|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 05/2025/HS-ST Ngày 21 tháng 02 năm 2025. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ
1. Tại điểm cầu trung tâm:
- - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Mai.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đức Quảng và ông Phan Thanh Trường.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Thủy – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Lương Ngọc Lâm - Kiểm sát viên.
2. Có mặt tại điểm cầu thành phần (Trại tạm giam Công an tỉnh P):
- - Đại diện Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ: Ông Đỗ Hải L – Thư ký Tòa án.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ: ông Nguyễn Giang N – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ mở phiên tòa trực tuyến tại 02 (hai) điểm cầu gồm: Điểm cầu trung tâm, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; 01 (một) điểm cầu thành phần, tại Trại tạm giam Công an tỉnh P để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 75/2024/TLST- HS ngày 27 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 đối với Bị cáo:
Họ và tên: HÀ VĂN T (tên gọi khác: không);
Sinh ngày 16 tháng 12 năm 1996; tại: huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Nơi Đăng ký nhân khẩu thường trú: khu 6, xã Tân Phú (nay là thị trấn Tân Phú), huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Mường;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam
Con ông: Đinh Văn T1, sinh năm 1973 và bà Phùng Thị L1, sinh năm 1977; Vợ, con: không có.
Tiền án: Có 01 tiền án. Tại Bản án số 39/2021/HSST, ngày 23/6/2021, Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn xử phạt 24 tháng tù (thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 17/11/2020) về tội Cố ý gây thương tích. Bản án số 75/2021/HS-PT ngày 26/8/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ quyết định giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm đối với Hà Văn T. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù tại Trại Giam T4, ra trại ngày 17/11/2022. Quá trình điều tra xác định T đã thi hành xong tiền án phí hình sự và tiền án phí dân sự. Đến ngày 31/5/2024, T bị bắt quả tang thực hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma túy.
Tiền sự: Không.
Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật):
- + Ngày 05/11/2013, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, thành phố Hà Nội có Quyết định khởi tố bị can đối với Hà Văn T về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 08/11/2013, Viện kiểm sát nhân dân Tp Hà Nội đã Quyết định chuyển hồ sơ vụ án đến Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ giải quyết theo thẩm quyền.
- + Ngày 27/12/2013, UBND quận H, thành phố Hà Nội ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc đối với Hà Văn T. Tấm đã chấp hành Quyết định tại Trung tâm C Hà Nội. Ngày 07/01/2014, Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ trích xuất, quyết định tạm giam.
- + Ngày 10/01/2014, Toà án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ xử phạt Hà Văn T 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo chấp hành án tại Trại giam Q – Bộ C1 và đã thi hành xong tiền án phí hình sự, tiền án phí dân sự.
- + Ngày 12/12/2014, Toà án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xử phạt Hà Văn T 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tấn chấp hành án tại Trại giam Q - Bộ C1. Bị cáo đã chấp hành án xong hình phạt được ra trại ngày 08/07/2016, và đã thi hành xong tiền án phí hình sự, tiền án phí dân sự.
- + Ngày 12/09/2016, Công an huyện C, tỉnh Hậu Giang Quyết định xử phạt hành chính đối với Hà Văn T số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Bị cáo đã chấp hành, nộp phạt ngày 14/09/2016.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 31/5/2024 đến ngày 09/6/2024 chuyển tạm giam, hiện đang thi hành Lệnh tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh P (có mặt tại điểm cầu trại tạm giam).
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đinh Thị H – Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P (có mặt tại điểm cầu trung tâm).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Trần Văn Y, sinh năm 2000; trú tại: khu L, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt);
- + Anh Hoàng Văn T2, sinh năm 1998; trú tại: xóm Đ, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Về hành vi phạm tội của Bị cáo:
Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 31/5/2024, tại khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an tỉnh P phối hợp với Công an thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ đã phát hiện, bắt quả tang Hà Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích để sử dụng và bán.
Vật chứng thu giữ: 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột cục màu trắng; 01 gói bên ngoài được quấn băng dính màu đen, trong là lớp giấy bạc cả 2 mặt màu xám, trong cùng có chứa chất bột cục màu trắng; 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. Ngoài ra còn tạm giữ của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh đã qua sử dụng, kèm 01 sim số: 0982135722.
Ngày 01/6/2024, Phòng Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an tỉnh P đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Hà Văn T tại khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Ngày 01/6/2024, Phòng CSĐT Công an tỉnh P đã tiến hành test nhanh chất ma túy đối với Hà Văn T cho kết quả Dương tính với ma túy loại “MOR” (Heroine).
Ngày 01/6/2024, phòng CSĐT Công an tỉnh P đã ra Quyết định trưng cầu Phòng K Công an tỉnh P giám định chất ma túy đã thu giữ của Hà Văn T.
Tại bản kết luận giám định số: 784/KL-KTHS ngày 04/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: “Chất bột cục màu trắng chứa trong 01 túi nilon và 01 gói giấy gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có tổng khối lượng: 0,603 gam; Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa bên trong 01 túi nilon gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,360 gam.
- * Heroine (H) là chất ma túy, có số thứ tự 09, Danh mục I, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
- * Methamphetamine là chất ma túy, có số thứ tự 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.”
Sau khi nhận mẫu giám định, Phòng K Công an tỉnh P đã hoàn trả: Một bì giấy số 784 của Phòng K - Công an tỉnh P. Bì ghi: Trả lại 0,395gam chất bột cục màu trắng và 0,288gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định trong mẫu vật thu giữ của Hà Văn T. Mặt sau của bì giấy có chữ ký của các thành phần liên quan và 03 hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh P tại các mép dán kín.
Quá trình xác minh, điều tra và tại phiên tòa Hà Văn T tự khai các lần mua bán trái phép chất ma túy như sau:
Lần 1: Vào khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 28/5/2024, khi Hà Văn T đang ở nhà trọ tại khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ thì có Trần Văn Y gọi điện thoại di động hỏi mua 300.000 đồng tiền ma túy “Đá”. T đồng ý và hẹn Y đến phòng trọ. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, Y đến phòng trọ đưa cho T 300.000 đồng gồm 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng. T bảo Y đi về, khi nào có ma tuý sẽ gọi đến lấy. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi được T thông báo, Y đến phòng trọ và được T đưa cho 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, trong có chứa ma túy “Đá”. Sau khi mua được ma túy Y đi xe ôm về nhà ở khu L, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ rồi sử dụng một mình hết số ma tuý trên và đốt vỏ, đốt dụng cụ để sử dụng ma tuý.
Lần 2: Vào khoảng 17 giờ 15 phút, ngày 31/5/2024, khi Hà Văn T đang trên đường đi thị xã S, thành phố Hà Nội tìm mua ma túy thì Trần Văn Y gọi điện thoại di động cho T để hỏi mua mua 300.000 đồng ma túy “Đá”. T đồng ý và bảo Y chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng Q1 của T số 5333678999999. Y đã đưa tiền mặt và nhờ một người nam giới không quen biết ở quán tạp hoá chuyển 300.000 đồng vào tài khoản của T. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi được T thông báo, Y đến phòng trọ và được T đưa cho 01 ống hút nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, trong có chứa ma túy “Đá”. Sau khi mua được ma túy, Y đi xe ôm về nhà ở khu L, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ rồi sử dụng một mình hết số ma tuý trên và đốt vỏ, đốt dụng cụ để sử dụng ma tuý.
Lần 3: Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 31/5/2024, khi T đang trên đường đi thị xã S, thành phố Hà Nội tìm mua ma túy thì nhận được điện thoại của Hoàng Văn T2 gọi điện đến số điện thoại 0982.135.xxx của T nhờ mua 700.000 đồng tiền ma túy “Đá”. T đồng ý và bảo T2 chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng Q1 của T số 5333678999999. Sau đó T2 sử dụng tài khoản Ngân hàng Q1 chuyển 700.000 đồng vào tài khoản của T. Khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi được T thông báo, T2 đến phòng trọ và được T đưa cho 02 ống hút nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, trong có chứa ma túy “Đá”. Sau khi mua được ma túy, T2 đi xe ôm về nhà, khi đi đến khu vực gần cây xăng ở xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ thì T2 vào đồi cây ở ven đường sử dụng một mình hết số ma tuý trên và đốt vỏ, đốt dụng cụ để sử dụng ma tuý rồi đi xe ôm về nhà. Chiếc điện thoại di động sử dụng liên lạc với T, T2 đã làm rơi trên đường về sau khi mua ma túy của T.
Ngày 03/6/2024, Phòng CSĐT Công an tỉnh P đã tiến hành test nhanh chất ma túy đối với Hoàng Văn T2 và Trần Văn Y cho kết quả Dương tính với ma túy loại "MET” (Methamphetamine).
Ngày 05/6/2024, Phòng CSĐTTP về Ma Túy Công an tỉnh P đã bàn giao hồ sơ, vật chứng cho Cơ quan CSĐT Công an huyện T tiến hành thụ lý, điều tra theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan điều tra Hà Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi bán trái phép chất ma túy cho Trần Văn Y và Hoàng Văn T2 như đã nêu trên. Lời khai của Hà Văn T phù hợp với các chứng cứ được phòng CSĐT Công an tỉnh P và Cơ quan điều tra Công an huyện T thu thập, xác lập có trong hồ sơ vụ án.
2. Các vấn đề khác của vụ án:
Trên cơ sở điều tra và kết luật giám định chất ma túy, ngày 05/5/2024 Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã ra Quyết định Khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối với Hà Văn T về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là BLHS năm 2015) và ra Lệnh tạm giam đối với Hà Văn T. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn đã phê chuẩn Quyết định khởi tố bị can và Lệnh tạm giam đối với Hà Văn T.
Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh, đã cũ bên trong gắn sim số: 0982135722 của Hà Văn T: Tại mục danh bạ có lưu số điện thoại 0349.925.xxx lưu tên “yen den ts” và lưu số điện thoại 0347.565.xxx lưu tên “Thjn bd”. Tại mục điện thoại: Có nhiều cuộc gọi nhỡ, gọi đến, gọi đi với số điện thoại 0347.565.xxx lưu tên “Thjn bd” vào ngày 31/5/2024 và có nhiều cuộc gọi nhỡ, gọi đến, gọi đi với số điện thoại 0349.925.xxx lưu tên “yen den ts” vào ngày 30/5/2024 và ngày 31/5/2024. Tiến hành kiểm tra phần mềm M trong điện thoại được đăng nhập tài khoản số 5333678999999 mang tên Hà Văn T. Kiểm tra biến động số dư: “Hồi 17 giờ 58 phút ngày 31/5/2024, - 1.000.000VND (trừ một triệu đồng), nội dung: thanh toán QR - Ha Van Tan chuyen khoan”; “Hồi 17 giờ 53 phút ngày 31/5/2024, +700.000VND (cộng bảy trăm nghìn đồng), nội dung: Ha Van T3 chuyen khoan”; “Hồi 17 giờ 19 phút ngày 31/5/2024, + 300.000VND (cộng ba trăm nghìn đồng), nội dung: Y d ck".
Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã yêu cầu Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 chi nhánh P cung cấp thông tin và lịch sử giao dịch của tài khoản số 5333678999999. Kết quả phù hợp với lời khai và biên bản kiểm tra điện thoại của Hà Văn T.
Đối với người Trần Văn Y nhờ chuyển khoản 300.000 đồng cho T: Cơ quan điều tra đã xác minh xác định đó là Nguyễn Đình G, sinh năm 2002, thường trú ở thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. G trình bày chiều 31/5/2024, khi G đang ngồi uống nước tại khu L, thị trấn T, huyện T thì Y có nhờ chuyển khoản hộ 300.000 đồng, sau đó Y đọc số tài khoản và bảo ghi nội dung “Y d ck”, khi chuyển khoản xong thì Y đưa lại cho G 300.000 đồng tiền mặt. Sau đó Y đi đâu, làm gì G không biết; việc Y nhờ G chuyển khoản để làm gì G không biết. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã yêu cầu Tập đoàn C2 (V) cung cấp thông tin và lịch sử cuộc gọi của số điện thoại 0982.135.xxx. Kết quả phù hợp với lời khai và biên bản kiểm tra điện thoại của Hà Văn T.
Về nguồn gốc số ma túy đã bị thu giữ Hà Văn T khai nhận: Ngày 28/5/2024, T một mình đi xe ôm đến khu vực ngã tư thị xã S, thành phố Hà Nội để tìm mua ma túy. Tại đây, T đã mua của một người đàn ông không quen biết 500.000 đồng được 01 túi ma túy “Heroine” và 300.000 đồng được 01 túi ma túy “Đá”. Sau khi mua được ma túy, T về nhà trọ ở khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ cho ma tuý đá vào ống hút nhựa màu trắng, dùng bật lửa hàn kín hai đầu rồi bán cho Y. Còn túi ma túy Heroine thì T đã sử dụng cho bản thân bằng hình thức dùng giấy bạc đốt, hít hết một phần tại nhà, phần còn lại Tấn quấn bằng băng dính màu đen, bên trong có một lớp giấy bạc, cả hai mặt đều màu xám, bên trong lớp giấy bạc có chứa chất bột cục màu trắng với mục đích để sử dụng và bán.
Ngày 31/5/2024, T một mình đi xe ôm đến khu vực ngã tư thị xã S, thành phố Hà Nội để tìm người bán ma túy. Tại đây, T đã mua của một người phụ nữ không quen biết 500.000 đồng được một gói ma túy Heroine, đặc điểm là 01 túi nilon màu trắng, trong có chứa chất bộc cục màu trắng và 500.000 đồng được một túi ma túy “Đá”, đặc điểm là 01 túi nilon màu trắng, trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. Sau khi mua được ma túy thì T về nhà trọ ở khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ rồi chia số ma túy “Đá” ra thành 04 phần, trong đó: 01 túi nilon màu trắng và 03 ống hút nhựa màu trắng được hàn bịt kín hai đầu rồi bán cho T2 02 ống hút nhựa màu trắng, bên trong có ma tuý “Đá” và bán cho Y 01 ống hút nhựa màu trắng, bên trong có ma tuý “Đá”. Còn 01 túi nilon màu trắng chứa ma tuý “Đá” và một túi nilon màu trắng chứa ma túy Heroine thì T cất giữ với mục đích để sử dụng và bán.
Số ma tuý còn lại gồm: 02 túi ma tuý Heroine có đặc điểm là 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột cục màu trắng; 01 gói bên ngoài được quấn băng dính màu đen, trong là lớp giấy bạc cả 2 mặt màu xám, trong cùng có chứa chất bột cục màu trắng trong chứa H1 và 01 túi ma tuý “Đá” có đặc điểm là 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, vào ngày 31/05/2024 T đã tự giác giao nộp cho Tổ công tác của Phòng CSĐT tội phạm về Ma túy Công an tỉnh P khi bị bắt quả tang tại khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Hà Văn T: T không biết người bán ma túy cho mình là ai, ở đâu. Việc mua bán ma túy giữa T và đối tượng này không có ai biết. Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác định và làm rõ, xử lý đối với người đã bán số ma túy nêu trên cho T.
Đối với Trần Văn Y: Ngày 28/5/2024 và ngày 31/05/2024, đã có hành vi sử dụng ma túy loại Methamphetamine tại nhà ở của Y, thuộc khu L, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Kết quả test nhanh mẫu nước tiểu thu giữ của Y vào ngày 03/6/2024 cho kết quả Dương tính với ma túy loại Methamphetamine. Do vậy hành vi của Y là hành vi vi phạm hành chính “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Y về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Khoản 1 Điều 23 của Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ.
Đối với Hoàng Văn T2: Ngày 31/05/2024, đã có hành vi sử dụng ma túy loại Methamphetamine tại khu vực đồi cây thuộc xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Kết quả test nhanh mẫu nước tiểu thu giữ của T2 vào ngày 03/6/2024 cho kết quả Dương tính với ma túy loại Methamphetamine. Do vậy hành vi của T2 là hành vi vi phạm hành chính “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T2 về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Khoản 1 Điều 23 của Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ.
Về xác minh tài sản và thu nhập: Bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị.
3. Về trích dẫn Cáo trạng của Viện kiểm sát:
Tại Bản cáo trạng số: 01/CT-VKSThS ngày 27/12/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ đã truy tố Bị cáo Hà Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của BLHS năm 2015.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, r khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38 của BLHS năm 2015. Tuyên bố Bị cáo Hà Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt Bị cáo Hà Văn T từ 08 năm đến 09 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 31/5/2024).
- - Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo Hà Văn T.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của BLHS năm 2015; khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- + Tịch thu để tiêu hủy: 0,395gam chất bột cục màu trắng và 0,288gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định trong mẫu vật thu giữ của Hà Văn T được đựng trong 01 (một) bì giấy số 784 của Phòng K - Công an tỉnh P mặt sau của bì giấy có chữ ký của các thành phần liên quan và 03 hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh P tại các mép dán kín.
- + Tịch thu, bán nộp Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh đã qua sử dụng (tạm giữ của Hà Văn T).
- + Tịch thu tiêu hủy 01 (một) sim số: 0982135722 (tạm giữ của Hà Văn T).
- + Thu hồi của Hà Văn T số tiền 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm nghìn đồng) để nộp Ngân sách Nhà nước.
- - Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 và Danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc Bị cáo Hà Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo đề nghị: Nhất trí với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo hình phạt nhẹ nhất.
4. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt, cho Bị cáo mức án thấp nhất để Bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa Bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Những chứng cứ xác định có tội.
Tại phiên toà, Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản Cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung Cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai.
Lời khai nhận của Bị cáo thống nhất, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, đồng thời phù hợp với lời khai của Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy đã đủ cơ sở kết luận: Hồi 20 giờ 30 phút ngày 31/5/2024, tại khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Hà Văn T có hành vi tàng trữ 0,603 gam loại Heroin và 0,360 gam loại Methamphetamine mục đích để sử dụng và bán. Trước đó, lần thứ nhất: Vào hồi 17 giờ 00 phút ngày 28/5/2024 T đã bán trái phép chất ma túy cho Trần Văn Y với số tiền 300.000 đồng; lần thứ hai: Vào hồi 17 giờ 15 phút ngày 31/5/2024 Hà Văn T tiếp tục bán trái phép chất ma túy cho Trần Văn Y với số tiền 300.000 đồng; Lần thứ ba: Vào hồi 17 giờ 40 phút ngày 31/5/2024, Hà Văn T đã bán trái phép chất ma túy cho Hoàng Văn T2 với số tiền 700.000 đồng.
“Heroine (H2) là chất ma túy, có số thứ tự 09, Danh mục I, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Methamphetamine là chất ma túy, có số thứ tự 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.
Bị cáo đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, nguy hiểm cho xã hội nhưng vì mục đích vụ lợi nên vẫn cố ý thực hiện.
Như vậy, có đủ cơ sở xác định hành vi của Bị cáo Hà Văn T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của BLHS năm 2015.
Tại khoản 2 Điều 251 quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
b. Phạm tội 02 lần trở lên;
...”
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý các chất Ma túy của Nhà nước là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Do đó, hành vi của Bị cáo cần bị xử lý nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
- Về nhân thân:
Tại Bản án số 39/2021/HSST, ngày 23/6/2021, Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn xử phạt 24 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Bản án số 75/2021/HS-PT ngày 26/8/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ quyết định giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm đối với Hà Văn T. Bị cáo chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giam (ngày 17/11/2020) và chấp hành án tại Trại giam T4 - Bộ C1. Bị cáo đã chấp hành án xong, ra trại ngày 17/11/2022. Quá trình điều tra xác định T đã thi hành xong tiền án phí hình sự và tiền án phí dân sự. Đến ngày 31/5/2024, T thực hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 70 của BLHS năm 2015 thì Hà Văn T chưa được xóa án tích đối với bản án của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Do Hà Văn T chưa được xoán án tích của Bản án số 75/2021/HS-PT ngày 26/8/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ nên theo quy định tại khoản 1 Điều 53 của BLHS năm 2015 thì lần phạm tội này của Hà Văn T là tái phạm. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS năm 2015.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội; đồng thời khi bị phát hiện tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo đã tự khai báo 03 lần mua bán trái phép chất ma túy. Do đó, Bị cáo được hưởng tình các tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, r khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015.
Từ các nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của Bị cáo là rất nghiêm trọng, chỉ vì mục đích lợi nhuận, Bị cáo đã bất chấp hậu quả xấu gây ra cho xã hội, cố ý thực hiện tội phạm. Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó, cần áp dụng khoản 1 Điều 38 của BLHS năm 2015, xử phạt Bị cáo hình phạt tù có thời hạn trên mức khởi điểm của khung hình phạt và ở mức thấp theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của BLHS năm 2015 thì "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản ".
Tại biên bản xác minh của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ đã xác định: Bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản gì có giá trị. Vì vậy, miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo là phù hợp.
[4] Đối với Trần Văn Y: Ngày 28/5/2024 và ngày 31/05/2024, đã có hành vi sử dụng ma túy loại Methamphetamine tại nhà ở của Y, thuộc khu L, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Kết quả test nhanh mẫu nước tiểu thu giữ của Y vào ngày 03/6/2024 cho kết quả Dương tính với ma túy loại Methamphetamine. Do vậy hành vi của Y là hành vi vi phạm hành chính “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Y về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Khoản 1 Điều 23 của Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ là phù hợp.
[5]. Đối với Hoàng Văn T2: Ngày 31/05/2024, đã có hành vi sử dụng ma túy loại Methamphetamine tại khu vực đồi cây thuộc xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Kết quả test nhanh mẫu nước tiểu thu giữ của T2 vào ngày 03/6/2024 cho kết quả Dương tính với ma túy loại Methamphetamine. Do vậy hành vi của T2 là hành vi vi phạm hành chính “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T2 về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Khoản 1 Điều 23 của Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ là phù hợp.
[6]. Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Hà Văn T: Quá trình điều tra Tấn khai báo, không biết người bán ma túy cho mình là ai, ở đâu. Việc mua bán ma túy giữa T và đối tượng này không có ai biết. Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác định và làm rõ, xử lý đối với người đã bán số ma túy nêu trên cho T.
[7] Về xử lý vật chứng:
- - Ma túy (Heroin, M) là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu, tiêu hủy.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh đã qua sử dụng, kèm 01 sim số: 0982135722 thu giữ của T là phương tiện giao dịch mua bán ma túy, cần tịch thu bán nộp ngân sách Nhà nước đối với chiếc điện thoại; chiếc sim điện thoại không có giá trị cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với số tiền 1.300.000 đồng Hà Văn T có được khi bán ma túy cho Y và cho T2. Đây là tiền do phạm tội mà có, cần thu hồi của Bị cáo để sung quỹ Nhà nước là phù hợp.
[8] Đề nghị của Kiểm sát viên, Người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ kết tội, tội danh:
- - Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38 của BLHS năm 2015.
- - Tuyên bố Bị cáo Hà Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Trách nhiệm hình sự, hình phạt:
- - Xử phạt Bị cáo Hà Văn T 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 31/5/2024).
- - Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo Hà Văn T.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của BLHS năm 2015; khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- - Tịch thu để tiêu hủy: 0,395gam chất bột cục màu trắng và 0,288gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định trong mẫu vật thu giữ của Hà Văn T được đựng trong 01 (một) bì giấy số 784 của Phòng K - Công an tỉnh P mặt sau của bì giấy có chữ ký của các thành phần liên quan và 03 hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh P tại các mép dán kín.
- - Tịch thu, bán nộp Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh đã qua sử dụng (tạm giữ của Hà Văn T).
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) sim số: 0982135722 (tạm giữ của Hà Văn T).
- Vật chứng đã được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn ngày 30/12/2024.
- - Thu hồi của Hà Văn T số tiền 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm nghìn đồng) để nộp Ngân sách Nhà nước.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 và Danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Buộc Bị cáo Hà Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Phan Thanh Trường Bùi Đức Quảng |
Nguyễn Thị Hồng Mai |
Nơi nhận:
- - VKSND huyện, tỉnh;
- - Sở Tư pháp tỉnh;
- - CQ CSĐT Công an huyện;
- - CQ THA dân sự huyện;
- - Trại tạm giam – Công an tỉnh Phú Thọ;
- - UBND nơi b/c thường trú;
- - Những người tham gia tố tụng;
- - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Mai |
Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ về hình sự: mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 05/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
