Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LA GI,

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 05/2025/HS-ST

Ngày: 25 - 02 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đình Phú.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lữ Duy Minh;

Ông Nguyễn Văn Quang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Vinh – Thư ký TAND thị xã La Gi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Đông – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2025/TLST-HS, ngày 04 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Trần Khắc L, sinh ngày: 12/12/1989, tại tỉnh T.H; nơi thường trú: Tổ dân phố T.H1, phường T.H2, thị xã N.S, tỉnh T.H; nơi ở hiện nay: Phường P.L, L.G, B.T; nghề nghiệp: Lao động biển; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Khắc H, sinh năm: 1959 và bà Lê Thị Đ, sinh năm: 1960; chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 24/9/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia, tỉnh T.H xử phạt 06 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 83/2015/HSST, chấp hành xong vào ngày 30/9/2020. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 22/10/2024, bị tạm giữ ngày 23/10/2024.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm: 1965, nơi cư trú: Tổ X, thôn H.P, xã T.T, thị xã L.G, tỉnh B.T.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1994, nơi cư trú: Thôn H.P, xã T.T, thị xã L.G, tỉnh B.T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tại Cáo trạng số 07/CT-VKSLG-HS, ngày 04/02/2025, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xác định: Ngày 22/10/2024, Trần Khắc L đi bộ trên đường Lý Thái Tổ hướng về xã Tân Tiến, thị xã La Gi, với mục đích tìm tài sản để lấy trộm. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi đến thôn Hiệp Phú, xã Tân Tiến, thị xã La Gi, L đi vào một con hẻm thì nhìn thấy xe mô tô mang biển kiểm soát số 86B6-157.54 thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị B, được dựng phía sau hiên nhà, không có người trông coi, L dắt xe ra đường rồi khởi động xe mô tô nhưng không thành công. L dắt xe ra đường Lý Thái Tổ và nhờ một người đàn ông (không rõ nhân thân) đang điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường phụ đẩy, còn L ngồi trên xe mô tô mang biển kiểm soát số 86B6-157.54 để điều khiển đi về hướng phường Bình Tân, thị xã La Gi. Lúc này, ông Nguyễn Văn T đang đứng trước nhà, nhìn thấy và nghi ngờ L lấy trộm xe mô tô của bà B nên đã điều khiển xe mô tô đuổi theo. Khi đến ngã ba giao nhau giữa đường Nguyễn Chí Thanh và đường Nguyễn Tri Phương thuộc địa phận xã Tân Bình, thị xã La Gi, L dắt xe mô tô mang biển kiểm soát số 86B6-157.54 đi vào đường Nguyễn Tri Phương, hướng về phường Bình Tân, còn người đàn ông đẩy xe cho L đi thẳng vào đường Nguyễn Chí Thanh, hướng về phường Tân An, thị xã La Gi. L dắt xe đi được một doạn thì bị ông T đuổi kịp, ông T cùng với người dân giữ L lại rồi trình báo với chính quyền địa phương, Công an xã Tân Tiến đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tăng đối với Trần Khắc L, thu giữ vật chứng rồi chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã La Gi để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 107, ngày 28/10/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã La Gi kết luận 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Wave, màu xám đen bạc, biển số 86B6-157.54, đã qua sử dụng còn hoạt động, có giá trị là 08 triệu đồng.

Với những tình tiết trên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố ra trước Tòa án để xét xử đối với Trần Khắc L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Khắc L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”, áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 18 tháng tù.

Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Trần Khắc L khai nhận hành vi phạm tội của mình, tại phiên tòa, bị cáo xác định nội dung bản cáo trạng mô tả đúng sự việc đã diễn ra, xin được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, bị hại là bà Nguyễn Thị B xác định nội dung cáo trạng mô tả đúng sự việc đã diễn ra, bà B đã được nhận lại tài sản nên không yêu cầu về dân sự, về trách nhiệm hình sự, nhận thấy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách ngẫu nhiên, không mang tính chuyên nghiệp, bị hại đã nhận lại được tài sản nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Lời nói sau cùng, bị cáo L nhận thức hành vi mà bị cáo đã thực hiện là sai trái, bị cáo rất hối hận, mong sớm được trở lại đời sống xã hội để trở thành công dân có ích, giúp đỡ cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã La Gi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, vắng mặt ông Nguyễn Văn T, là người làm chứng, nhận thấy sự vắng mặt của ông T không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, Kiểm sát viên, bị cáo và bị hại không đề nghị hoãn phiên tòa, chính vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt ông T.

[3] Với mục đích tìm kiếm tài sản để chiếm đoạt nhằm có tiền mua ma túy sử dụng, khoảng 17 giờ ngày 22/10/2024, Trần Khắc L nhìn thấy phía sau nhà số 36, đường Lý Thái Tổ, thôn Hiệp Tiến, xã Tân Tiến, thị xã La Gi có 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, có màu xám - đen - bạc, mang biển kiểm soát số 86B6-157.54, không có người trông coi, L đã lén lút đi vào, lấy cắp nhưng không khởi động được, nên dắt xe mô tô đi dọc theo đường Lý Thái Tổ về hướng xã Tấn Bình, thị xã La Gi. Trên đường đi, L được một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) phụ đẩy, đến ngã ba giao nhau giữa đường Nguyễn Chí Thanh và đường Nguyễn Tri Phương, thuộc địa phận xã Tân Bình, thị xã La Gi, người đàn ông đi thẳng theo đường Nguyễn Chí Thanh hướng về phường Tân An, thị xã La Gi, còn L dắt xe mô tô đi vào đường Nguyễn Tri Phương. Trong quá trình L thực hiện hành vi của mình thì bị ông Nguyễn Văn T phát hiện, ông T đã liên hệ với bà B và được xác nhận xe mô tô bị mất cắp, ông T cùng với người dân bắt giữ L, bàn giao cho lực lượng chức năng giải quyết.

[4] Xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, có màu xám – đen – bạc, mang biển kiểm soát số 86B6-157.54 được Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thị xã La Gi kết luận có giá trị 08 triệu đồng tại Biên bản định giá số 107/KL-ĐGTS.

[5] Trần Khắc L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, với mong muốn có tiền thỏa mãn nhu cầu của bản thân, L đã lén lút chiếm đoạt tài sản là xe mô tô mang biển kiểm soát số 86B6-157.54 thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị B, giá trị tài sản bị chiếm đoạt được xác định là 08 triệu đồng. Hành vi mà L đã thực hiện phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt là cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi đã thực hiện, tại phiên tòa bị cáo được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngày 24/9/2015, L bị Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia, tỉnh T.H xử phạt 06 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 83/2015/HSST, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 30/9/2020, nhưng bị cáo chưa thi hành xong nghĩa vụ nộp án phí, bồi thường thiệt hại nên chưa được xóa án tích theo quy định tại khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự, mà bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo quy định tại khoản 1 Điều 53, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Tội phạm mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của tổ chức, cá nhân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Trên cơ sở đánh giá toàn diện tính chất, mức độ nguy hiểm, phương thức thực hiện và hậu quả của tội phạm do bị cáo L đã thực hiện, đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để đảm bảo giáo dục bị cáo thành công dân tốt cho xã hội, đồng thời đấu tranh, phòng chống tội phạm chung. Ngoài ra, bị cáo cũng thừa nhận có sử dụng ma túy và trộm cắp tài sản để mua ma túy sử dụng. Chính vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy, mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi tham gia phiên tòa, từ 12 tháng đến 18 tháng tù, là phù hợp.

[7] Bị cáo bị bắt quả tang vào ngày 22/10/2024 theo Biên bản bắt người phạm tội quả tang của Công an xã Tân Tiến, đến ngày 23/10/2024, bị cáo bị bắt tạm giữ theo Quyết định tạm giữa số 1802/QĐ-ĐTTH và Biên bản giao, nhận người bị tạm giữ, tại khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự quy định: “Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 01 ngày từ”. Do vậy, thời gian chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 23/10/2024).

[8] Đối với các vật chứng bị thu giữ trong quá trình điều tra là 01 xe mô tô mang biển kiểm soát số 86B6-157.54, nhãn hiệu Honda, số loại: wave, màu sơn: Xám – Đen – Bạc, số máy: HC12E-5279952, số khung: 121XDY279843, đã qua sử dụng, đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã La Gi trả lại cho bà Nguyễn Thị B. Những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về việc xử lý vật chứng.

[9] Về trách nhiệm dân sự, do những người tham gia tố tụng không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[10] Do được xác định là có tội nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Khắc L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 53, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Khắc L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 23/10/2024).

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sư, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Trần Khắc L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - VKSND thị xã La Gi;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - CQCSĐT Công an thị xã La Gi;
  • - TP phụ trách THAHS;
  • - NTG CA thị xã La Gi;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu: VP; HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phan Đình Phú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 05/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Khắc L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, với mong muốn có tiền thỏa mãn nhu cầu của bản thân, L đã lén lút chiếm đoạt tài sản là xe mô tô mang biển kiểm soát số 86B6-157.54 thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị B, giá trị tài sản bị chiếm đoạt được xác định là 08 triệu đồng. Hành vi mà L đã thực hiện phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt là cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger