Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/KDTM-PT

Ngày: 16 – 4 – 2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh.

Các Thẩm phán: Ông Vũ Đức Hùng và bà Nguyễn Thị Thủy Tiên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồ Thu Uyên là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Lai - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 02/2025/TLPT-KDTM ngày 17 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2024/KDTM-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 02/2025/QĐ-PT ngày 27 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà 03/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần (TMCP ) (S)

Địa chỉ: 2 N, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức Thạch D - Chức vụ: Tổng Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Văn Trường A - Chức vụ: Trưởng phòng Giao dịch S – Chi nhánh B, Phòng G.

Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn N

Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị Nguyên H, chức vụ: Giám đốc.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Nguyên H, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

Người kháng cáo: Bị đơn Công ty TNHH N.

Tại phiên tòa, có mặt các đương sự.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo hồ sơ án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Công ty TNHH N có ký với Ngân hàng TMCP S các Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 19/08/2021, Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 26/11/2021 và các thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng kèm theo, cụ thể:

  1. Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 19/08/2021 và các thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng kèm theo:

    Giấy nhận nợ LD2223500462 ngày 23/8/2022, LD2223600609 ngày 24/8/2022.

    Tổng số tiền vay: 800.000.000 đồng.

    Mục đích: Bổ sung vốn sản xuất và kinh doanh Nước ép thanh long đỏ lên men.

    Thời hạn vay: 12 tháng, từ ngày 23/08/2022 đến ngày 23/08/2023.

    Phương thức trả nợ: Lãi trả hàng tháng, gốc trả cuối kỳ.

    Khoản vay đã bị quá hạn lãi kể từ kỳ thanh toán ngày 10/05/2023.

    Tính đến ngày 05/9/2024, tổng số tiền cần thanh toán là 1.009.707.819 đồng, trong đó nợ gốc 800.000.000 đồng, lãi chuyển sang quá hạn 39.727.043 đồng, lãi phát sinh 169.980.776 đồng.

    Để đảm bảo cho khoản vay trên bà Lê Thị Nguyên H đã thế chấp bất động sản sau: Thửa đất số 47, tờ bản đồ số 88, diện tích 4051,9m² tọa lạc tại thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 713991 do UBND huyện B, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 11/10/2016, cập nhật biến động ngày 16/11/2020 theo Hợp đồng thế chấp số 172/2021/TC-PRC ngày 19/08/2021.

  2. Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 26/11/2021 và các thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng kèm theo:

    Giấy nhận nợ LD2233400763 ngày 30/11/2022.

    Tổng tiền vay: 1.000.000.000 đồng.

    Mục đích: Bổ sung vốn sản xuất và kinh doanh Nước ép thanh long đỏ lên men.

    Thời hạn vay: 12 tháng, từ ngày 30/11/2022 đến ngày 30/11/2023.

    Phương thức trả nợ: Lãi trả hàng tháng, gốc trả cuối kỳ.

    Tính đến ngày 05/9/2024 tổng số tiền thanh toán là 1.220.105.823 đồng, trong đó nợ gốc 1.000.000.000 đồng, nợ lãi chuyển quá hạn là 54.569.864 đồng và lãi quá hạn phát sinh 165.535.959.

    Để đảm bảo cho khoản vay trên đại diện Công ty TNHH N - Bà Lê Thị Nguyên H đã thế chấp các bất động sản sau: Quyền sử dụng đất tọa lạc tại thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất các số BG 885732, BG 885733, BG 885734, BG 885735, BG 885736, BG 885737, BG 885738 do UBND huyện B cấp cùng ngày 06/12/2011, cập nhật biến động ngày 29/03/2019 theo Hợp đồng thế chấp số 235/2021/TC-PRC ngày 26/11/2021.

  3. Ngày 15/12/2020, Đại diện Công ty TNHH N có ký với Ngân hàng TMCP S Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành thẻ tín dụng đối với thẻ tín dụng số 461137-5612 và 111111-9786 theo các nội dung như sau: Hạn mức sử dụng thẻ 150.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng, lãi suất 1,84%/tháng.

    Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà Lê Thị Nguyên H – Giám đốc Công ty TNHH N thực hiện các giao dịch với tổng tiền là 145.000.000 đồng; phí và lãi tính đến ngày 05/9/2024 là 143.500.158 đồng, trong quá trình sử dụng thẻ đến nay bà H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 68.677.475 đồng.

    Ngày 10.10.2023 dư nợ cuối kỳ là 161.326.825 đồng đã chuyển thành dư nợ gốc (nợ nhóm 03) và được áp dụng lãi suất quá hạn là mức lãi suất tối đa bằng 150% lãi suất trong hạn do Công ty TNHH N vi phạm Điều 05 quyền và nghĩa vụ theo Hợp đồng phát hành Thẻ tín dụng doanh nghiệp được ký bởi Giám đốc Công ty TNHH N - bà Lê Thị Nguyên H vào ngày 15/12/2020, đến ngày 05/9/2024 là 161.326.825 đồng và lãi quá hạn phát sinh 58.495.858 đồng.

Như vậy, tính đến ngày 05/9/2024, Công ty TNHH N còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 2.449.363.325 đồng, trong đó nợ gốc 1.961.326.825 đồng, nợ lãi là 488.309.500 đồng.

Căn cứ theo lịch trả nợ của hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng và Công Ty TNHH N, Công Ty TNHH N phải thanh toán gốc và lãi phát sinh khi đến hạn. Tuy nhiên, Công ty đã không thực hiện việc trả nợ theo cam kết, do đó món nợ đã chuyển quá hạn. Ngân hàng đã nhiều lần gửi thông báo nhắc nợ và làm việc trực tiếp với bà Lê Thị Nguyên H - Giám đốc Công ty, tuy nhiên phía Công ty TNHH N vẫn không thiện chí trả nợ.

Vì vậy, Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu giải quyết các vấn đề sau:

Buộc Công Ty TNHH N phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền là 2.449.636.325 đồng, trong đó nợ gốc là: 1.961.326.825 đồng, nợ lãi tính đến ngày 05/9/2024 là 488.309.500 đồng (trong đó lãi quá hạn là 94.296.907 đồng và lãi quá hạn phát sinh là 394.012.593 đồng).

Lãi suất tiếp tục được tính kể từ ngày xét xử trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận của các Hợp đồng tín dụng số [...] ký ngày 19/8/2021, Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 26/11/2021 và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đối với thẻ tín dụng số 461137-5612 và 111111-9786, cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Trường hợp Công ty TNHH N không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP S có quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp mà các bên đã ký kết để thu hồi nợ đối với Hợp đồng tín dụng số [...] ký ngày 19/8/2021 có Hợp đồng thế chấp tài sản số 172/2021/TC-PRC ngày 19/8/2021 đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B ngày 26/11/2021; Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 26/11/2021 có Hợp đồng thế chấp tài sản số 235/2021/TC-PRC ngày 26/11/2021 đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B ngày 26/11/2021 và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đối với thẻ tín dụng số 461137-5612.

Trường hợp sau khi xử lý tài sản bảo đảm nếu không đủ để trả khoản nợ gốc và toàn bộ tiền lãi phát sinh thì Công ty TNHH N phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP S. Nếu sau khi xử lý tài sản bảo đảm mà thừa thì Ngân hàng TMCP S phải có nghĩa vụ trả lại cho Công ty TNHH N.

Đại diện theo pháp luật của bị đơn Công ty TNHH N - bà Lê Thị Nguyên H trình bày: Bà thừa nhận là Công ty TNHH N có vay vốn tại Ngân hàng TMCP S số tiền như Ngân hàng đã trình bày. Công ty TNHH N đồng ý trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S toàn bộ số tiền nợ gốc là 1.800.000.000 đồng (Theo các hợp đồng tín dụng 202126220772 ngày 19/8/2021, Hợp đồng tín dụng 202126430123 ngày 26/11/2021 và các thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đối với thẻ tín dụng số 461137-5612 và 111111-9786). Còn đối với khoản tiền nợ lãi là 488.309.500 đồng, đề nghị xem xét lại, vì việc bà vi phạm hợp đồng tín dụng là do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình ra thông báo đến các Văn phòng công chứng, Chi nhánh Văn phòng Đ, Ủy ban nhân dân huyện B với nội dung cấm không cho bà thực hiện đăng ký thế chấp đối với các tài sản dùng để đảm bảo các khoản vay tại Ngân hàng TMCP S. Dẫn đến bà không thể ký các hợp đồng thế chấp mới để vay thêm tiền làm ăn kinh doanh. Bà đồng ý trả nợ nhưng bà đề nghị Ngân hàng TMCP S rút lại đơn khởi kiện, để bà cổ phần hóa công ty rồi bán cổ phần trả nợ cho Ngân hàng TMCP S. Đồng thời, chờ bà yêu cầu Cơ quan thi hành án bồi thường thiệt hại cho bà rồi bà sẽ trả cho Ngân hàng TMCP S.

Việc bà vi phạm hợp đồng tín dụng đã được Thanh tra Hội sở của Ngân hàng TMCP S tại thành phố Hồ Chí Minh đến kiểm tra kho hàng tại công ty và đồng ý cho bà tiếp tục vay vốn và bảo bà kiếm tiền đáo hạn, nhưng bà sợ Ngân hàng không đồng ý. Bà tìm cách liên lạc với đại diện Ngân hàng là ông Trường A nhưng không được. Bà là khách hàng gần 10 năm của Ngân hàng, bà vay và trả lãi đầy đủ, nhưng trong 03 năm dịch covid bà rất khó khăn nên không có khả năng trả lãi đầy đủ, ngân hàng cũng chưa giúp đỡ, hỗ trợ lãi suất cho bà trong những năm dịch.

Bà vay tiền để đầu tư sản xuất nông nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp. Hiện tại hàng hóa sản xuất ra tổng giá trị nhiều hơn giá trị bà vay. Ban thanh tra Hội sở Ngân hàng đã đến công ty bà xem xét, thẩm định tài sản công ty bà vẫn còn đang hoạt động bình thường và động viên bà cố gắng xoay tiền để đáo hạn lại. Số tiền bà nợ Ngân hàng quá lớn cần có thời gian bán hàng để thu hồi vốn trả nợ. Trước đây bà cũng hết sức thiện chí trả nợ, nên bà mong Ngân hàng tạo điều kiện cho bà thu xếp thời gian bán hàng hóa để trả nợ.

Bà đồng ý trả nợ cho Ngân hàng, nhưng với điều kiện Ngân hàng phải tạo điều kiện cho bà vay lại.

Để đảm bảo cho các khoản vay trên bà đã thế chấp các tài sản sau:

  • Thửa đất số 47, tờ bản đồ số 88, diện tích 4051,9m² tọa lạc tại thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 713991 do UBND huyện B, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 11/10/2016, cập nhật biến động ngày 16/11/2020 theo Hợp đồng thế chấp số 172/2021/TC-PRC ngày 19/08/2021.
  • Các bất động sản tọa lạc tại thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Bình Thuận theo các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 885732, BG 885733, BG 885734, BG 885735, BG 885736, BG 885737, BG 885738 do UBND huyện B, tỉnh Bình Thuận cấp cùng ngày 06/12/2011, cập nhật biến động ngày 29/03/2019 theo Hợp đồng thế chấp số 235/2021/TC-PRC ngày 26/11/2021.

Các tài sản thế chấp cho các khoản vay trên không có gì thay đổi so với thời điểm ngân hàng đến thẩm định trước khi cho vay.

Đối với Hợp đồng sử dụng các thẻ tín dụng số 461137-5612 và 111111-9786, bà không đồng ý vì theo bà hiện nay chỉ còn nợ 145.000.000 đồng. Việc ký hợp đồng cấp thẻ tín dụng có dấu hiệu giả tạo, vì bà chỉ ký vào trang cuối của hợp đồng. Mặc dù vậy, bà không yêu cầu trưng cầu giám định vấn đề này. Do đó, bà đề nghị Ngân hàng phải xem lại số tiền nợ theo hợp đồng cấp thẻ tín dụng nói trên. Bà chỉ đồng ý trả số tiền nợ 145.000.000 đồng nói trên.

Đối với Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 461137-5612 và 111111-9786, Bà không thế chấp tài sản bảo đảm cho khoản nợ này.

Sau khi hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận đã đưa vụ án ra xét xử.

Tại Bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2024/KDTM-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận đã tuyên xử:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 157, Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Các Điều 117, 296, 298, 299, 303, 307, 317, 318, 319, 320, 321, 323, 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015

Các Điều 90, 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng 2010;

Điều 166, khoản 1 Điều 179 Luật Đất đai năm 2013

Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH-QH14 ngày 30/12/2016 về việc quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.

Buộc Công ty TNHH N phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền là 2.449.636.325 đồng, trong đó nợ gốc là 1.961.326.825 đồng, nợ lãi là 488.309.500 đồng (trong đó lãi quá hạn là 94.296.907 đồng và lãi quá hạn phát sinh là 394.012.593 đồng) tính đến ngày 05/9/2024.

Lãi suất tiếp tục được tính kể từ ngày xét xử trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận của các Hợp đồng tín dụng số [...] ký ngày 19/8/2021, Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 26/11/2021 và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đối với thẻ tín dụng số 461137-5612 và 111111-9786, cho đến khi thanh toán xong khoản nợ cho Ngân hàng TMCP S.

Trường hợp Công ty TNHH N không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP S có quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp, gồm:

  • Thửa đất số 47, tờ bản đồ số 88, diện tích 4051,9m² tọa lạc tại thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 713991 do UBND huyện B, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 11/10/2016, cập nhật biến động ngày 16/11/2020 theo Hợp đồng thế chấp số 172/2021/TC-PRC ngày 19/08/2021.
  • Quyền sử dụng đất tọa lạc tại thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Bình Thuận theo các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 885732, BG 885733, BG 885734, BG 885735, BG 885736, BG 885737, BG 885738 do UBND huyện B cấp cùng ngày 06/12/2011, cập nhật biến động ngày 29/03/2019 theo Hợp đồng thế chấp số 235/2021/TC-PRC ngày 26/11/2021.

Trường hợp sau khi xử lý tài sản bảo đảm nếu không đủ để trả khoản nợ gốc và toàn bộ tiền lãi phát sinh thì Công ty TNHH N phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP S. Nếu sau khi xử lý tài sản bảo đảm mà thừa thì Ngân hàng TMCP S phải có nghĩa vụ trả lại cho Công ty TNHH N.

Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP S về việc xử lý tài sản thế chấp gồm: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 885732, 885733, 885734, 885735, 885736, 885737, 885738 được Ủy ban nhận dân huyện B cấp ngày 06/12/2011, đối với Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đối với thẻ tín dụng số 461137-5612 và 111111-9786.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền và nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Về kháng cáo: Ngày 19/9/2024, bị đơn Công ty TNHH N kháng cáo toàn bộ bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2024/KDTM-ST ngày 11/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Bắc Bình.

- Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm;

Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình thuận phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và quan điểm giải quyết vụ án:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH N, giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2024/KDTM-ST ngày 11/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Xét thấy kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH N được thực hiện trong thời hạn và đúng quy định pháp luật nên vụ án được xem xét theo trình tự thủ tục phúc thẩm;

Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1]. Giữa Công ty TNHH N và Ngân hàng TMCP S có ký kết Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 19/08/2021; Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 26/11/2021 và các thỏa thuận sửa đổi, bổ sung các hợp đồng tín dụng kèm theo. Theo đó, Ngân hàng đã thực hiện nghĩa vụ giải ngân số tiền đúng theo Hợp đồng tín dụng và các thỏa thuận sửa đổi, bổ sung các hợp đồng tín dụng kèm theo. Cả hai Hợp đồng tín dụng này đều có hợp đồng thế chấp tài sản.

[2.2]. Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng Công ty TNHH N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, cụ thể Công ty TNHH N vi phạm mục 2.1, khoản 2 của phụ lục các điều khoản chung về cấp tín dụng đính kèm hợp đồng tín dụng số [...] ngày 26/11/2021. Theo đó đối với số tiền vay 1.000.000.000 đồng, ngày 30/07/2023 đến hạn thanh toán lãi là 12.654.795 đồng nhưng Công ty TNHH N chỉ thanh toán 6.000.000 đồng, còn thiếu 6.654.795 đồng. Do không thanh toán lãi đầy đủ nên Ngân hàng đã căn cứ vào tiết b, mục 2.1, khoản 2 của phụ lục các điều khoản chung về cấp tín dụng bị chuyển sang nợ quá hạn là phù hợp.

[2.3]. Công ty TNHH N vi phạm mục 2.1, khoản 2 của phụ lục các điều khoản chung về cấp tín dụng đính kèm hợp đồng tín dụng số [...] ngày 19/08/2021 và thỏa thuận sửa đổi bổ sung ngày 17/08/2022. Cụ thể đối với số tiền vay 800.000.000 đồng, nhận nợ 02 lần ngày 23/08/2022 650.000.000 đồng và ngày 24/08/2022 150.000.000 đồng thì ngày 10/05/2023 đến hạn thanh toán lãi là 9.008.219 đồng nhưng Công ty TNHH N chỉ thanh toán 3.368.000 đồng, còn thiếu 9.004.851 đồng. Do không thanh toán lãi đầy đủ nên Ngân hàng đã căn cứ tiết b, mục 2.1, khoản 2 của phụ lục các điều khoản chung về cấp tín dụng đính kèm hợp đồng tín dụng vào bị chuyển sang nợ quá hạn là phù hợp.

[2.4]. Vì vậy, việc Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH N phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền là 2.229.813.703 đồng, gồm: Nợ gốc 1.800.000.000 đồng, nợ lãi chuyển quá hạn 94.296.908 đồng, lãi quá hạn phát sinh tính đến ngày 05/9/2024 là: 335.516.795 đồng và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 19/08/2021; Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 26/11/2021 và các thỏa thuận sửa đổi, bổ sung các hợp đồng tín dụng kèm theo, kể từ ngày 06/9/2024 cho đến khi trả hết nợ gốc là có cơ sở, phù hợp với quy định về lãi suất và lãi suất quá hạn của hợp đồng tín dụng theo các Điều 90, 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7, Điều 8, Điều 12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định pháp luật về lãi suất.

[2.5]. Đồng thời, ngày 15/12/2020 giữa Ngân hàng và Công ty TNHH N còn ký với nhau Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế doanh nghiệp. Theo đó, Ngân hàng đã thực hiện nghĩa vụ cấp thẻ tín dụng bao gồm số tiền gốc là 150.000.000 đồng đối với thẻ tín dụng số 461137-5612 và 111111-9786. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà Lê Thị Nguyên H – Giám đốc Công ty TNHH N thực hiện các giao dịch với tổng tiền là 145.000.000 đồng; phí và lãi tính đến ngày 05/9/2024 là 143.500.158 đồng, trong quá sử dụng bà H đã thanh toán số tiền 68.677.475 đồng. Đối với hợp đồng này các bên không ký hợp đồng thế chấp tài sản bảo đảm.

Quá trình sử dụng thẻ tín dụng Công ty TNHH N cũng đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, vi phạm khoản 7, điều 5 theo Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế doanh nghiệp và mục a, khoản 5, điều 8 của phụ lục Điều khoản và điều kiện phát hành thẻ tín dụng quốc tế Doanh nghiệp đính kèm.

Khoản 7, điều 5 theo Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế doanh nghiệp quy định: “Bên A chịu trách nhiệm thanh toán đúng hạn, đầy đủ Số Tiền Đến Hạn hoặc Số Tiền Tối Thiểu được chỉ định trong TBGD liên quan đến việc sử dụng thẻ (bao gồm cả trường hợp số dư nợ của từng thẻ vượt quá HMTD Thẻ CBNV và/hoặc Tổng Dư Nợ vượt quá HMTD Chủ Thẻ Chính mà S đã cấp cho Bên A) và các loại phí, lãi phát sinh trên Tài Khoản Chủ Thẻ C”.

Mục a, khoản 5, điều 8 của phụ lục Điều khoản và điều kiện phát hành thẻ TD quốc tế Doanh nghiệp đính kèm có quy định: “Việc chủ thẻ chính không thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu theo TBGD tính từ ngày thứ 10 của kỳ TBGD lần thứ 2 thì toàn bộ dư nợ thẻ tín dụng sẽ bị chuyển sang nợ quá hạn”.

Cụ thể kỳ thông báo giao dịch ngày 10/06/2023 số tiền tối thiểu phải thanh toán là 2.741.057 đồng nhưng Công ty không thanh toán (Công ty đã vi phạm lần 1). Sang kỳ thông báo giao dịch ngày 10/07/2023 số tiền tối thiểu phải thanh toán là 2.836.903 đồng, nhưng Công ty không thanh toán (vi phạm lần 2). Vì vậy Ngân hàng chuyển toàn bộ dư nợ này sang quá hạn. Cụ thể ngày 10/10/2023 dư nợ cuối kỳ là 161.326.825 đồng (bao gồm cả gốc và lãi) đã chuyển thành dư nợ gốc và được áp dụng lãi suất quá hạn là mức lãi suất bằng 150% lãi suất trong hạn là phù hợp.

Công ty TNHH N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP S, yêu cầu Công ty TNHH N phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền là 219.822.683 đồng, trong đó nợ gốc là 161.326.825 đồng, nợ lãi là 58.495.858 đồng là có căn cứ.

[2.6]. Công ty TNHH N kháng cáo cho rằng mình không vi phạm nghĩa vụ trả nợ nhưng không cung cấp được chứng cứ, tài liệu chứng minh. Qua xem xét đối chiếu các bảng kê trả nợ mà Công ty TNHH N cung cấp tại phiên tòa cũng giống với bảng kê do Ngân hàng cung cấp có thể thấy rõ Công ty TNHH N đã vi phạm nghĩa vụ trả lãi theo thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng đã ký kết như trình bày của Ngân hàng là đúng. Vì vậy kháng cáo của Công ty TNHH N không được chấp nhận như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

[3]. Để đảm bảo cho khoản vay theo các Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 19/08/2021 và Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 26/11/2021 bà Lê Thị Nguyên H đã thế chấp một số tài sản sau:

  • Thửa đất số 47, tờ bản đồ số 88, diện tích 4051,9m² tọa lạc tại thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 713991 do UBND huyện B, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 11/10/2016, cập nhật biến động ngày 16/11/2020 theo Hợp đồng thế chấp số 172/2021/TC-PRC ngày 19/08/2021.
  • Quyền sử dụng đất tọa lạc tại thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Bình Thuận theo các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 885732, BG 885733, BG 885734, BG 885735, BG 885736, BG 885737, BG 885738 do UBND huyện B cấp cùng ngày 06/12/2011, cập nhật biến động ngày 29/03/2019 theo Hợp đồng thế chấp số 235/2021/TC-PRC ngày 26/11/2021.

Các Hợp đồng thế chấp đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, trường hợp Công ty TNHH N không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ của Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 19/08/2021 và Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 26/11/2021 thì Ngân hàng TMCP S có quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp mà các bên đã ký kết để thu hồi nợ là phù hợp với quy định tại các Điều 299, 303, 307, 317, 318, 319, 320, 321, 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Do khoản nợ theo Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế doanh nghiệp đối với thẻ tín dụng số 461137-5612 và 111111-9786 các bên không ký hợp đồng thế chấp nên việc Ngân hàng đề nghi xử lý các tài sản đã thế chấp của hai Hợp đồng tín dụng trên nếu bị đơn không trả được khoản nợ này là không phù hợp nên bản án sơ thẩm đã tuyên không chấp nhận yêu cầu này của Ngân hàng là đúng quy định pháp luật.

Về nghĩa vụ tiếp tục trả lãi cấp sơ thẩm nhận định đúng nhưng tuyên chưa rõ ràng nên cấp phúc thẩm điều chỉnh lại cho phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH N. Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2024/KDTM-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 Toà án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 157, Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Các Điều 117, 296, 298, 299, 303, 307, 317, 318, 319, 320, 321, 323, 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015

Các Điều 90, 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

Điều 166, khoản 1 Điều 179 Luật Đất đai năm 2013

Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH-QH14 ngày 30/12/2016 về việc quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.

    Buộc Công ty TNHH N phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tính đến ngày 05/9/2024 là 2.449.636.325 đồng, trong đó nợ gốc là 1.961.326.825 đồng, nợ lãi là 488.309.500 đồng (trong đó lãi quá hạn là 94.296.907 đồng và lãi quá hạn phát sinh là 394.012.593 đồng).

    (Cụ thể số nợ phải trả theo Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 19/08/2021; Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 26/11/2021 và các thỏa thuận sửa đổi, bổ sung kèm theo là 2.229.813.703 đồng, gồm: Nợ gốc 1.800.000.000 đồng, nợ lãi chuyển quá hạn 94.296.908 đồng, lãi quá hạn phát sinh tính đến ngày 05/9/2024 là 335.516.795 đồng. Số nợ phải trả theo Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế doanh nghiệp ký ngày 15/12/2020 tổng số tiền là 219.822.683 đồng, trong đó nợ gốc là 161.326.825 đồng, nợ lãi là 58.495.858 đồng).

    Kể từ ngày 06/9/2024 cho đến khi thanh toán xong số nợ trên Công ty TNHH N còn phải chịu khoản tiền lãi trên số dư nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng số [...] ký ngày 19/8/2021, Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 26/11/2021 và Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế doanh nghiệp ký ngày 15/12/2020 có thẻ tín dụng số 461137-5612 và 111111-9786, Điều khoản và điều kiện phát hành thẻ tín dụng quốc tế Doanh nghiệp đính kèm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ cho Ngân hàng TMCP S.

    Trường hợp Công ty TNHH N không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ của Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 19/08/2021 và Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 26/11/2021 thì Ngân hàng TMCP S có quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp, gồm:

    • Thửa đất số 47, tờ bản đồ số 88, diện tích 4051,9m² tọa lạc tại thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 713991 do UBND huyện B, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 11/10/2016, cập nhật biến động ngày 16/11/2020 theo Hợp đồng thế chấp số 172/2021/TC-PRC ngày 19/08/2021.
    • Quyền sử dụng đất tọa lạc tại thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Bình Thuận theo các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 885732, BG 885733, BG 885734, BG 885735, BG 885736, BG 885737, BG 885738 do UBND huyện B cấp cùng ngày 06/12/2011, cập nhật biến động ngày 29/03/2019 theo Hợp đồng thế chấp số 235/2021/TC-PRC ngày 26/11/2021.

    Sau khi xử lý tài sản bảo đảm nếu không đủ để trả khoản nợ gốc và toàn bộ tiền lãi phát sinh thì Công ty TNHH N phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP S. Nếu sau khi xử lý tài sản bảo đảm mà thừa thì Ngân hàng TMCP S phải có nghĩa vụ trả lại cho Công ty TNHH N.

  2. Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP S về việc xử lý tài sản thế chấp gồm: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 885732, 885733, 885734, 885735, 885736, 885737, 885738 được Ủy ban nhận dân huyện B cấp ngày 06/12/2011, đối với Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế doanh nghiệp có thẻ tín dụng số 461137-5612 và 111111-9786.

  3. Về chi phí tố tụng: Buộc Công ty TNHH N hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền chi phí định giá và xem xét, thẩm định tại chỗ là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

  4. Về án phí:

    • Công ty TNHH N phải chịu 80.992.727 đồng (T mươi triệu chín trăm chín mươi hai nghìn bảy trăm hai mươi bảy đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
    • Công ty TNHH N phải chịu 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền 2.000.000 đồng tạm ứng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm đã nộp theo Biên lai số 0008985 ngày 02/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Bình. Công ty TNHH N đã nộp đủ án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.
    • Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP S 36.579.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0001425 ngày 06/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Bình.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (Ngày 16/4/2025).

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - TAND huyện Bắc Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/KDTM-PT ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 05/2025/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger