|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 05/2025/HS-ST; - Ngày: 25/02/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- * Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tài;
- * Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Hoa Kiều
- 2. Ông Châu Văn Bình
- * Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Sỹ Đăng Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
- * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: ông Đỗ Huỳnh Thanh Tân kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 60/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/HSST-QĐ ngày 07 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện C, đối với các bị cáo:
- NGUYỄN TẤN B, sinh ngày 14/9/1984, tại tỉnh T. Tên gọi khác: BM. Số CCCD [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về Trật tự xã hội cấp ngày 30/8/2021. Nơi cư trú: ấp B, xã S, huyện C, tỉnh T. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 10/12. Nghề nghiệp: Làm vườn. Con ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị P. Vợ: Lê Thị Ngọc D và 01 người con sinh năm 2019. Tiền sự: Không. Tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T từ ngày 05/3/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- NGUYỄN TẤN H, sinh ngày 05/01/1986, tại tỉnh T. Số CCCD [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về Trật tự xã hội cấp ngày 08/12/2021. Nơi cư trú: ấp B, xã S, huyện C, tỉnh T. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 7/12. Nghề nghiệp: Làm vườn. Con ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị P. Vợ: Phan Thị Mộng T và có 02 người con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2012. Tiền sự: Không. Tiền án: Không. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
- CAO SĨ V1, sinh ngày 26/11/1995, tại tỉnh T. Tên gọi khác: T10. Số CCCD [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 26/11/1995. Nơi đăng ký thường trú: ấp T, xã T, Thành phố M, tỉnh T. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Tài xế. Con ông Cao Quốc D1 và bà Nguyễn Thị Vân A. Bị cáo có 01 người em ruột. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền sự: Không. Tiền án: Không. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
- NGUYỄN THÀNH T1, sinh ngày 26/6/1988, tại tỉnh T. Tên gọi khác: T2. Số CCCD [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về Trật tự xã hội cấp ngày 18/8/2022. Nơi cư trú: ấp H, xã B, huyện C, tỉnh T. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Buôn bán. Con ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị N. Bị cáo có 01 người anh ruột. Bị cáo có vợ nhưng đã ly hôn, bị cáo có 01 người con sinh năm 2012. Tiền sự: Không. Tiền án: Không. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
- NGUYỄN HOÀI P1, sinh ngày 01/01/1992, tại tỉnh T. Tên gọi khác: K. Số CCCD [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về Trật tự xã hội cấp ngày 16/7/2024. Nơi cư trú: ấp T, xã T, Thành phố M, tỉnh T. Chỗ ở hiện tại: ấp T, Thành phố M, tỉnh T. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 7/12. Nghề nghiệp: Tài xế. Con ông Nguyễn Ngọc H2 và bà Trương Ánh N1. Vợ: Nguyễn Thị Minh T3 và có 02 người con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2021. Tiền sự: Không. Tiền án: Không. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
- TRƯƠNG NHẬT M, sinh ngày 05/7/1987, tại tỉnh B. Tên gọi khác: M. SỐ CCCD: [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về Trật tự xã hội cấp ngày 27/4/2021. Nơi cư trú: số C khu phố D, Phường H, Thành phố B, tỉnh B. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 7/12. Nghề nghiệp: Buôn bán. Con ông Trương Văn P2 và bà Võ Thị Minh K1. Anh, em ruột: 02 người, lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 1989. Vợ: Nguyễn Thị Ngọc T4 và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2023. Tiền sự: Không. Tiền án: Không. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
- TRẦN TRUNG T5, sinh ngày 27/9/1980, tại tỉnh G. Tên gọi khác: B1. SỐ CCCD [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 10/10/2022. Nơi cư trú: Tổ H, phường I, Thành phố P, tỉnh G. Chỗ ở hiện tại: 4 Đ, Phường B, Thành phố M, tỉnh T. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 11/12. Nghề nghiệp: Tài xế. Con ông Trần Ngọc B2 (đã chết) và bà Bùi Thị T6. Bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Vợ: Nguyễn Thị Ngọc B3, có 02 người con, lớn sinh năm 2006, nhỏ năm 2017. Tiền sự: Không. Tiền án: Không. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
- NGUYỄN QUỐC T7, sinh ngày 31/01/1981, tại tỉnh T. Tên gọi khác: L. SỐ CCCD [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về Trật tự xã hội cấp ngày 11/8/2021. Nơi cư trú: ấp B, xã S, huyện C, tỉnh T. Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam.Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Tài xế K2. Con ông Nguyễn Minh P3 và bà Nguyễn Thị Mỹ L. Vợ: Lê Thị Thùy D2 và có 01 người con sinh năm 2007 và 01 người con sinh năm 2017. Tiền sự: Không. Tiền án: Không. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Võ Quốc Đ (T8), sinh năm 1987 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã T, Thành phố M, tỉnh T. -
Nguyễn Nhựt T9, sinh năm 1986 (có mặt)
Địa chỉ: ấp B, xã S, huyện C, tỉnh T. -
Nguyễn Thị S, sinh năm 1967 (có mặt)
Địa chỉ: ấp B, xã T, Thành phố M, tỉnh T -
Huỳnh Văn T10, sinh năm 1991 (vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: 188/4 đường Y, Phường 4, Tp. M, tỉnh T
Chỗ ở hiện nay: Số 2 Trần Văn Dược, Phường 6, Tp. M, tỉnh T -
Nguyễn Thị Vân A, sinh năm 1974 (có mặt)
Địa chỉ: ấp Tân Tỉnh B, xã T, Thành phố M, tỉnh T -
Nguyễn Thị Minh T3, sinh năm 1992 (có mặt)
Địa chỉ: ấp Tân Tỉnh B, xã Tân Mỹ Chánh, Thành phố M, tỉnh T -
Võ Thị Hồng T11, sinh năm 1994 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp B, xã S, huyện C, tỉnh T
* Người làm chứng:
-
Nguyễn Dương Q, sinh năm 1988 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp 3, xã V, huyện V, tỉnh H -
Nguyễn Phan Anh V, sinh năm 1988 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã T, Tp. M, tỉnh T -
Phan Thế P4, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp P, xã T, Tp. M, tỉnh T -
Trần Hữu N2, sinh năm 1979 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp P, xã T, Tp. M, tỉnh T -
Phan Văn T12, sinh năm 1971 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số C, tổ A, ấp B, xã S, huyện C, tỉnh T
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để có tiền tiêu xài, Nguyễn Tấn B nảy sinh ý định tổ chức cho các đối tượng đánh bạc với hình thức đá gà ăn thua bằng tiền để B thu tiền xâu. B sử dụng vườn dừa của bà Nguyễn Thị S (cô ruột của B) để làm địa điểm tổ chức đá gà. B giữ vai trò làm biện để cáp độ và làm trọng tài để phân định kết quả thắng thua. Phụ giúp B tổ chức đánh bạc có em ruột tên Nguyễn Tấn H và Cao Sĩ V1.
Theo đó, H được B phân công nhiệm vụ chuẩn bị các dụng cụ như băng keo, cựa, cân đồng hồ (loại 05 kg) và kính nhữ gà để cho các đối tượng tham gia đá gà thuê. Kết thúc mỗi trận đá gà B sẽ thu tiền xâu rồi đưa lại cho H 50.000 đồng tiền cho thuê dụng cụ. Văn được B giao nhiệm vụ cảnh giới lực lượng Công an và chỉ đường cho các đối tượng tham gia đá gà vào sân gà. Ngoài ra, B hứa hẹn mỗi ngày sẽ trả công 200.000 đồng cho H và V1.
Vào ngày 26/11/2021, B điện thoại rủ các đối tượng đánh bạc đến để tổ chức đá gà, sau đó B trực tiếp làm biện và trọng tài, cùng với H và V1 đã tổ chức xong 02 trận đá gà cho 07 người tham gia cá cược ăn thua bằng tiền, gồm: Nguyễn Thành T1 (tên gọi khác: T2), Nguyễn Hoài P1 (tên gọi khác: K), Trương Nhật M1 (tên gọi khác: M), Trần Trung T5 (tên gọi khác: B1), Nguyễn Quốc T7 (tên gọi khác: L1).
Ngoài ra còn có 02 đối tượng khác tham gia đặt cược nhưng không bị bắt giữ, gồm đối tượng tên Nguyễn Minh H3, sinh năm 1987, ngụ ấp P, xã T, Thành phố M, tỉnh T và 01 đối tượng không rõ nhân thân, địa chỉ.
Nguyễn Tấn B, Nguyễn Tấn H và Cao Sĩ V1 khai ngày 26/11/2021 là lần đầu tiên tổ chức đá gà, đã tổ chức đá xong 02 trận, có kết quả thắng thua, cụ thể như sau:
* Trận thứ nhất: Gà trống nòi, lông trắng, trọng lượng 2,9 kg của Nguyễn Thành T1 (chủ gà) được Nguyễn Tấn B cáp đá với gà trống nòi, lông đỏ đen (gà que), trọng lượng 2,9 kg của Nguyễn Quốc T7 (chủ gà). B giao đặt cược “đá xổ” 1.000.000 đồng và đồng ý cho mỗi bên chủ gà thỏa thuận cược thêm 4.000.000 đồng “đá giao hữu” nên tổng số tiền đặt cược mỗi bên là 5.000.0000 đồng. Tỷ lệ nếu bên nào thắng sẽ được hưởng 100% số tiền đặt cược. Để đủ tiền đặt cược, mỗi bên các đối tượng hùn tiền lại với nhau.
- Bên phía gà của T1, số tiền đặt cược của mỗi người như sau: T1 2.000.000 đồng, T5 1.000.000 đồng và một đối tượng không rõ nhân thân 2.000.000 đồng. T1 là người trồng cựa, quấn băng keo và thả gà.
- Bên phía gà của T7, số tiền đặt cược của mỗi người như sau: T7 3.000.000 đồng và đối tượng tên Nguyễn Minh H3 2.000.000 đồng. T7 là người trồng cựa, quấn băng keo và thả gà.
- Kết quả gà của T1 đá thắng gà của T7. B nhận 3.000.000 đồng từ T7. Do H3 bỏ về khi chưa kết thúc trận gà nên B cho H3 mượn 2.000.000 đồng để chung tiền cho T1. Số tiền thắng cược T1 nhận được là 4.700.000 đồng, do B giữ lại 300.000 đồng tiền xâu. Sau đó, B đưa cho Nguyễn Tấn H 50.000 đồng tiền thuê cựa sắt, băng keo và B giữ lại 250.000 đồng tiền sân. Sau khi nhận 4.700.000 đồng, T1 đưa T5 1.000.000 đồng, đưa cho đối tượng đặt cược theo (không rõ nhân thân) 1.900.000 đồng và T1 giữ lại 1.800.000 đồng.
* Trận thứ hai: Gà trống nòi, loại gà cú, trọng lượng 2,7 kg của Nguyễn Hoài P1 (chủ gà) được Nguyễn Tấn B cáp đá với gà trống nòi, lông trắng, trọng lượng 2,7 kg của Trương Nhật M1 (chủ gà). B giao đặt cược “đá xổ” với số tiền 1.000.000 đồng và đồng ý cho mỗi bên chủ gà thỏa thuận cược thêm 5.000.000 đồng “đá giao hữu” nên tổng số tiền đặt cược mỗi bên chủ gà là 6.000.000 đồng. Tỷ lệ nếu bên nào thắng sẽ được hưởng 100% số tiền đặt cược. Để đủ tiền đặt cược, mỗi bên các đối tượng hùn tiền lại với nhau.
- Bên phía gà của P1, số tiền đặt cược của mỗi người như sau: P1 3.000.000 đồng, Nguyễn Thành T1 2.000.000 đồng và B 1.000.000 đồng. T1 là người trồng cựa, quấn băng keo và thả gà.
- Bên phía gà của M1, M1 đặt cược 6.000.000 đồng và trực tiếp trồng cựa, quấn băng keo và thả gà.
- Kết quả gà của M1 đá thắng gà của P1. B gom tiền của T1 (2.000.000 đồng), P1 (3.000.000 đồng) và của B 1.000.000 đồng để chung tiền cho M1 tổng cộng là 5.600.000 đồng, B giữ lại 400.000 đồng tiền xâu. Sau đó, B đưa cho H 50.000 đồng tiền thuê cựa sắt, băng keo và B giữ lại 350.000 đồng tiền sân.
Ngoài ra, có 02 đối tượng tham gia đá hàng sáo với người khác, việc đặt cược và chung tiền không thông qua Nguyễn Tấn B, cụ thể:
- Nguyễn Nhật T13: Trận thứ nhất, T13 đặt cược 1.000.000 đồng theo gà của Nguyễn Quốc T7, đá hàng sáo với một đối tượng lạ mặt (không rõ họ tên, địa chỉ) trong sân gà. Kết quả T13 thua nên đã chung số tiền 1.000.000 đồng. Trận thứ hai, T13 đặt cược 3.000.000 đồng theo gà của Trương Nhật M1, đá hàng sáo với một đối tượng lạ mặt (không rõ họ tên, địa chỉ) trong sân gà. Kết quả T13 thắng, chưa nhận được tiền thì lực lượng công an đến.
- Võ Quốc Đ: Trận thứ nhất, Đ đặt cược 500.000 đồng theo gà của Nguyễn Quốc T7, đá hàng sáo với một đối tượng lạ mặt (không rõ họ tên, địa chỉ). Kết quả Đ thua nên đã chung số tiền 500.000 đồng.
Khi trận gà thứ 2 kết thúc, các bên đã chung, chi tiền và chuẩn bị cáp đá trận thứ ba thì Phòng C - Công an tỉnh T phối hợp Công an huyện C kiểm tra bắt quả tang, lập biên bản vụ việc và thu giữ các vật chứng liên quan. Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Tấn B cùng các đối tượng đã khai nhận toàn bộ hành vi.
Như vậy, số tiền tổ chức đánh bạc và số tiền đánh bạc xác định như sau:
* Trận gà thứ nhất:
- Số tiền tổ chức đánh bạc của Nguyễn Tấn B là: 5.000.000 đồng (tiền cược của bên thắng) + 5.000.000 đồng (tiền cược của bên thua) = 10.000.000 đồng.
- Số tiền đánh bạc của Nguyễn Thành T1 và Trần Trung T5 là: 5.000.000 đồng (tiền cá cược) + 5.000.000 đồng (tiền thắng cược) – 300.000 đồng (tiền xâu) = 9.700.000 đồng.
- Nguyễn Quốc T7 đặt cược cùng với Nguyễn Minh H3. Do đó, số tiền đánh bạc của Nguyễn Quốc T7 là: 5.000.000 đồng (tiền cá cược).
* Trận gà thứ hai:
- Số tiền tổ chức đánh bạc của Nguyễn Tấn B là: 6.000.000 đồng (tiền cược của bên thắng) + 6.000.000 đồng (tiền cược của bên thua) = 12.000.000 đồng.
- Số tiền đánh bạc của Trương Nhật M1 là: 6.000.000 đồng (tiền cá cược)+ 6.000.000 đồng (tiền thắng cược) – 400.000 đồng (tiền xâu) = 11.600.000 đồng.
- Số tiền đánh bạc của Nguyễn Hoài P1, Nguyễn Thành T1 và Nguyễn Tấn B là 6.000.000 (tiền cá cược).
Số tiền thu lợi bất chính (tiền sân) của Nguyễn Tấn B khi tổ chức đá gà là 600.000 đồng và của Nguyễn Tấn H cho thuê băng keo, cựa sắt là 100.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 01/CT-VKSCG ngày 03 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh T truy tố bị cáo Nguyễn Tấn B, Nguyễn Tấn H và Cao Sĩ V1 về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự và truy tố Nguyễn Hoài P1, Trương Nhật M1, Nguyễn Thành T1, Nguyễn Tấn B, Trần Trung T5 và Nguyễn Quốc T7 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện C giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung cáo trạng; qua phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tấn B, Nguyễn Tấn H và Cao Sĩ V1 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoài P1, Trương Nhật M1, Nguyễn Thành T1, Nguyễn Tấn B, Trần Trung T5 và Nguyễn Quốc T7 phạm tội “Đánh bạc”.
- + Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 322, khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 35, Điều 55, Điều 17 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn B số tiền từ 70.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng về tội tội “Tổ chức đánh bạc” và số tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt của hai tội danh này, xử phạt bị cáo tổng cộng từ 100.000.000 đồng đến 120.000.000 đồng.
-
+ Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 35, Điều 17 Bộ luật Hình sự
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn H số tiền từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.
-
+ Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 35, Điều 17 Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt bị cáo Cao Sĩ V1 số tiền từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.
-
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 35 Bộ luật Hình sự
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T1 số tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
-
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài P1 số tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
- - Xử phạt bị cáo Trương Nhật M1 số tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
- - Xử phạt bị cáo Trần Trung T5 số tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T7 số tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 cân đồng hồ loại 5kg, 01 tấm kính nhữ gà, 10 cặp cựa sắt, 20 cuộn băng keo đã qua sử dụng.
- - Tịch thu sung công quỹ nhà nước các khoản tiền: số tiền 10.800.000 đồng của Nguyễn Tấn B; số tiền 100.000 đồng của Nguyễn Tấn H; số tiền của Nguyễn Thành T1 là 5.800.000 đồng; số tiền của Trần Trung T5 là 2.000.000 đồng; số tiền của Trương Nhật M1 số tiền 14.200.000 đồng; số tiền của Nguyễn Nhật T13 3.000.000 đồng; số tiền của Võ Quốc Đ là 500.000 đồng.
- - Tịch thu sung công quỹ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia loại bàn phím màu đen (thu giữ của B), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia loại bàn phím màu đen (thu giữ của V1) và xe mô tô hai bánh, kiểu Wave màu đen, biển số 63F7 – 1836.
- - Tiếp tục tạm giữ số tiền còn lại của các bị cáo để đảm bảo thi hành án, cụ thể: Nguyễn Tấn B với số tiền 19.650.000 đồng; Nguyễn Tấn H với số tiền 11.900.000 đồng; Nguyễn Thành T1 với số tiền 28.200.000 đồng; Trần Trung T5 với số tiền 2.100.000 đồng; Nguyễn Quốc T7 với số tiền 11.000.000 đồng và Nguyễn Hoài P1 với số tiền 2.500.000 đồng.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến tranh luận, bị cáo thống nhất với Cáo trạng, bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, về hình phạt, xử lý vật chứng. Bị cáo có lời nói sau cùng: bị cáo biết mình có hành vi vi phạm pháp luật nên bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được thi hành hình phạt tiền, tạo điều kiện cho bị cáo được tại ngoại để lo cho gia đình và trở thành người có ích cho xã hội.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, lời trình bày của bị cáo, người có quyền, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, ý kiến của Kiểm sát viên;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, người có quyền, nghĩa vụ liên quan Võ Quốc Đ và người làm chứng Trần Hữu N2, Phan Văn T12, Nguyễn Phan Anh V, Phan Thế P4 có đơn xin vắng mặt; người có quyền, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng còn lại được triệu tập hợp lệ đến để dự phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Nhận thấy, việc vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng nêu trên không ảnh hưởng đến việc xét xử đối với bị cáo, bị cáo đồng ý tiếp tục xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục phiên tòa xét xử đối với các bị cáo.
[3] Về nội dung: Quá trình tố tụng và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cụ thể:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 26/11/2021, tại ấp B, xã S, huyện C, tỉnh T, lực lượng công an bắt quả tang Nguyễn Tấn B, Nguyễn Tấn H và Cao Sĩ V1 có hành vi tổ chức đánh bạc trái phép bằng hình thức đá gà ăn thua bằng tiền, mục đích để thu tiền xâu. B làm biện để cáp độ và làm trọng tài. Bình phân công Văn cảnh G, chỉ đường và phân công Huân chuẩn bị các dụng cụ như băng keo, cựa, cân đồng hồ (loại 05 kg), kính nhữ gà để cho thuê. Ngày 26/11/2021, B đã tổ chức đá xong 02 trận gà, các bị cáo tham gia đánh bạc gồm Nguyễn Hoài P1, Trương Nhật M1, Nguyễn Thành T1, Trần Trung T5, Nguyễn Quốc T7 và Nguyễn Tấn B. Số tiền cá cược của trận thứ nhất là 5.000.000 đồng, số tiền cá cược của trận thứ hai là 6.000.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của B là 600.000 đồng và của H là 100.000 đồng. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[4] Tính chất, mức độ hành vi:
Hành vi của Nguyễn Tấn B, Nguyễn Tấn H và Cao Sĩ V1 đã phạm vào tội “Tổ chức đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự. Hành vi của Nguyễn Hoài P1, Trương Nhật M1, Nguyễn Thành T1, Nguyễn Tấn B, Trần Trung T5 và Nguyễn Quốc T7 đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, cụ thể:
Tại điểm d khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự quy định:
“1.Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
d) Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; có lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc hoặc phân công người canh gác, người phục vụ khi đánh bạc; sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc;"
Tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
[5] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền quản lý trật tự xã hội của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, góp phần làm tăng tệ nạn đánh bạc trong xã hội cũng như các tội phạm khác. Bản thân các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rằng đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền là hành vi vi phạm pháp luật nhưng lại không tự rèn luyện, lao động tạo ra tài sản, thu nhập góp phần phát triển kinh tế gia đình mà rủ rê, tổ chức, tụ tập đánh bạc trái phép (bằng hình thức đá gà) ăn thua bằng tiền nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của bị cáo và cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự, cần phải có mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa tội phạm tại địa phương.
Song Hội đồng xét xử thấy rằng, các bị cáo là người dân lao động nhất thời phạm tội, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không tiền án, tiền sự,... nên Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà nghĩ nên áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung cho mọi người.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, nhân thân, đồng phạm:
- + Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Bị cáo B và H có ông nội là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng “Huy chương kháng chiến” hạng nhì nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Bị cáo P1, M1, T5 và T7 phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
-
+ Về tình tiết tăng nặng:
- - Bị cáo P1, M1, T5 và T7 không có tình tiết tăng nặng.
- - Bị cáo B, H, V1 và T1 phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
-
+ Về nhân thân:
- - Bị cáo Nguyễn Thành T1 từng bị xử phạt hành chính về hành vi tổ chức đá gà ăn thua bằng tiền.
- - Bị cáo Nguyễn Tấn B đã từng có tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; từng có tiền án về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
-
+ Đồng phạm:
Đối với tội “Tổ chức đánh bạc” có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, các bị cáo B, H và Văn cùng là người thực hiện, trong đó bị cáo B giữ vai trò chính, rủ rê, chuẩn bị địa điểm để các bị cáo khác đến đá gà trái phép, phân công Văn cảnh gác, phân công H chuẩn bị cựa, cân đồng hồ, kính nhữ gà... để phục vụ cho các đối tượng đánh bạc. Đồng thời Bình giữ vai trò làm biện để cáp độ và làm trọng tài để phân định kết quả thắng thua, trực tiếp thu tiền xâu. Bị cáo H và V1 sau khi được rủ rê đã đồng ý thực hiện và là người cảnh giới, hướng dẫn, chuẩn bị cựa, cân đồng hồ, kính nhữ gà... để cho thuê. Các bị cáo cùng được hưởng lợi, chia tiền từ việc tổ chức đánh bạc nên phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi của các bị cáo.
-
+ Các tình tiết khác:
Đối với Nguyễn Nhật T13 và Võ Quốc Đ tham gia đá hàng sáo với đối tượng không rõ họ tên, địa chỉ với số tiền lần lượt là 3.000.000 đồng và 500.000 đồng. Qua xác minh, T13 và Đ chưa có tiền án, tiền sự. Nên không xử lý hình sự đối với T13 và Đ về hành vi “Đánh bạc”. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T13 và Đ là phù hợp.
Đối tượng Nguyễn Minh H3 và đối tượng không rõ nhân thân tham gia đánh bạc trong trận gà thứ nhất, hiện tại cơ quan điều tra chưa làm việc được. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm việc được có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với bà Nguyễn Thị S: Ngày 26/11/2021, các bị cáo tổ chức đá gà trên phần đất do bà Nguyễn Thị S đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, bà S không sinh sống trên phần đất này và không biết sự việc. Nguyễn Tấn B không hứa hẹn cho bà S lợi ích, tiền xâu từ việc tổ chức đánh bạc. Nên không xem xét trách nhiệm đối với bà S là phù hợp quy định của pháp luật.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng” và quy định tại khoản 3 Điều 322 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có xem xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, đồng thời xét thấy các bị cáo đã bị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[8] Về vật chứng:
Đối với 01 cân đồng hồ loại 5kg, 01 tấm kính nhữ gà, 10 cặp cựa sắt, 20 cuộn băng keo đã qua sử dụng là vật dụng sử dụng để phục vụ cho việc đá gà, là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc, số tiền thắng cược trong các lần đánh bạc, số tiền các bị cáo dự định dùng để đánh bạc là số tiền tang vật trong vụ án nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước, cụ thể:
- + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 10.800.000 đồng của Nguyễn Tấn B, trong đó gồm 10.000.000 đồng dự định đánh bạc, số tiền 600.000 thu tiền sân và 200.000 do được người đánh bạc tặng cho bị cáo B.
- + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 100.000 đồng của Nguyễn Tấn H do thu lợi bất chính từ việc cho thuê cựa, băng keo.
- + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền của Nguyễn Thành T1 là 4.000.000 đồng để đánh bạc và số tiền 1.800.000 thu lợi bất chính do thắng cược.
- + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền của Trần Trung T5 là 1.000.000 đồng dùng để đánh bạc và 1.000.000 thu lợi bất chính do thắng cược.
- + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền của Trương Nhật M1 số tiền 14.200.000 đồng, gồm 8.600.000 đồng để đánh bạc và 5.600.000 đồng do thắng cược.
- + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền của anh Nguyễn Nhật T13 3.000.000 đồng dùng để đánh bạc.
- + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền của anh Võ Quốc Đ là 500.000 đồng dùng để đánh bạc.
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia loại bàn phím màu đen (thu giữ của B), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia loại bàn phím màu đen (thu giữ của V1) và xe mô tô hai bánh, kiểu Wave màu đen, biển số 63F7 – 1836 mà bị cáo H sử dụng để đi mua cựa sắt, băng keo, kính nhữ gà về cho thuê lại. Đây là công cụ các bị cáo dùng để liên lạc và bị cáo H dùng xe làm phương tiện đi mua cựa sắt, băng keo, kính nhữ gà phục vụ cho việc tổ chức đánh bạc, còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- - Đối với số tiền còn lại của các bị cáo (sau khi trừ khoản tiền tịch thu sung công quỹ Nhà nước), Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án, cụ thể tiếp tục tạm giữ số tiền của các bị cáo: Nguyễn Tấn B số tiền 19.650.000 đồng, Nguyễn Tấn H: 11.900.000 đồng, Nguyễn Thành T1: 28.200.000 đồng, Trần Trung T5: 2.100.000 đồng, Nguyễn Quốc T7: 11.000.000 đồng, Nguyễn Hoài P1: 2.500.000 đồng.
[9] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- + Đại diện Viện kiểm sát phát biểu về các chứng cứ buộc tội, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, về mức hình phạt, Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là tương xứng với nhân thân, hậu quả của bị cáo đã gây ra nên Hội đồng xét xử có xem xét khi nghị án.
- + Về xử lý vật chứng, Viện kiểm sát đề nghị là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
[11] Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người có quyền, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh T để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Riêng người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn B, Nguyễn Tấn H và Cao Sĩ V1 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoài P1, Trương Nhật M1, Nguyễn Thành T1, Nguyễn Tấn B, Trần Trung T5 và Nguyễn Quốc T7 phạm tội “Đánh bạc".
1. Về hình phạt:
-
- Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 322, khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 55, Điều 35, Điều 17 Bộ luật Hình sự.
- * Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn B số tiền 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng) về tội tổ chức đánh bạc.
- * Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn B số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) về tội đánh bạc.
- Tổng hợp hình phạt của 02 tội danh nêu trên, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tổng cộng số tiền 110.000.000 đồng (Một trăm mười triệu đồng), thực hiện ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
-
- Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 35, Điều 17 Bộ luật Hình sự.
- * Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn H số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), thực hiện ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
-
- Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 35, Điều 17 Bộ luật Hình sự.
- * Xử phạt bị cáo Cao Sĩ V1 số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), thực hiện ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
-
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự.
- * Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài P1 số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng), thực hiện ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
- * Xử phạt bị cáo Trương Nhật M1 số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng), thực hiện ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
- * Xử phạt bị cáo Trần Trung T5 số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), thực hiện ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
- * Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T7 số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng), thực hiện ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
-
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 35 Bộ luật Hình sự.
- * Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T1 số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), thực hiện ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 10.800.000 đồng của Nguyễn Tấn B; số tiền 100.000 đồng của Nguyễn Tấn H; số tiền của Nguyễn Thành T1 là 5.800.000 đồng; số tiền của Trần Trung T5 là 2.000.000 đồng; số tiền của Trương Nhật M1 số tiền 14.200.000 đồng; số tiền của Nguyễn Nhật T13 3.000.000 đồng; số tiền của Võ Quốc Đ là 500.000 đồng.
- - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 02 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia loại bàn phím màu đen và xe mô tô hai bánh, kiểu Wave màu đen, biển số 63F7 – 1836.
- - Tiếp tục tạm giữ số tiền còn lại của các bị cáo để đảm bảo thi hành án, cụ thể: tạm giữ của Nguyễn Tấn B số tiền 19.650.000 đồng; Nguyễn Tấn H số tiền 11.900.000 đồng; Nguyễn Thành T1 số tiền 28.200.000 đồng; Trần Trung T5 số tiền 2.100.000 đồng; Nguyễn Quốc T7 số tiền 11.000.000 đồng và Nguyễn Hoài P1 số tiền 2.500.000 đồng.
- (Số tiền tịch thu và tiếp tục tạm giữ nêu trên được niêm phong trong 08 bì thư theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo ngày 24/02/2025)
3. Về án phí hình sự sơ thẩm:
áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Tấn B, Nguyễn Tấn H, Cao Sĩ V1, Nguyễn Hoài P1, Trương Nhật M1, Nguyễn Thành T1, Trần Trung T5 và Nguyễn Quốc T7, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo.
Áp dụng Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người có quyền, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh T để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Riêng người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Văn Tài |
Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG về hình sự (tổ chức đánh bạc, đánh bạc)
- Số bản án: 05/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức đánh bạc, Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tấn B và đồng phạm phạm tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc
