|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 05/2025/HS-ST Ngày 28/02/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Bùi Xuân Vinh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà: Lê Thị Mai Hương
Bà: Đỗ Thị Viện
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Sơn – Thẩm tra viên Toà án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trần Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng; địa chỉ: Ngõ B đường N, tổ dân phố số I, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai với hình thức trực tiếp vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Hồng H, sinh ngày 13 tháng 4 năm 1995 tại Bắc Giang; nơi cư trú: Thôn B, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn K, sinh năm 1970 và bà: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1974. Bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 15/11/2024, tại Nhà tạm giữ Công an quận Đ.
- Bị hại: Công ty TNHH một thành viên C1- Người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1982, có mặt.
- Người làm chứng:
- + Anh Đào Bá N, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn C, xã A, huyện Y, tỉnh Bấc Giang, có mặt;
- + Ông Lê Tiến B, sinh năm 1955; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa, vắng;
- + Chị Vũ Thị M, sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt;
- + Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1970; địa chỉ: Thôn B, xã L, huyện T, tỉnh Bác Giang;
- + Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn B, xã L, huyện T, tỉnh Bác Giang, có mặt;
- + Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn A, xã T, thị xã P, tỉnh Thái Nguyên, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 04/4/2024, do không thỏa thuận được với Công ty C1 về việc tạm ứng tiền lương nên H, N, cháu L thống nhất nghỉ việc. N và cháu L đi xe mô tô về Bắc Giang trước, còn H ở lại tiếp tục xin tạm ứng tiền lương và về sau. Khoảng 15 giờ cùng ngày, anh N chở cháu L bằng xe mô tô đi về Bắc Giang, còn H ở lại căn hộ số 01, lô F, nhắn tin, gọi điện nhiều lần cho chị Vũ Thị M, sinh năm 1980, nơi thường trú: tổ A, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc là Kế toán của Công ty C1 và ông C để xin tạm ứng lương nhưng không được chấp nhận. H nhắn tin cho chị M nói nếu không trả lương sẽ đập phá các tấm đá đã ốp lát. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, H đi sang căn hộ số 02, lô F mượn một chiếc búa đầu bằng kim loại, có cán được làm gỗ, dài 37cm, phần cán bằng gỗ dài 33cm, đường kính 3,5cm, phần đầu búa bằng kim loại có chiều dài 13,5cm, rộng 3,5cm, có hai đầu, đầu hình vuông kích thước 3,5x3,5cm, đầu vót nhọt thành lưỡi búa dài 3,5cm của ông Lê Tiến B, sinh năm 1955, nơi thường trú: thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa là bảo vệ của chủ đầu tư nói dối là để làm việc. Sau khi mượn được búa, H đi bộ ra mặt căn số 01 lô 62, cầm búa bằng tay phải đập vào góc và mép của 18 tấm đá G đã ốp lát ở bậc thềm tam cấp từ căn số 01 đến căn số 04 của lô 62, gây nứt vỡ ở 19 vị trí khác nhau của 18 tấm đá. Sau khi đập phá xong, H vào trả búa cho ông B và gọi điện cho anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1987, nơi thường trú: thôn A, xã T, thị xã P, tỉnh Thái nguyên là công nhân của tổ đội khác làm cùng khu vực vào đón H ra nhà trọ của anh D ở gần cổng chính khu D để ngủ nhờ. Đến sáng ngày 05/4/2024, H đi xe khách về Bắc Giang.
Ngày 17/4/2024, Công ty C1 có đơn trình báo sự việc gửi Công an phường V, Đ, Hải Phòng.
Ngày 22/4/2024, ông B đã giao nộp cho Cơ quan Công an một chiếc búa đầu bằng kim loại, có cán được làm gỗ, dài 37cm, phần cán bằng gỗ dài 33cm, đường kính 3,5cm, phần đầu búa bằng kim loại có chiều dài 13,5cm, rộng 3,5cm, có hai đầu, đầu hình vuông kích thước 3,5x3,5cm, đầu vót nhọt thành lưỡi búa dài 3,5cm.
Kết luận định giá tài sản số 23 ngày 02/8/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự quận Đ kết luận: Tổng giá trị tài sản thiệt hại gồm 18 phiến đá G là 32.300.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 04/CT-VKSÐS ngày 15/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn đã truy tố bị cáo về tội “Hủy hoại tài sản”, theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.
Đối với ông Lê Tiến B là người cho H mượn chiếc búa, anh Nguyễn Văn D là người cho H ngủ nhờ tại nhà trọ của mình nhưng ông B, anh D không biết việc H phạm tội nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng. Sau khi đánh giá tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 178; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng H từ 08 tháng đến 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 15/11/2024.
Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: H đã bồi thường cho Công ty C1 32.000.000 (Ba mươi hai triệu) đồng, Công ty C1 không yêu cầu H phải bồi thường thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: trả lại cho ông Lê Tiến B 01 chiếc búa có đặc điểm: đầu búa bằng kim loại, có cán được làm gỗ, tổng chiều dài 37cm, phần cán bằng gỗ dài 33cm, đường kính 3,5cm, phần đầu búa bằng kim loại có chiều dài 13,5cm, rộng 3,5cm, có hai đầu, đầu hình vuông kích thước 3,5x3,5cm, đầu vót nhọt thành lưỡi búa dài 3,5cm vì đây là tài sản, công cụ lao động của ông Lê Tiến B, ông B cho bị cáo mượn nhưng không biết bị cáo dùng tài sản này để làm công cụ, phương tiện phạm tội.
Về án phí : Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát luận tội và tranh luận, bị cáo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.1] Đối với những người làm chứng: Ông Lê Tiến B, chị Vũ Thị M và anh Nguyễn Văn D đã được triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên những người này đã có lời khai đầy đủ trong hồ vụ án. Xác định, sự vắng mặt đó không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về tội danh và khung hình phạt:
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại; phù hợp với lời khai của người làm chứng; Kết luận định giá tài sản; vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Xuất phát từ việc mâu thuẫn trong việc xin tạm ứng tiền công lao động giữa bị cáo và bị hại nên khoảng 18 giờ ngày 04/4/2024, tại lô F thuộc Z, khu D thuộc tổ H, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Hồng H đã sử dụng một chiếc búa đầu bằng kim loại đập phá làm hư hỏng hoàn toàn 18 tấm đá Granite đã được ốp lát trên các bậc tam cấp tại các căn hộ số 01 đến 04 thuộc lô 62 là tài sản của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên C1, gây thiệt hại 32.300.000 đồng. Bị cáo là người có đầy đủ khả năng điều khiển hành vi và nhận thức được việc đập phá, hủy hoại tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
[3] Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội. Do vậy cần xử phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, bản thân từng có thời gian tham gia quân đội, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; ngoài ra bị hại cũng có một phần lỗi khi chậm trả lương cho bị cáo. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 178 Bộ luật hình sự.
[8] Về xử lý vật chứng: 01(Một)chiếc búa đầu bằng kim loại, có cán được làm bằng gỗ, tổng chiều dài 37cm. Phần cán bằng gỗ dài 33cm, đường kính 3,5cm, phần đầu úa bằng kim loại có chiều dài 13,5cm, có hai đầu, đầu hình vuông có kích thước 3,5 x 3,5cm, đầu vót nhọn thành lưỡi búa dài 3,5cm được cơ quan điều tra thu giữ là tài sản, công cụ lao động của ông Lê Tiến B, ông B cho bị cáo mượn nhưng không biết bị cáo dùng tài sản này để làm công cụ, phương tiện phạm tội nên cần áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho ông B sở hữu.
[9] Về vấn đề khác: Trong vụ án này, Đối với ông Lê Tiến B là người cho Nguyễn Hồng H mượn chiếc búa, anh Nguyễn Văn D là người cho H ngủ nhờ tại nhà trọ của mình nhưng ông B, anh D không biết việc H phạm tội nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xử lý, Hội đồng xét xử không xét.
[10] Về án phí quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo và bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng H phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng H 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 15/11/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại ông Lê Tiến B: 01(Một) búa đầu bằng kim loại, có cán được làm bằng gỗ, tổng chiều dài 37cm. Phần cán bằng gỗ dài 33cm, đường kính 3,5cm, phần đầu úa bằng kim loại có chiều dài 13,5cm, có hai đầu, đầu hình vuông có kích thước 3,5 x 3,5cm, đầu vót nhọn thành lưỡi búa dài 3,5cm.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/01/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an quận Đ và Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng)
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án
Bị cáo Nguyễn Hồng H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Xuân Vinh |
Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm (hủy hoại tài sản)
- Số bản án: 05/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Hủy hoại tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hồng H phạm tội Hủy hoại tài sản
