Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠNH HÓA

TỈNH LONG AN

Bản án số: 05/2025/HS-ST

Ngày 22 - 02 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH HÓA TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triến

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Thành Trung

Bà Nguyễn Thị Hai

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ánh Nguyệt -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

  1. Nguyễn Hoàng T (Tên gọi khác: T12), sinh ngày 09 tháng 12 năm 1984 tại Long An; Nơi thường trú: Ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An; Nơi ở hiện nay: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1954 và bà Lê Thị Ú, sinh năm 1956; Vợ là bà Đặng Thị Ngọc H, sinh năm 1988 và có 01 con tên Nguyễn Thị Yến V, sinh năm 2009; Gia đình có 04 anh chị em ruột; Tiền án, tiền sự: Không.
  2. Võ Văn D (Tên gọi khác: Q), sinh ngày 04 tháng 02 năm 1978 tại Bến Tre; Nơi cư trú: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Văn K, sinh năm 1945 (Đã chết) và bà Võ Thị Đ, sinh năm 1945 (Đã chết); Vợ là bà Trần Thị G, sinh năm 1975 và có 02 con tên Võ Thị Kiều O (Sinh năm 2000), Võ Thị Kiều L (Sinh năm 2010); Tiền án, tiền sự: Không.
  3. Trần Thế N, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1975 tại Hưng Yên; Nơi cư trú: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 00/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn H1, sinh năm 1954 (Đã chết) và bà Lương Thị N1, sinh năm 1955; Vợ là bà Vương Thị N2, sinh năm 1979 và có 02 con tên Trần Văn T2 (Sinh năm 2001), Trần Thị Hồng N3 (Sinh năm 2003); Gia đình có 03 anh em ruột; Tiền án, tiền sự: Không.
  4. Đỗ Văn D1, sinh ngày 07 tháng 11 năm 1985 tại Long An; Nơi thường trú: Đường N, Tổ 12A ấp X, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện nay: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Văn Đ1, sinh năm 1943 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị N4, sinh năm 1953; Vợ là bà Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm 1985 và có 01 con tên Đỗ Minh K1, sinh năm 2002; Gia đình có 06 anh chị em ruột; Tiền án, tiền sự: Không.
  5. Nguyễn Văn M, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1977 tại Long An; Nơi cư trú: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1937 (Đã chết) và bà Lê Thị T3, sinh năm 1937; Vợ là bà Lê Thị L1, sinh năm 1986 và có 03 con, con lớn nhất sinh 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2016; Gia đình có 11 anh chị em ruột; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 02/01/2012, bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép với mức tiền phạt là 2.000.000 đồng (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 39/QĐ-XPHC), chấp hành nộp phạt ngày 04/01/2012.
  6. Nguyễn Vi K2, sinh ngày 05 tháng 10 năm 1990 tại Long An; Nơi thường trú: Ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An; Nơi ở hiện nay: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1954 và bà Lê Thị Ú, sinh năm 1956; Vợ là bà Nguyễn Thị Kim Q1, sinh năm 1991 và có 03 con, con lớn nhất sinh 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2021; Gia đình có 04 anh chị em ruột; Tiền án, tiền sự: Không.
  7. Nguyễn Hoàng Đ2, sinh ngày 15 tháng 05 năm 1992 tại Long An; Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D2, sinh năm 1964 và bà Liêu Thị G1, sinh năm 1963; Gia đình có 04 anh chị em ruột; Tiền án, tiền sự: Không.
  8. Thân Văn C (Tên gọi khác: Lý C1), sinh ngày 15 tháng 12 năm 1988 tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thân Văn Đ3, sinh năm 1954 và bà Huỳnh Thị C2, sinh năm 1967; Vợ là bà Bùi Thị P, sinh năm 1989 và có 01 con tên Thân Nguyễn Như T4, sinh năm 2009; Gia đình có 04 anh em ruột; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 11/9/2023, bị Công an xã M, huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép với mức tiền phạt là 1.500.000 đồng (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPHC), chấp hành nộp phạt ngày 21/9/2023.
  9. Trương Long T5, sinh ngày 10 tháng 08 năm 1994 tại Long An; Nơi cư trú: Ấp E, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn H2, sinh năm 1969 và bà Võ Thị L2, sinh năm 1970; Vợ là bà Ngô Thị Như N5, sinh năm 1993 và có 01 con tên Trương Khánh Đ4, sinh năm 2021; Gia đình có 03 chị em ruột; Tiền án, tiền sự: Không.
  10. Trương Hải N6, sinh ngày 01 tháng 5 năm 1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Số A ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Ngọc H3, sinh năm 1958 và bà Lê Thị C3, sinh năm 1959; Đã từng có vợ là bà Nhân Quý K3, sinh năm 1994 (Đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2014; Gia đình có 05 anh chị em ruột; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt để tạm giam từ ngày 09/7/2024 tại nhà tạm giữ Công an huyện T cho đến ngày 22/01/2025 thì được gia đình bảo lĩnh được tại ngoại.
  11. Nguyễn Văn T6, sinh ngày 31 tháng 12 năm 1975 tại Long An; Nơi thường trú: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Long An; Nơi ở hiện nay: Ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C4, sinh năm 1945 (Đã chết) và bà Lê Thị H4, sinh năm 1940; Vợ là bà Nguyễn Thị C5, sinh năm 1980 và có 02 con tên Nguyễn Hoài T7 (Sinh năm 1999), Nguyễn Thị Anh T8 (Sinh năm 2008); Gia đình có 08 anh chị em ruột; Tiền án, tiền sự: Không.

Tất cả các bị cáo hiện đang tại ngoại, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Các bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 30/3/2024, Nguyễn Hoàng T sử dụng sân đất trống phía sau nhà tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Long An để tổ chức đá gà thắng thua bằng tiền cho hai bên gà gồm: Trương Hải N6 làm chủ gà mang theo 01 gà trống nòi (gà cú) có lông màu trắng, đỏ và đi cùng Nguyễn Hoàng Đ2, Thân Văn C, Trương Long T5; bên còn lại là 01 gà trống nòi có lông màu trắng (gà bướm) của Nguyễn Văn T6 làm chủ gà, do Võ Văn D (Q) mang theo đi cùng Trần Thế N, Nguyễn Văn M, Đỗ Văn D1, Nguyễn Vi K2. Khi đi, cả hai bên chuẩn bị cặp cựa sắt để mang cho gà của mình. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, khi các đối tượng tập trung tại sân, T lấy cân đồng hồ loại 05kg và 10 cuộc băng keo đã chuẩn bị sẵn cho hai bên cân gà và quấn cựa; T giao kèo sẽ thu 05% tiền hoa hồng trên tổng số tiền của bên thắng cược. Lúc này, Võ Văn D ôm gà bướm cân nặng 2.98kg và N6 ôm gà cú cân nặng 2.9kg, hai bên thống nhất gà bướm chấp gà cú đá ăn tỷ lệ 10/8.5 (tức gà của N6 nếu thua thì chỉ thua 85% trên tổng số tiền đặt cược, nếu thắng sẽ được 100%). Sau đó, Võ Văn D quấn cựa gà bướm, N ôm gà và Đ2 quấn cựa gà cú, N6 ôm gà. Sau đó, N điện thoại cho Nguyễn Văn T6 (chủ gà bướm), T6 xác nhận tham gia 2.000.000 đồng nên N đồng ý cho T6 mượn tiền để đặt cược; T6 chia lại cho Phạm Văn N7 500.000 đồng, nhưng không nói tổng số tiền cá cược bao nhiêu. Nguyễn Hoàng T điện thoại cho Hà Thanh T9 nói nay có đá gà, T9 đồng ý tham gia nhưng không biết tổng số tiền các đối tượng khác đặt là bao nhiêu, T9 nhờ T cho mượn 1.000.000 đồng đặt cược vào gà bướm của T6. T làm trọng tài, hô cho các con bạc tham gia đặt cược. Kết quả đặt cược vào gà bướm của T6 với tổng số tiền là 6.000.000 đồng, cụ thể: Võ Văn D tham gia 1.000.000 đồng, Đỗ Văn D1 tham gia 500.000 đồng, N tham gia 800.000 đồng, M tham gia 200.000 đồng, K2 tham gia 500.000 đồng, T6 tham gia 1.500.000 đồng và Ngay tham gia 500.000 đồng, T9 tham gia 1.000.000 đồng. Kết quả đặt cược vào gà cú của N6 sau khi trừ tỷ lệ cược 10/8.5 với tổng số tiền là 5.100.000 đồng bao gồm: Nhân tham gia 4.250.000 đồng, Đ2 tham gia 425.000 đồng, T5 tham gia 212.500 đồng, C tham gia 212.500 đồng. Cả hai bên thống nhất số tiền cược là 11.100.000 đồng; T làm trọng tài hô “1, 2, 3... thả gà” lúc này Võ Văn D ôm gà bướm, Đ2 ôm gà cú đồng loạt thả gà đá với nhau và đá được 30 giây thì gà bướm của T6 thua nên T làm trọng tài phân xử gà cú của N6 thắng số tiền 6.000.000 đồng. Nguyễn Hoàng T làm trọng tài gom tiền chung cho bên gà của N6 5.700.000 đồng, T sẽ giữ lại 300.000 đồng tiền hoa hồng. Đến 10 giờ cùng ngày thì lực lượng Công an huyện T bắt quả tang, lập biên bản tạm giữ người và tài sản, đồ vật, phương tiện có liên quan. Tại Cơ quan điều tra các đối tượng đã thừa nhận hành vi vi phạm của mình.

Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang được lập vào lúc 10 giờ ngày 30/3/2024 tại ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Long An; Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ: 01 cân đồng hồ loại 05kg, 02 giỏ bàng, 01 con gà trống nồi có lông màu trắng với trọng lượng 2.98kg, 04 xe mô tô, 01 cặp cựa sắt, 10 cuộn băng keo đã qua sử dụng và 24.500.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ và xử lý vật chứng:

  • Trả lại cho ông Trần Văn T10: 01 điện thoại di động cảm ứng OPPO; 01 xe mô tô mang biển số 63V5–6448, nhãn hiệu Fusin, màu xanh và số tiền 3.300.000 đồng.
  • Thu giữ và nhập kho vật chứng: 02 cặp cựa gà kim loại; 01 cân đồng hồ loại 05kg, màu xanh; 02 giỏ bàng; 10 cuộn băng keo đã sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax; 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, số IMEI 353.111.100.349.321; 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 2F; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A57; 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu S, màu xanh; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A24; 04 điện thoại di động hiệu N8, loại bàn phím; 01 xe mô tô biển số 62F1-154.80 hiệu Honda, loại Wave alpha, màu đen; 01 xe mô tô biển số 52S2-8242 hiệu Honda, loại Future Neo, màu đỏ đen không có số máy, số khung nguyên thủy do bị đục xóa; 01 xe mô tô biển số 59P1-971.74 hiệu Honda, loại Wave S, màu xanh đen không có số máy, số khung nguyên thủy do bị đục xóa và tạm gửi vào tài khoản Công an huyện T số tiền 27.087.500 đồng.

Đối với Phạm Văn N7 và Hà Thanh T9 có hành vi “Đánh bạc trái phép”. Tuy nhiên tổng số tiền và hiện vật các đối tượng tham gia đánh bạc dưới 5.000.000 đồng và các đối tượng chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc theo quy định tại Điều 321 và Điều 322 Bộ luật hình sự, nên hành vi của các đối tượng trên chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Do đó, Cơ quan điều tra đã chuyển xử lý vi phạm hành chính.

Đối với Phan Văn Đ5 chỉ xem các đối tượng đánh bạc, không tham gia nên không xem xét xử lý.

Cáo trạng số 50/CT-VKSTH ngày 18 tháng 11 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Hóa đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng T về tội “Tổ chức đánh bạc” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự và truy tố các bị cáo Trương Hải N6, Nguyễn Hoàng Đ2, Thân Văn C, Trương Long T5, Võ Văn D, Trần Thế N, Nguyễn Văn M, Nguyễn Vi K2, Đỗ Văn D1, Nguyễn Văn T6 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

(1) Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất của hành vi và hậu quả xảy ra đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh:

– Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T về tội “Tổ chức đánh bạc” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

– Tuyên bố các bị cáo Trương Hải N6, Nguyễn Hoàng Đ2, Thân Văn C, Trương Long T5, Võ Văn D, Trần Thế N, Nguyễn Văn M, Nguyễn Vi K2, Đỗ Văn D1, Nguyễn Văn T6 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về hình phạt:

  • Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 32; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T từ 18 tháng đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là từ 36 tháng đến 48 tháng và hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
  • Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 32; Điều 50; Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt các bị cáo Nguyễn Hoàng Đ2, Thân Văn C, Trương Long T5, Võ Văn D, Trần Thế N, Nguyễn Văn M, Nguyễn Vi K2, Đỗ Văn D1, Nguyễn Văn T6 từ 12 tháng đến 15 tháng cải tại không giam giữ và hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
  • Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt các bị cáo Trương Hải Nhân T11 06 tháng đến 07 tháng tù, khấu trừ thời hạn tạm giam và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Phần Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý xong không có yêu cầu xem xét lại nên không xem xét.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 02 cặp cựa gà kim loại; 01 cân đồng hồ loại 05kg, màu xanh; 02 giỏ bàng; 10 cuộn băng keo đã sử dụng.

Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax; 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, số IMEI 353.111.100.349.321; 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 2F; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A57; 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu S, màu xanh; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A24; 04 điện thoại di động hiệu N8, loại bàn phím; 01 xe mô tô biển số 62F1-154.80 hiệu Honda, loại Wave alpha, màu đen; 01 xe mô tô biển số 52S2-8242 hiệu Honda, loại Future Neo, màu đỏ đen không có số máy, số khung nguyên thủy do bị đục xóa; 01 xe mô tô biển số 59P1-971.74 hiệu Honda, loại Wave S, màu xanh đen không có số máy, số khung nguyên thủy do bị đục xóa và số tiền tạm gửi vào tài khoản Công an huyện T là 27.087.500 đồng.

Nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án: Các bị cáo biết việc làm của mình là sai trái, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: (28)

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về nội dung:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 30/3/2024, tại sân đất trống phía sau nhà thuộc ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Long An; Nguyễn Hoàng T tổ chức 01 trận gà đá thắng thua bằng tiền cho Trương Hải N6, Nguyễn Hoàng Đ2, Thân Văn C, Trương Long T5, Võ Văn D, Trần Thế N, Nguyễn Văn M, Nguyễn Vi K2, Đỗ Văn D1, Nguyễn Văn T6 tham gia để thu tiền sân 05% tiền hoa hồng trên tổng số tiền của bên thắng cược. Tổng số tiền các đối tượng tham gia sử dụng vào mục đích đánh bạc là 11.100.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng T và các bị cáo Trương Hải N6, Nguyễn Hoàng Đ2, Thân Văn C, Trương Long T5, Võ Văn D, Trần Thế N, Nguyễn Văn M, Nguyễn Vi K2, Đỗ Văn D1, Nguyễn Văn T6 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp khách quan với lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang lúc 10 giờ 00 ngày 30/3/2024, bản ảnh khám nghiệm hiện trường là 04 ảnh do C6 huyện T lập và cùng các chứng khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Trên cơ sở đó có đủ bằng chứng khách quan để kết luận rằng bị cáo Nguyễn Hoàng T đã phạm vào tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự và các bị cáo Trương Hải N6, Nguyễn Hoàng Đ2, Thân Văn C, Trương Long T5, Võ Văn D, Trần Thế N, Nguyễn Văn M, Nguyễn Vi K2, Đỗ Văn D1, Nguyễn Văn T6 phạm vào tội “Đáng bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng số 50/CT-VKSTH ngày 18 tháng 11 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Hóa truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là có cơ sở, đúng theo quy định của pháp luật.

[3] Hành vi của các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Trương Hải N6, Nguyễn Hoàng Đ2, Thân Văn C, Trương Long T5, Võ Văn D, Trần Thế N, Nguyễn Văn M, Nguyễn Vi K2, Đỗ Văn D1, Nguyễn Văn T6 là nguy hiểm cho xã hội; đã xâm phạm đến lĩnh vực trật tự an toàn xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý thông qua đá gà để xác phạt nhau thắng thua bằng tiền, hành vi của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm. Trong vụ án có nhiều bị cáo cùng thực hiện nên cần phải phân tích hành vi phạm tội của từng bị cáo để có mức lượng hình cho phù hợp.

Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng T là người đứng ra tổ chức cho các con bạc khác tham gia đánh bạc như lấy cân đồng hồ loại 05kg, 10 cuộc băng keo đã chuẩn bị sẵn cho hai bên cân gà và quấn cựa. T giao kèo sẽ thu 05% tiền hoa hồng trên tổng số tiền của bên thắng cược, số tiền bắt quả tang xác định đánh bạc trên 5 triệu đồng và có 10 con bạc tham gia nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc”. Do đó, bị cáo T phải có mức hình phạt cao nhất trong vụ án.

