Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯ PƯH

TỈNH GIA LAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HS-ST

Ngày 21 tháng 02 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PƯH, TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Ngọc Trung

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Chu Xuân Toàn
  2. Bà Nguyễn Thanh Thắm

Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Hiền, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Lê Viết Hùng, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/QĐXXST-HS ngày 05/02/2025 đối với các bị cáo:

1. Nay P2, sinh ngày 24 tháng 01 năm 2005, tại huyện C, tỉnh Gia Lai; nơi cư trú: Thôn P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Jrai; tôn giáo: Tin lành; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 6/12; con ông Rmah N (đã chết) và bà N1 H’Hmi; Tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 36/2023/HSST ngày 20/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai xử phạt 06 tháng tù tội “trộm cắp tài sản”. Đến ngày 26/7/2024, chấp hành xong hình phạt tù; tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/11/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Kpuih Prêh, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2004, tại huyện C, tỉnh Gia Lai; nơi cư trú: Thôn P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Jrai; tôn giáo: Tin lành; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: Không biết chữ; con ông Rmah J và bà Kpuih H' Buach; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Anh Ksor L, sinh năm 1977

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ dân phố G, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai;

Chỗ ở hiện tại: Thôn H, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1975 và ông Huỳnh H1, sinh năm 1974

Địa chỉ: Thôn H, thị trấn N, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

- Người phiên dịch tiếng Jarai: Ông Siu Thun P – Dân tộc Jrai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vì không có tiền tiêu xài cá nhân, nên Nay P2 và Kpuih P1, đều trú tại thôn P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai, đã rủ nhau đi tìm kiếm tài sản của người dân để trộm cắp đem bán. Đến khoảng 14 giờ 30 phút ngày 02/11/2024, khi Nay Pham và Kpuih P1 đang đi bộ trên đường liên thôn thuộc thôn P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai thì phát hiện thấy chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 81AN - 048.75, hãng S, loại satria, màu sơn vàng - đen đã qua sử dụng của anh Ksor L (sinh năm 1997, trú tại Tổ dân phố G, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai) đang để bên lề đường, chìa khoá còn cắm ở ổ khóa điện trên xe. Lúc này, Kpuih P1 đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô trên, nên P1 đã rủ Nay Pham cùng trộm cắp chiếc xe mô tô này thì P2 đồng ý và nói P1 đến dắt trộm xe còn P2 đi lên phía trước để cảnh giới. Sau khi quan sát thấy không có ai thì P1 đã lén lút dắt chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 81AN – 048.75 đến chỗ P2, rồi khởi động cho xe nổ máy và chở P2 rời khỏi hiện trường. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Kpuih P1 điều khiển chiếc xe mô tô trên đi đến nhà bà Nguyễn Thị K (sinh năm 1975, thuộc thôn H, thị trấn N, huyện C, tỉnh Gia Lai) đem chiếc xe mang biển kiểm soát 81AN – 048.75 thế chấp cho bà K lấy số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng). Sau đó, Nay P2 cùng Kpuih P1 sử dụng hết số tiền trên vào mục đích tiêu xài cá nhân. Đến ngày 04 tháng 11 năm 2024, Nay Pham và Kpuih P1 đã đến trụ sở Công an xã I để đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Kết luận định giá tài sản số 60/KL-HDĐGTS ngày 06/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận:

- 01 (Một) chiếc xe mô tô, mang biển kiểm soát: 81AN - 048.75, hãng S1, loại satria, màu: Vàng, đen, có trị giá là: 24.500.000 đồng.

Tổng cộng giá trị tài sản cần định giá là: 24.500.000 đồng (Hai mươi bốn triệu, năm trăm nghìn đồng).

Về vật chứng vụ án:

Đối với 01 (Một) chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát: 81AN - 048.75 là tài sản hợp pháp của anh Ksor L. Do đó, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả chiếc xe mô tô có đặc điểm nêu trên cho anh Ksor L nhận là đúng quy định.

Về trách nhiệm dân sự:

Đối với anh Ksor L: Sau khi nhận lại tài sản là chiếc xe mô tô trên, anh L không có yêu cầu gì khác.

Đối với bà Nguyễn Thị K: Sau khi sự việc xảy ra, bà không yêu cầu các bị cáo Kpuih P1 và Nay P2 phải hoàn trả lại cho bà số tiền là: 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) và cũng không có yêu cầu gì khác.

Tại bản cáo trạng số: 08/CT-VKS ngày 17 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai đã truy tố các bị cáo Nay P2 và Kpuih P1 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nay P2.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Kpuih P1.

Xử phạt bị cáo Nay P2 và Kpuih P1 với mức án từ 09 đến 12 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự và vật chứng của vụ án:

Miễn xét

Về biện pháp tư pháp:

Truy thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 6.000.000 đồng, là khoản tiền các bị cáo có được do thu lợi bất chính. Mỗi bị cáo phải nộp ½ số tiền là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).

Về hình phạt bổ sung:

Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Về án phí:

Buộc các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo ăn năn, hối cải về việc phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, lời khai của các bị cáo phù hợp những chứng cứ, tài liệu thu thập được có tại hồ sơ vụ án cũng như lời trình bày của những người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Để có tiền tiêu xài phục vụ mục đích cá nhân, nên ngày 02/11/2024, khi Kpuih P1 và Nay Pham đang đi bộ trên đường liên thôn thuộc thôn P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai thì phát hiện chiếc xe môtô biển kiểm soát 81AN – 048.75 của anh Ksor L đang để bên lề đường mà không có người trông coi, P1 đã khởi xướng và rủ P2 chiếm đoạt chiếc xe này. Pham đã cảnh giới để P1 lén lút chiếm đoạt chiếc xe môtô của anh L đem đi cầm cố được 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) rồi cùng nhau tiêu xài cá nhân hết.

Theo kết quả định giá tài sản, chiếc xe mô tô mà P1 và P2 đã chiếm đoạt của anh L có giá trị là 24.500.000 đồng (hai mươi bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Do đó, hành vi mà Kpuih P1 và Nay P2 đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai đã truy tố các bị cáo Nay P2 và Kpuih P1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Đây là vụ án đồng phạm mang tính giản đơn, các bị cáo Nay Pham và Kpuih P1 không có sự chuẩn bị, phân công vai trò cụ thể từ trước mà chỉ mang tính tự phát cùng nhau rủ rê thực hiện tội phạm.

Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội ở địa phương. Các bị cáo ý thức được rằng chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hiện nay, tình hình các loại tội phạm này có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp, gây lo lắng trong nội bộ quần chúng nhân dân, bất cứ lúc nào sơ hở trong việc quản lý tài sản thuộc sở hữu của mình cũng có thể bị kẻ khác chiếm đoạt làm của riêng. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy rằng:

Đối với bị cáo Nay P2: Là đồng phạm với vai trò là người thực hành tích cực. Bị cáo đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án hình sự sơ thẩm số 36/2023/HSST ngày 20/12/2023, của Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên thuộc trường hợp “Tái phạm” quy định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật hình sự nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần còn hạn chế, sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật hình sự sẽ được áp dụng cho bị cáo khi lượng hình quyết định hình phạt.

Đối với bị cáo Kpuih P1: Là đồng phạm với vai trò là người khởi xướng và là người thực hành tích cực, bị cáo là người trực tiếp cầm cố xe mô tô để lấy tiền tiêu xài. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là người dân tộc thiểu số, không được đi học nên nhận thức pháp luật có phần còn hạn chế; sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật hình sự sẽ được áp dụng cho bị cáo khi lượng hình quyết định hình phạt.

Xét tính chất, mức độ của tội phạm và yêu cầu của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương cần thiết phải xử phạt tù và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo thành công dân tốt, có ích cho xã hội. Xử phạt bị cáo Nay P2 mức án nghiêm khắc hơn bị cáo Kpuih P1 là phù hợp.

[4] Đối với bà Nguyễn Thị K là người đã nhận cầm cố chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 81AN - 048.75 do P1 và P2 đem đến cầm cố. Quá trình điều tra bà K khai không biết đó là tài sản do các bị cáo phạm tội mà có, mặc dù CQĐT đã tiến hành các biện pháp điều tra nhưng chưa có căn cứ để xử lý. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện C sẽ tiếp tục thu thập tài liệu, chứng cứ khi có đủ căn cứ sẽ tiến hành xử lý theo quy định của pháp luật.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Đối với anh Ksor L: Sau khi nhận lại tài sản là chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát: 81AN - 048.75 anh L không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với bà Nguyễn Thị K: Sau khi sự việc xảy ra, bà K không yêu cầu các bị cáo Kpuih P1 và N2 phải hoàn trả lại cho bà số tiền là: 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) và cũng không có yêu cầu gì khác. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về vật chứng: Đối với 01 (Một) chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát: 81AN - 048.75 là tài sản hợp pháp của anh Ksor L. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả chiếc xe mô tô có đặc điểm nêu trên cho anh Ksor L là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về biện pháp tư pháp: Đối với số tiền 6.000.000 đồng có được từ việc các bị cáo cầm cố chiếc xe mô tô cho bà Nguyễn Thị Kiều . Quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị K không yêu cầu các bị cáo phải trả lại số tiền nói trên. Xét thấy, đây là khoản tiền các bị cáo thu lợi bất chính, tại phiên tòa các bị cáo Nay Pham và Kpuih Prêh tự nguyện nộp lại mỗi bị cáo 1 số tiền trên là 3.000.000 đồng.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Truy thu sung công quỹ Nhà nước đối với số tiền trên.

[8] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có công việc và thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[9] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sư sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố

các bị cáo Nay P2 và Kpuih P1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nay P2.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Kpuih P1.

Xử phạt bị cáo Nay P2 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 04/11/2024.

Xử phạt bị cáo Kpuih P1 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày vào trại giam chấp hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự và vật chứng của vụ án:

Miễn xét.

3. Về hình phạt bổ sung:

Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

4. Về biện pháp tư pháp:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Truy thu sung công quỹ Nhà nước đối với số tiền 6.000.000 đồng có được từ việc cầm cố chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 81AN - 048.75. Các bị cáo Nay P2 và Kpuih P1 mỗi bị cáo phải nộp 1/2 số tiền trên là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).

5. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc các bị cáo Nay P2 và Kpuih P1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo:

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử theo thủ tục phúc thẩm; những người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hàn án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại; Người có QLNVLQ;
  • - VKS huyện Chư Pưh;
  • - Công an huyện Chư Pưh;
  • - Chi Cục THADS huyện Chư Pưh;
  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đặng Ngọc Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PƯH, TỈNH GIA LAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 05/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PƯH, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nay Pham, sinh ngày 24 tháng 01 năm 2005, tại huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai; nơi cư trú: Thôn Plei Thơh Nhueng, xã Ia Phang, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Jrai; tôn giáo: Tin lành; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 6/12; con ông Rmah Nam (đã chết) và bà Nay H’Hmi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger