đầu hai bên ký kết là do phát sinh một số hạng mục và phát sinh nội dung công việc mới ngoài thiết kế khi thi công;việc phát sinh các hạng mục, công việc mới là theo yêu cầu của nguyên đơn, theo đúng bản vẽ của nguyên đơn nhưng quá trình thi công và thi công xong lại không được nguyên đơn xác nhận. Tại phiên tòa phúc thẩm sau khi xem các bản vẽ thi công của hợp đồng số 27042020 bị đơn cho rằng các bản vẽ này không đúng với các bản vẽ nguyên đơn đã đưa cho bị đơn để thi công và cũng không đúng với hiện trạng công trình đã thi công, tuy nhiên bị đơn không còn bản vẽ do nguyên đơn đưa cho trong quá trình thi công để đối chiếu. Bị đơn xác định biện pháp duy nhất để bị đơn xác định khối lượng, giá trị thi công thực tế theo từng hợp đồng là định giá từng hạng mục, công trình đã xây dựng hiện vẫn còn tồn tại. Để có căn cứ làm rõ các nội dung nêu trên, Tòa sơ thẩm cần thu thập bản vẽ thiết kế thi công điều chỉnh (phát sinh so với bản vẽ thiết kê thi công ban đầu) có ký xác nhận của nguyên đơn, bị đơn; phải tiến hành xác minh với đơn vị giám sát thi công để làm rõ bị đơn có thi công công trình, hạng mục phát sinh theo đúng bản vẽ thiết kế yêu cầu của nguyên đơn không; phải yêu cầu các đương sự thuê Đơn vị tư vấn xây dựng tiến hành thẩm định, lập lại hồ sơ hoàn công (trên có sở các hạng mục công trình đã xây dựng) để xác định khối lượng công việc đã thực hiện. Tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn không đồng thuê đơn vị tư vấn thẩm định; bị đơn chỉ đề

nghị thành lập Hội đồng định giá có sự tham gia của Sở xây dựng tỉnh B nên Hội đồng xét xử không khắc phục được.

Ngoài ra, Tòa sơ thẩm cần yêu cầu các đương sự xác định, liệt kê bóc tách khối lượng và giá trị của từng hạng mục công trình theo từng hợp đồng; phải tiến hành lấy lời khai đương sự, tiến hành đối chất để xác định và làm rõ khối lượng từng hạng mục công trình phát sinh là bao nhiêu, của hạng mục công trình nào; công việc phát sinh cụ thể là những công việc nào, khối lượng phát sinh là bao nhiêu; phải yêu cầu các bên cung cấp tài liệu chứng cứ về khối lượng, giá trị của từng hạng mục khi thi công, khối lượng, giá trị của các hạng mục phát sinh.

Việc Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập tài liệu chứng cứ như trên nên chưa đủ tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, vi phạm quy định tại Điều 96, Điều 97 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2.3] Giữa nguyên đơn và bị đơn có sự không thống nhất về khối lượng, giá trị hạng mục công trình đã thi công trên thực tế. Bị đơn cho rằng đối với hạng mục sân đường bê tông nội bộ thuộc hạng mục 5 của Hợp đồng 27042020 là do bị đơn thi công toàn bộ. Phía nguyên đơn cho rằng khối lượng công việc theo hợp đồng của sân đường bê tông nội bộ là 8772m² nhưng theo nguyên đơn đo đạc thực tế thì bị đơn thực tế mới thi công 5558m², phần còn lại hơn 3000m² do đơn vị thi công thứ ba là Công ty T2; nguyên đơn xác định hiện trạng công trình hiện nay có xác định, có bóc tách được phần sân đường bê tông Công ty X làm, phần sân đường bê tông Công ty T2 làm. Trường hợp này, Tòa án cấp sơ thẩm cần phải tiến hành xác minh với đơn vị giám sát thi công để làm rõ Công ty T2 có thi công sân đường bê tông nội bộ không; phải tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ để xác định phần diện tích, khối lượng sân bê tông mà bị đơn đã thi công, xác định phần diện tích, khối lượng mà Công ty T2 đã thi công (theo như nguyên đơn trình bày). Việc Tòa án sơ thẩm không tiến hành xác minh, không tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ là thu thập tài liệu chứng cứ chưa đầy đủ, vi phạm quy định tại Điều 96, Điều 97,khoản 1 Điều 101 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2.4] Nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại do bị đơn có hành vi cản trở lối vào duy nhất của nguyên đơn dẫn đến công việc của nguyên đơn bị đình trệ, không thực hiện được. Trường hợp này, Tòa sơ thẩm phải tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ để xác định đây có phải lối đi duy nhất để nguyên đơn đưa các chuyên gia, công nhân và vận chuyển thiết bị, vật tư vào phục vụ việc lắp đặt dây truyền trong nhà máy, để đưa công nhân vào làm việc hay không Việc Tòa sơ thẩm không tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 101 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2.5] Đưa thiếu người tham gia tố tụng,vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự: Tòa sơ thẩm không đưa Công ty T2 - đơn vị thi công một phần sân bê tông nội bộ đang có tranh chấp; không đưa đơn vị giám sát thi công công trình vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để làm rõ các nội dung như phân tích ở mục [2.2], mục [2.3] là vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2.6] Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của Công ty X mới đưa ra yêu cầu buộc Công ty C phải bồi thường thiệt hại cho Công ty X số tiền phạt vi phạm 1,5%/tháng trong thời gian tiếp theo tính từ năm 2021 đến tháng 6/2024 là 42 tháng x (70 tỷ đồng- 22,5 tỷ đồng) x 1,5%= 29.920.000.000 đồng. Tòa án chưa thụ lý, chưa thông báo hòa giải, tổ chức phiên họp công khai chứng cứ nhưng lại xem xét, giải quyết là giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện vi phạm quy định tại Điều 5, khoản 3 Điều 200 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ yêu cầu khởi kiện của đương sự, việc thu thập chứng cứ chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được, có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, làm cho việc giải quyết vụ án không được triệt để. Do vậy, căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự, cần chấp nhận kháng cáo của Công ty X, hủy bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2024/KDTM-ST ngày 23/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm là phù hợp với quy định của pháp luật như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa phúc thẩm. Qúa trình giải quyết giải, Tòa án sơ thẩm cần phải làm rõ các ý kiến, yêu cầu của bị đơn để xác định rõ yêu cầu nào là ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu nào là yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập của bị đơn để thụ lý, giải quyết theo đúng quy định pháp luật.

[4] Về án phí: Do hủy bản án sơ thẩm nên bị đơn không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm sẽ được giải quyết khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

[5] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ,định giá tài sản được giải quyết khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của Công ty cổ phần X. Xử:

  1. Hủy Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2024/KDTM-ST ngày 23/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
  2. Về án phí: Căn cứ khoản 3 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 29 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

    Công ty cổ phần X không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm. Hoàn trả Công ty cổ phần X số tiền 2000.000đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại biên lai số 0005055 ngày 16/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

    Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm sẽ được giải quyết lại khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Toà án nhân dân huyện Yên Thế
  • - Chi cục THADS huyện Yên Thế
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS vụ án; VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Triệu Thị Luyện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/KDTM- PT ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng kinh tế, yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

  • Số bản án: 05/2025/KDTM- PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng kinh tế, yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty TNHH C - Công ty Cổ phần X ( tranh chấp hợp đồng kinh tế, yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng)
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger