Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MANG THÍT

TỈNH VĨNH LONG

Bản án số: 05/2025/HS-ST

Ngày 25-02-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trí Trường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thành Tam

Ông Nguyễn Đinh Cường

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hoàng Cúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít tham gia phiên tòa: Ông Trần An Khương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2025/TLST - HS ngày 16 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST - HS ngày 04 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Võ Văn M, sinh ngày 26 tháng 4 năm 1993, tại xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Trú tại: khóm P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn M1, sinh năm 1968 và bà Trần Thị Tuyết H, sinh năm 1958, có vợ là Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1999 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2019. Tiền án: 01; ngày 07/4/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, tiền sự: không; không; nhân thân: bị cáo có 01 án tích đã được xóa (ngày 17/9/2010, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 03 năm tù về tội cướp giật tài sản), chưa bị xử lý kỷ luật; ngày 31/5/2019, bị Công an huyện C, tỉnh Đồng Tháp xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, chưa chấp hành nộp phạt. Bị cáo đang tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Tổng công ty Đ

Trụ sở: Số G, đường H, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Nguyễn Từ Tiến T, sinh năm 1978 – chức vụ: Giám đốc điện lực M2 Thít. (có mặt)

Địa chỉ: ấp R, xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Nguyễn Vũ H1, sinh năm 1995 (có mặt)
    Trú tại: ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
  2. Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1999 (có mặt)
    Trú tại: khóm P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Võ Văn M đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, không biết ăn năn, hối cãi lại tiếp tục vi phạm. Bị cáo Võ Văn M và Nguyễn Vũ H1 là bạn với nhau. Vào khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 20/9/2024 H1 điện thoại cho M kêu M đến cầu “Cái C" thuộc thành phố V, tỉnh Vĩnh Long rước H1 đến nhà M chơi thì M đồng ý. Khi về đến nhà M tổ chức uống rượu cho đến khoảng 20 giờ cùng ngày thì M nói H1 “tôi với ông đi cắt dây điện về bán lấy tiền", H1 nói “Ừ, đi thì đi, nhưng mà đi ở dưới tôi đi" (có nghĩa là H1 rủ M về địa bàn tỉnh Vĩnh Long để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. M đồng ý, M chuẩn bị một cây kìm có cán bằng kim loại được quấn băng keo màu đen dài 39 cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 07cm bỏ vào trong ba lô màu đen rồi mang theo trên nguời. H1 điều khiển xe môtô nhãn hiệu Wave Alpha, biển số 65F7-3190 của M chở M đi về hướng thành phố V rồi chạy theo đường Tỉnh 902 hướng về xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, đến khu vực chợ xã A, huyện M không phát hiện tài sản. H2 quay xe lại chạy theo hướng đường T về hướng xã M, huyện M, khi đến đoạn đường trước cổng “Công ty H5” (cũ) thuộc ấp T, xã A, huyện M thì M kêu H1 dừng xe lại, M lấy cây kìm ra giấu vào trong áo khoác rồi đi đến cột điện hạ thế số 471CC/106/1 dùng kìm cắt 02 đoạn dây đồng trần ở hai bên cột điện, mỗi đoạn dài khoảng 02 mét của Công ty Đ1 rồi giấu cây kìm vào bên trong áo khoát, cầm 02 đoạn dây đồng vừa cắt được đến bỏ vào trong ba lô trên xe.

H1 tiếp tục điều khiển xe chở M về thành phố V. Khi đến đoạn đường thuộc ấp Đ, xã A, huyện M kêu H2 dừng xe lại bên đường. Mình xuống xe đi bộ đến cột điện hạ thế số PC14-11 cất được 01 đoạn dây đồng trần, dài khoảng 02 mét, M đem dây đồng ra bỏ vào trong bao lô lên xe; H1 điều khiển đến gần cửa hàng vật liệu xây dựng “Tư Nhân” rồi dừng xe lại. M đi đến cột đến hạ thế số 471CC/43 dùng kìm cắt 02 đoạn dây đồng trần, mỗi đoạn dài khoảng 02 mét rồi lên xe; H1 tiếp tục điều khiển đến đoạn đường thuộc ấp C, xã M, huyện M; H1 dừng xe lại bên đường, M đi đến đến cột điện hạ thế số C350/70 cặp cầu “Cái Kẻ cắt 01 đoạn dây đồng dài khoảng 02 mét, rồi M đem ra bỏ vào trong ba lô. H1 tiếp tục điều khiển xe chở M về hưởng đường T hướng về thành phố V thì gặp lực lượng Công an đang đi tuần tra yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra lực lượng Công an phát hiện, lập biên bản tạm giữ tang vật như đã nêu trên. Qua làm việc H1, M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tang vật, đồ vật và tài sản thu giữ gồm:

  • - 01 (một) chiếc ba lô màu đen cao 40cm, rộng 15 x 30cm;
  • - 01 (một) đoạn dây đồng dài 1,63m; nặng 400 gam;
  • - 01 (một) đoạn dây đồng dài 1,63m; nặng 300 gam;
  • - 01 (một) đoạn dây đồng dài 1,72m; nặng 400 gam;
  • - 01 (một) đoạn dây đồng dài 1,48m; nặng 300 gam;
  • - 01 (một) đoạn dây đồng dài 1,45m; nặng 900 gam;
  • - 01 (một) đoạn dây đồng dài 1,64m; nặng 400 gam;
  • - 01(một) cây kìm có cán bằng kim loại, được quấn bằng băng keo màu đen, dài 39cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, dài 07 cm, nặng 1,7kg;
  • - 01 (một) xe môtô gắn biển số 65F7-3190; số khung: RPCWCH8UM6 A001095; số máy: RRSWD152FMH0001095; màu sơn: đỏ, xe cũ đã qua sử dụng.

Tại kết luận định giá tài sản số: 30/KL-ĐGTS ngày 09/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M kết luận tại thời điểm bị chiếm đoạt: 01 (một) đoạn dây đồng dài 1,63m, nặng 400 gam có giá trị 105.090 đồng; 01 (một) đoạn dây đồng dài 1,63m, nặng 300 gam có giá trị 105.090 đồng; 01 (một) đoạn dây đồng dài 1,72m, nặng 400 gam có giá trị 110.893 đồng; 01 (một) đoạn dây đồng dài 1,48m, nặng 300 gam có giá trị 95.420 đồng; 01 (một) đoạn dây đồng dài 1,45m, nặng 900 gam có giá trị 253.948 đồng; 01 (một) đoạn dây đồng dài 1,64m, nặng 400 gam, có giá trị 105.735 đồng. Tổng cộng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 776.176 đồng.

Ngày 29/10/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Võ Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị can M.

* Về xử lý vật chứng và đồ vật, tài sản:

- Đối với 06 (sáu) đoạn dây đồng tạm giữ nêu trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã chứng minh đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của Công ty Đ1. Hiện nay người đại diện theo pháp luật của Công ty Đ1 đã nhận lại tài sản xong.

- Đối với 01 (một) cây kìm có cán bằng kim loại, được quấn bằng băng keo màu đen, dài 39cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, dài 07cm, nặng 1,7 kg; 01 (một) chiếc ba lô màu đen cao 40cm, rộng 15 x 30cm. Cơ quan điều tra Công an huyện M chứng minh được cây kìm là tài sản của bị cáo Võ Văn M; chiếc ba lô là tài sản của Nguyễn Vũ H1. Đây là dụng cụ dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.

- Đối với 01 (một) phương tiện xe môtô biển số 52F6-0031, số khung: PCWCH8UM6 A001095; số máy: RRSWD152FMH0001095; màu sơn: đỏ; xe cũ đã qua sử dụng. Cơ quan điều tra Công an huyện M đã chứng minh là tài sản thuộc sở hữu của ông Nguyễn Xuân H3, sinh năm 1966, nơi cư trú: A, N, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Ông H3 bán lại cho bị cáo Võ Văn M về sử dụng thì bị rơi mất biển số 52F6-0031;321 bị cáo nhặt được biển số 65F7-3190 nên gắn vào để sử dụng. Biển số 65F7-3190 do ông Dương Văn H4, sinh năm 1963, nơi cư trú: Số A, Khu V, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ đăng ký sử dụng và ông H4 đã bán xe môtô biển số 65F7-3190 cho người khác (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể). Qua tra cứu xe môtô mang biển số 52F6-0031 và xe môtô mang biển số 65F7-3190 đều không có trong hệ thống quản lý xe máy vật chứng. Đây là phương tiện dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.

* Về trách nhiệm dân sự: Hiện nay anh Nguyễn Từ Tiến T là người đại diện theo pháp luật của Công ty Đ1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại với số tiền là 714.715 đồng. Qua yêu cầu trên bị can thống nhất bồi thường và đã bồi thường xong.

Đối với Nguyễn Vũ H1 hành vi chưa cấu thành tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKS.HMT ngày 14 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít đã truy tố bị cáo Võ Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít bảo lưu quan điểm bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, các điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 46, Điều 47, Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: xử phạt Võ Văn M từ 03 tháng đến 06 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có thu nhập ổn định. Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây kìm có cán bằng kim loại, được quấn bằng băng keo màu đen, dài 39cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, dài 07cm, nặng 1,7 kg; 01 (một) chiếc ba lô màu đen cao 40cm, rộng 15 x 30cm; 01 biển kiểm soát 65F7-3190; trả lại cho vợ bị cáo 01 (một) phương tiện xe môtô, số khung: PCWCH8UM6 A001095; số máy: RRSWD152FMH0001095; màu sơn: đỏ; xe cũ đã qua sử dụng. Về trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại: bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít 714.715 đồng tiền bồi thường thiệt hại theo Biên lai thu tiền số Nº 0003302, ngày 13/01/2025 nên tiếp tục tạm giữ chờ thi hành án. Án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Ý kiến của bị cáo M tại phiên tòa: Do cần tiền tiêu xài nên vào khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 20/9/2024, bị cáo đã thực hiện hành vì lén lút dùng kìm cắt dây điện của Công ty Đ1 trên địa bàn huyện M, tỉnh Vĩnh Long theo sự dẫn đường của H1. Bị cáo bị truy tố, xét xử là không bị oan vì bị cáo chưa được xóa án tích.

Ý kiến của đại diện bị hại: Cơ quan tôi bị cắt dây điện, giá trị tôi thống nhất như kết luận định giá, không có khiếu nại; thiệt hại của đơn vị đã được khắc phục, tôi không có yêu cầu khác và xin giảm nhẹ cho bị cáo, mong bị cáo sửa đổi đừng làm thiệt hại cho xã hội. Dây điện bị cáo cắt là dây trung hòa (dây nguội).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh H1 trình bày: thấy bị cáo khổ quá nên tôi đồng ý đi cắt dây điện với bị cáo, tôi biết lỗi và đã bị phạt 3.000.000 đồng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị L trình bày: tôi là vợ của bị cáo, tôi đi bán vé số để sinh sống; chiếc xe là tôi mua, chồng tôi đi trộm tôi không biết. Tôi xin nhận lại xe, nếu bị tịch thu tôi không có ý kiến.

Lời sau cùng bị cáo Võ Văn M thừa nhận hành vi phạm tội, tỏ ra ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo còn phải nuôi con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Tất cả các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng từ giai đoạn phát hiện tội phạm đến điều tra, truy tố, xét xử; các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Không có khiếu nại từ phía người tham gia tố tụng. Chị Nguyễn Thị Hồng L là vợ bị cáo, chiếc xe môtô là tài sản chung của vợ chồng nên xác định tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

[2] Về nội dung:

[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn M thừa nhận: vào khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 20/9/2024, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vì lén lút dùng kìm cắt dây điện bằng đồng của Công ty Đ1 trên địa bàn huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, sơ đồ hiện trường và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Võ Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[2.2] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu của người khác về tài sản. Trong khi mọi người đang tích cực lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất cho mình và góp phần làm giàu cho xã hội, thì bị cáo lại làm ngược lại, muốn có tài sản để sử dụng cho lợi ích cá nhân nhưng lại không lo lao động sản xuất để có thu nhập hợp pháp, mà lợi dụng sự mất cảnh giác của người khác để sau đó lấy tài sản của họ làm của riêng mình, gây bất bình, làm mất trật tự xã hội. Do đó, việc xử lý nghiêm minh đối với bị cáo là cần thiết để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho đời sống xã hội.

[2.3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại xong, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ pháp luật quy định; Hội đồng xét xử có xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[2.4] Về hình phạt bổ sung: Theo tài liệu, chứng cứ và lời khai bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[3] Về xử lý vật chứng: chiếc xe môtô đang gắn biển kiểm soát 65F7-3190 (biển số giả), số khung: PCWCH8UM6 A001095; số máy: RRSWD152FMH0001095; màu sơn: đỏ; xe cũ đã qua sử dụng là tài sản của vợ chồng bị cáo, lẽ ra phải tịch thu sung vào ngân sách nhà nước nhưng do hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn và thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước nên giao trả cho vợ bị cáo; cây kìm có cán bằng kim loại, được quấn bằng băng keo màu đen, dài 39cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, dài 07cm, nặng 1,7 kg; 01 (một) chiếc ba lô màu đen cao 40cm, rộng 15 x 30cm là công cụ và vật có liên quan đến tội phạm, giá trị không đáng kể nên tịch thu tiêu hủy.

[4] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít 714.715 đồng tiền bồi thường thiệt hại theo Biên lai thu tiền số Nº 0003302, ngày 13/01/2025 nên tiếp tục tạm giữ chờ thi hành án.

[5] Đối với quyết định truy tố của bản Cáo trạng và quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng có căn cứ chấp nhận.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Võ Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Võ Văn M 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Võ Văn M.

2. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 cây kìm có cán bằng kim loại, được quấn bằng băng keo màu đen, dài 39cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng, dài 07cm, nặng 1,7 kg; 01 (một) chiếc ba lô màu đen cao 40cm, rộng 15 x 30cm; 01 kiểm soát 65F7-3190.

- Giao trả cho Nguyễn Thị Hồng L chiếc xe môtô, số khung: PCWCH8UM6 A001095; số máy: RRSWD152FMH0001095; màu sơn: đỏ; xe cũ đã qua sử dụng. Bà L có nghĩa vụ đến cơ quan có thẩm quyền để đăng ký lại theo quy định.

Vật chứng trên đang được quản lý theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu vật chứng ngày 14/01/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít.

3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: bị cáo phải bồi thường cho bị hại 714.715 đồng, bị cáo đã nộp đủ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít tiền theo Biên lai thu tiền số Nº 0003302, ngày 13/01/2025 nên tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án. Buộc bị cáo Võ Văn M nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai bị cáo, đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh VL;
  • - Phòng hồ sơ CAT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh VL;
  • - VKSND huyện MT;
  • - Công an huyện MT;
  • - Chi cục THADS huyện MT;
  • - UBND thị trấn Cái Tàu Hạ;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Trí Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 05/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Văn M trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger