TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 05/2025/HS-ST
Ngày 14-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Xuân Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Điệp và ông Trần Thế Nam.
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong tham gia phiên toà: bà Ngô Thị Liễn - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 06/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Mậu P, sinh năm 1984; nơi cư trú: thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; căn cước công dân số [...], cấp ngày 02/12/2022, nơi cấp: Cục cảnh sát QLHC nghề nghiệp: thợ xây; trình độ học vấn: 12/12; con ông Lê Mậu C, sinh năm 1964 và bà Lê Thị H, sinh năm 1967; đều trú tại: thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; có vợ là: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1986; trú tại: thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; có 03 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” - Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: ông Nguyễn S, sinh năm 1964; nơi cư trú: L, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị - có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1963; nơi cư trú: L, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị - có mặt.
- Người làm chứng: bà Nguyễn Thị Lan H3, sinh năm 1970; nơi cư trú: L, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị - có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Chiều ngày 30/11/2024, sau khi uống rượu, Lê Mậu P về thăm vợ và con mới sinh tại nhà mẹ vợ ở thôn L, xã T, huyện T, nghĩ lại việc ông Nguyễn S, sinh năm 1964, trú tại thôn L, xã T, huyện T, vu khống Phòng lấy trộm máy mơn (sự việc xảy ra từ tháng 6 năm 2024), nên Phòng bức xúc. Phòng một mình điều khiển xe môtô biển kiểm soát 74D1- 41.465 của vợ P đến nhà ông S, cách nhà mẹ vợ Phòng khoảng 150m để giải thích. Khi đến nhà gặp ông S, P nói “Cháu không lấy trộm máy mơn, tại sao bác lại khẳng định cháu lấy”, ông S trả lời “Tao không nói chuyện với mi”, rồi dùng tay đấm trúng miệng P và đuổi Phòng ra khỏi nhà. Sau đó P về nhà mẹ vợ, lấy cây rựa dài 65cm
đặt cạnh giếng, rồi điều khiển xe môtô trở lại nhà ông S, P cầm rựa đến gần ông S và giải thích không lấy trộm máy mơn, trong lúc lời qua tiếng lại, ông S xong đến gần Phòng, sợ bị đánh nên P cầm rựa ở tay trái đưa lên cao chém một nhát về phía trước, làm lưỡi rựa trúng vào đầu của ông S gây thương tích, phải nhập viện điều trị.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 267/KLTTCT-TTPY ngày 16 tháng 12 năm 2024 của Trung tâm giám định Pháp y tỉnh Q, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn S tại thời điểm giám định là 17%.
Cáo trạng số 06/CT-VKSTP ngày 24/02/2025, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị truy tố Lê Mậu P về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Lê Mậu P phạm tội: “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt Lê Mậu P từ 18 tháng đến 21 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách gấp đôi; về dân sự: bị cáo đã bồi thường cho bị, nay bị hại không có yêu câu gì thêm nên không xem xét; về vật chứng: áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 cây rựa có cán bằng gỗ, dài 65 cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 31,5 cm, bản lưỡi rộng nhất dài 0,5 cm; phần cán được làm bằng gỗ dài 33,5cm, đường kính 3,5 cm; về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của bị hại: Ông Nguyễn S thừa nhận vào ngày 30/11/2024 giữa ông S và bị cáo Lê Mậu P có mâu thuẩn xích mích với nhau, sau đó có xô xát nên bị cáo dùng cây rựa để chém ông S gây thương tích với tỷ lệ thương tích là 17%. Quá trình điều tra bị cáo đã bồi thường cho ông S số tiền 3.000.000 đồng, nay ông S không yêu cầu gì thêm về phần dân sự, ông S đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H2 thừa nhận bị cáo có lấy cây rựa của bà, tuy nhiên việc bị cáo sử dụng cây rựa này để chém ông S thì bà hoàn toàn không biết. Cây rựa đã cũ và không có giá trị sử dụng nên bà không có yêu cầu nhận lại, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.
Ý kiến của người làm chứng bà Nguyễn Thị Lan H3: Bà H3 khai nhận vào ngày 30/11/2024, bị cáo Lê Mậu P có đến nhà ông S, giữa hai bên có lời qua tiếng lại với nhau, sau đó ông S bị Lê Mậu P gây thương tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1 ] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: vào ngày 30/11/2024, tại nhà ông Nguyễn S, ở thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị. Do có mâu thuẩn từ trước nên Lê Mậu P đã có hành vi dùng cây rựa dài 65cm là hung khí nguy hiểm chém vào đầu của ông S gây thương tích, phải nhập viện điều trị. Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 267/KLTTCT-TTPY ngày 16 tháng 12 năm 2024 của Trung tâm giám định Pháp y tỉnh Q, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn S tại thời điểm giám định là 17%. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hành vi nói trên của bị cáo đã gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và có đủ yếu tố cấu thành tội "Cố ý gây thương tích". Mặc dù thương tích của ông Nguyễn S là 17% nhưng khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo dùng rựa là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho ông S nên bị cáo bị truy tố và xét xử theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự với tình tiết định khung tăng nặng là "dùng hung khí nguy hiểm".
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, và quá trình nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe của ông Nguyễn S, làm mất trật tự trị an trên địa bàn. Hành vi của bị cáo đã thể hiện thái độ coi thường sức khỏe của người khác, coi thường pháp luật, vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi xem xét, quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy: Cần áp dụng các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo vì: bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại; quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
Sau khi xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tính chất, mức độ hành vi phạm tội và quá trình nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Bị cáo Lê Mậu P bị xử phạt tù cho hưởng án treo nên Hội đồng xét xử cần ra quyết định hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 04/2025/LCĐKNCT-TA ngày 25/02/2025, của Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong đối với bị cáo theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo bị xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo nên cần ra quyết định tạm hoãn xuất nhập cảnh theo quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự. Thời hạn tạm hoãn xuất nhập cảnh kể từ ngày tuyên án cho đến khi chấp hành xong bản án.
Về vật chứng: Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã thu giữ 01 cây rựa có cán bằng gỗ, dài 65 cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 31,5 cm, bản lưỡi rộng nhất dài 0,5 cm; phần cán được làm bằng gỗ dài 33,5cm, đường kính 3,5 cm. Cây rự này là bị cáo đã lấy của bà Nguyễn Thị H2, là mẹ vợ của bị cáo. Tuy nhiên việc bị cáo sử dụng cây rựa này để gây thương tích cho ông S thì bà H2 hoàn toàn không biết. Nay bà H2 không có yêu cầu nhận lại và đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy, nên áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy cây rựa nói trên.
[3] Về trách nhiệm dân sự: trong quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, phía bị hại không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Lê Mậu P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Về trách nhiệm hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Lê Mậu P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Mậu P 18 (Mười tám ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (14/3/2025).
Giao bị cáo Lê Mậu P cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng:
áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Tịch thu tiêu hủy: 01 cây rựa có cán bằng gỗ, dài 65 cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 31,5 cm, bản lưỡi rộng nhất dài 0,5 cm; phần cán được làm bằng gỗ dài 33,5cm, đường kính 3,5 cm,
(Đặc điểm của các vật chứng này được thể hiện theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 17/02/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Phong.
Về án phí:
áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Lê Mậu P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án trên một cấp để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Hải |
Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 05/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dùng rựa chém gây thương tích