Đối với Trương Hải N6, Nguyễn Hoàng Đ2, Thân Văn C, Trương Long T5, Võ Văn D, Trần Thế N, Nguyễn Văn M, Nguyễn Vi K2, Đỗ Văn D1, Nguyễn Văn T6 là các con bạc tham gia đánh bạc (đá gà) do bị cáo T đứng ra tổ chức; số tiền bắt quả tang trên chiếu bạc (địa điểm đá gà) là trên 5 triệu đồng nên các bị cáo phạm vào tội “Đánh bạc”. Các bị cáo sử dụng số tiền đánh bạc cao hơn thì có mức hình phạt cao hơn so với các bị cáo đánh bạc với số tiền nhỏ hơn.

Xét thấy, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, không cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, ngoài hình phạt chính thì cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình tiền đối với các bị cáo để đảm bảo răng đe. Riêng bị cáo Nó do không có việc làm ổn đinh, gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên miểm hình phạt bổ sung.

Ngoài ra, riêng đối với bị cáo Trương Hải N6 đã bị tạm giam 06 tháng 13 ngày (Từ ngày 09/7/2024 đến ngày 22/01/2025) thì thời hạn tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Trương Hải N6, Nguyễn Hoàng Đ2, Thân Văn C, Trương Long T5, Võ Văn D, Trần Thế N, Nguyễn Văn M, Nguyễn Vi K2, Đỗ Văn D1, Nguyễn Văn T6 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Hoàng T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, tất cả các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về khung hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Trương Hải N6, Nguyễn Hoàng Đ2, Thân Văn C, Trương Long T5, Võ Văn D, Trần Thế N, Nguyễn Văn M, Nguyễn Vi K2, Đỗ Văn D1, Nguyễn Văn T6 là có cơ sở theo quy định pháp luật.

[6] Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 02 cặp cựa gà kim loại, 01 cân đồng hồ loại 05kg có màu xanh, 02 giỏ bàng và 10 cuộn băng keo đã qua sử dụng là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax; 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, số IMEI 353.111.100.349.321; 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 2F; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A57; 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu S, màu xanh; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A24; 04 điện thoại di động hiệu N8, loại bàn phím; 01 xe mô tô biển số 62F1-154.80 hiệu Honda, loại Wave alpha, màu đen; 01 xe mô tô biển số 52S2-8242 hiệu Honda, loại Future Neo, màu đỏ đen không có số máy, số khung nguyên thủy do bị đục xóa; 01 xe mô tô biển số 59P1-971.74 hiệu Honda, loại Wave S, màu xanh đen không có số máy, số khung nguyên thủy do bị đục xóa và số tiền tạm gửi vào tài khoản Công an huyện T là 27.087.500 đồng. Đây là tài sản của các bị cáo dùng để liên lạc, di chuyển, sử dụng để tham gia đánh bạc (đá gà) và các xe máy không xác định chủ sở hữu được các bị cáo sử dụng làm phương tiện để đi đến đánh bạc; các bị cáo không có yêu cầu nhận lại điện thoại, xe máy, tiền bị tạm giữ trong quá trình bắt quả tang và điều tra nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[7] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Trương Hải N6, Nguyễn Hoàng Đ2, Thân Văn C, Trương Long T5, Võ Văn D, Trần Thế N, Nguyễn Văn M, Nguyễn Vi K2, Đỗ Văn D1, Nguyễn Văn T6 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố:

1.1 Bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 32; Điều 50 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng T 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án (22/02/2025).

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Long An theo dõi, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú trong phạm vi huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền để làm thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án treo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được hưởng án treo đến cư trú để giám sát, giáo dục.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú ngoài phạm vi huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền có trách nhiệm làm thủ tục chuyển hồ sơ thi hành án treo cho cơ quan thi hành án hình sự nơi người được hưởng án treo đến cư trú để tổ chức việc thi hành án theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự và thông báo bằng văn bản cho Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.

1.2 Bị cáo Trương Hải N6, Nguyễn Hoàng Đ2, Thân Văn C, Trương Long T5, Võ Văn D, Trần Thế N, Nguyễn Văn M, Nguyễn Vi K2, Đỗ Văn D1, Nguyễn Văn T6 phạm tội “Đánh bạc”.

*Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 32; Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Trương Hải N6 06 (sáu) tháng 13 (mười ba) ngày tù.

Khấu trừ thời hạn tạm giam (Từ ngày 09/7/2024 đến ngày 22/01/2025), bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.

*Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 32; Điều 50 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt:

  • – Bị cáo Thân Văn C 01 (một) năm 03 (ba) tháng cải tạo không giam giữ.
  • – Bị cáo Võ Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.
  • – Bị cáo Trần Thế N 01 (một) năm cải tạo không giam giữ.
  • – Bị cáo Nguyễn Văn M 01 (một) năm 03 (ba) tháng cải tạo không giam giữ.
  • – Bị cáo Nguyễn Vi K2 01 (một) năm cải tạo không giam giữ.
  • – Bị cáo Đỗ Văn D1 01 (một) năm cải tạo không giam giữ.

Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền nhận được quyết định thi hành án.

Giao các bị cáo Thân Văn C, Võ Văn D, Trần Thế N, Nguyễn Văn M, Nguyễn Vi K2 và Đỗ Văn D1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Long An theo dõi, giáo dục trong thời gian thi hành án. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Long An trong việc giám sát, giáo dục. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian chấp hành án, các bị cáo phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.

– Bị cáo Trương Long T5 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An theo dõi, giáo dục trong thời gian thi hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An trong việc giám sát, giáo dục. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian chấp hành án, bị cáo phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.

– Bị cáo Nguyễn Văn T6 01 (một) năm 03 (ba) tháng cải tạo không giam giữ.

– Bị cáo Nguyễn Hoàng Đ2 01 (một) năm 03 (ba) tháng cải tạo không giam giữ.

Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền nhận được quyết định thi hành án.

Giao các bị cáo Nguyễn Văn T6, Nguyễn Hoàng Đ2 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Long An theo dõi, giáo dục trong thời gian thi hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Long An trong việc giám sát, giáo dục. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian chấp hành án, bị cáo phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.

1.3 Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 322 và khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  • – Xử phạt Nguyễn Hoàng T số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
  • – Xử phạt Nguyễn Hoàng Đ2 số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
  • – Xử phạt Thân Văn C số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
  • – Xử phạt Trương Long T5 số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
  • – Xử phạt Võ Văn D số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
  • – Xử phạt Trần Thế N số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
  • – Xử phạt Nguyễn Văn M số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
  • – Xử phạt Nguyễn Vi K2 số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
  • – Xử phạt Đỗ Văn D1 số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
  • – Xử phạt Nguyễn Văn T6 số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 02 cặp cựa gà kim loại, 01 cân đồng hồ loại 05kg có màu xanh, 02 giỏ bàng và 10 cuộn băng keo đã qua sử dụng.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước (Địa phương): 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax; 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, số IMEI 353.111.100.349.321; 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 2F; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A57; 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu S, màu xanh; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A24; 04 điện thoại di động hiệu N8, loại bàn phím; 01 xe mô tô biển số 62F1-154.80 hiệu Honda, loại Wave alpha, màu đen; 01 xe mô tô biển số 52S2-8242 hiệu Honda, loại Future Neo, màu đỏ đen không có số máy, số khung nguyên thủy do bị đục xóa; 01 xe mô tô biển số 59P1-971.74 hiệu Honda, loại Wave S, màu xanh đen không có số máy, số khung nguyên thủy do bị đục xóa và số tiền 27.087.500 đồng (Hai mươi bảy triệu không trăm tám mươi bảy nghìn năm trăm đồng).

Vật chứng, tiền nêu trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạnh Hoá quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 36/QĐ-VKS ngày 18/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Hóa.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Trương Hải N6, Nguyễn Hoàng Đ2, Thân Văn C, Trương Long T5, Võ Văn D, Trần Thế N, Nguyễn Văn M, Nguyễn Vi K2, Đỗ Văn D1, Nguyễn Văn T6; mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà Nước.

4. Bị cáo án có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Thạnh Hóa;
  • - Cơ quan điều tra Công an tỉnh Long An;
  • - Chi cục THADS huyện Thạnh Hóa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Long An;
  • - UBND, Công an xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Triến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 22/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH HÓA TỈNH LONG AN về tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 05/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH HÓA TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng Tiên - "Tổ chức đánh bạc" và đồng phạm - "Đánh bạc"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger