TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 05/2025/HS-ST Ngày 18-02-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Đông Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lương Văn Cẩu.
Bà Nguyễn Thị Ngọc Kiều.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hiếu là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Cù Minh Hoàng – Kiểm sát viên.
Ngày 18 Tháng 02 năm 2025, tại trụ sở ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 87/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Huỳnh Thế V, tên gọi khác: Móm, sinh ngày 15-5-1984 tại thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang; đăng ký thường trú: Khóm Đ, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Khóm Đ, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn K, sinh năm 1961 còn sống và bà Khưu Thị T, sinh năm 1964, đã chết; vợ tên Nguyễn Thị T1, đã ly hôn; vợ tên Ngô Thị Tuyết N; có 01 con sinh năm 2008;
Tiền sự: Không;
Tiền án: Ngày 19-6-2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 13 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 06-10-2023;
Nhân thân: Ngày 08-4-2011, bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong ngày 15-9-2012
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 11-5-2024 cho đến nay, tại Nhà Tạm giữ – Công an huyện C, tỉnh An Giang (có mặt). - Ngô Văn H, sinh ngày 17-7-1996 tại phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang; đăng ký thường trú: Số nhà G, Tổ A, khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Số nhà G, Tổ A, khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Ngô Thị Tuyết N, sinh năm 1974, còn sống; vợ tên Nguyễn Thị Anh T2, đã ly hôn; vợ tên Phan Ngọc Q; có 04 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2024;
Tiền sự: Không;
Tiền án: Ngày 19-6-2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 11 năm 09 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, “Cướp giật tài sản” và “Trậm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 09-02-2021;
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 03-9-2024 cho đến nay, tại Nhà Tạm giữ – Công an huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
- Bị hại: Ông Nguyễn Hoàng S, sinh ngày 01-01-1970 (vắng mặt)
Nơi cư trú: khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang.
- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Tuyết M, bà Nguyễn Thị Bích N1 (tất cả vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ; ngày 11-5-2024, Huỳnh Thế V là người thành niên rủ rê Ngô Văn H là người thành niên đi cướp giật tài sản H đồng ý; V bảo H mang theo súng, hẹn gặp nhau tại quán C gần cầu N thuộc phường B, thành phố L, tỉnh An Giang; H đưa cho V giữ khẩu súng Rulo bên trong có 06 viên đạn, V mang theo bình xịt hơi cay. H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, số máy 1S91001344, số khung RLCE1S9106Y001344, biển số 66K1 – 304.78 của V, chở V chạy trên Quốc lộ I theo hướng thành phố L - huyện C, cả hai thống nhất khi phát hiện người đi đường có đeo dây chuyền thì H điều khiển xe áp sát để V giật dây chuyền.
Khoảng 17 giờ 30 phút; ngày 11-5-2024, khi di chuyển trên đường V phát hiện ông Nguyễn Hoàng S điều khiển xe mô tô biển số 67C1 – 775.83 chở theo bà Nguyễn Thị Tuyết M cùng Huỳnh Cẩm M1; trên cổ ông S có đeo dây chuyền vàng nên bảo H chạy theo, đến khu vực gần đình thần A, đường H thuộc Tổ A, khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang; H điều khiển xe áp sát xe ông S V dùng tay phải giật lấy sợi dây chuyền đeo trên cổ ông S thì bị ông S bắt quả tang, V rút súng cầm trên tay đe dọa để tẩu thoát thì bị ông S giật súng, cùng quần chúng nhân dân bắt V giao cho công an xử lý; riêng H bỏ chạy thoát.
Vật chứng liên quan đến vụ án:
- - 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, dài 61cm. Hiện đã trao trả cho Nguyễn Hoàng S là chủ sở hữu hợp pháp.
- - 01 khẩu súng kiểu Rulo bằng kim loại màu trắng, cán màu đen, trong khẩu súng có 06 viên đạn kim loại màu vàng xám. Hiện đã chuyển đến Cơ quan An ninh điều tra - Công an tỉnh A để xử lý theo thẩm quyền.
- - 01 bình xịt bằng kim loại màu xanh, nắp màu đen (có chữ AMERICAN STYLE NATO SUPER PARALISANT). Hiện đã chuyển đến Cơ quan An ninh điều tra - Công an tỉnh A để xử lý theo thẩm quyền.
- - Tiền Việt Nam: 980.000 đồng.
- - 01 nón kết màu đen xám, đã qua sử dụng.
- - 01 nón bảo hiểm màu xám có chữ NÓN SƠN, đã qua sử dụng.
- - 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax, đã qua sử dụng.
- - 01 bóp da màu đen, bên trong có: 01 căn cước công dân số [...] mang tên Ngô Văn H và 01 căn cước công dân số [...] mang tên Huỳnh Thế V.
- - 01 hợp đồng cầm cố thế chấp xe mô tô biển số 67B1 - 218.59 của Cửa hàng X, dịch vụ cầm đồ NHƠN MAI;
- - 01 hợp đồng cầm cố, thế chấp tài sản xe mô tô biển số 67AA - 209.89 của Dịch vụ cầm đồ VÂN 2;
- - 01 phiếu cầm đồ kiêm khế ước 01 dây Italy của Dịch vụ cầm đồ NGỌC TẢN;
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER số máy 1S91001344, số khung RLCE1S9106Y001344, đã qua sử dụng. Hiện đã giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận C, thành phố Cần Thơ để xử lý theo thẩm quyền.
- - 01 biển số 66K1 - 304.78.
- - 01 xe mô tô gắn biển số 65B1 - 583.63, số máy JC35E7009486, số khung RLHJC350X9Y804942, đã qua sử dụng;
- - 01 con dao bằng kim loại, cán gỗ quấn băng keo màu đỏ, lưỡi dao màu trắng, đã qua sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 2961/KL-KTHS ngày 24-5-2024 của Phân Viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
- - Chất lỏng đựng trong 01 bình xịt bằng kim loại màu xanh, nắp màu đen, có nhãn hiệu “AMERICAN STYLE NATO SUPER PARALISANT”, gửi giám định có thành phần Nonivamide;
- - Nonivamide là chất gây cay, khi tiếp xúc gây ra cảm giác nóng, chảy nước mắt, gây kích ứng mũi, mất phương hướng. Thường sử dụng dưới dạng bình xịt hơi cay
Tại Kết luận giám định số 2963/KL-KTHS ngày 24-5-2024 của Phân Viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
- - Khẩu súng ổ quay bằng kim loại màu trắng gửi giám định là súng chế tạo thủ công nòng nhẫn sử dụng để bắn với loại đạn cỡ (5,6 x 15,5)mm. Hiện tại súng có đủ bộ phận và bắn được đạn nổ. Khẩu súng nêu trên là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và thuộc vũ khí quân dụng;
- - 06 viên đạn gửi giám định là loại đạn cỡ (5,6 x 15,5)mm, thuộc vũ khí thể thao, không phải vũ khí quân dụng. Loại đạn này thường sử dụng để bắn cho một số loại súng quân dụng và thể thao như: súng ám sát hình bút, K55, TOZ8, khẩu súng ổ quay trên... và một số súng chế tạo thủ công có đường kính buồng đạn phù hợp;
- - Sử dụng khẩu súng ổ quay gửi giám định bắn với loại đạn cỡ (5,6 x 15,5)mm trên trúng cơ thể người có thể gây thương tích hoặc tử vong; nguy hại đến tính mạng, sức khỏe con người, phá hủy kết cấu vật chất tương tự như vũ khí quân dụng.
Tại Kết luận giám định số 2697/KL-KTHS ngày 24-5-2024 của Phân Viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là bình xịt hơi cay, thuộc công cụ hỗ trợ không phải vũ khí nguy hiểm. Khi sử dụng xịt về phía mặt đối tượng sẽ gây nóng rát, chảy nước mắt, có thể gây mù tạm thời làm mất sự phản kháng hay tấn công của đối tượng bị xịt.
Tại Kết luận giám định số 2960/KL-KTHS ngày 04-6-2024 của Phân Viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
- - 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, khối lượng: 50,5906 gam được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là V1 (Au): 58,83%, B (A): 20,50%, Đ (Cu): 17,92%.
- - 01 móc khóa của sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, khối lượng: 0,9076 gam được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là Đ (Cu): 96,32%, K1 (Z): 3,63%.
Tại Kết luận giám định số 813/KL-KTHS ngày 12-7-2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh A, kết luận: Trích xuất 16 ảnh từ dữ liệu 01 tập tin video lưu trữ trong đĩa DVD (ký hiệu A) do Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C, tỉnh An Giang gửi giám định, chi tiết thể hiện trong Phụ lục kèm theo. Kèm theo kết luận giám định; 01 Phụ lục gồm 07 trang A4
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 27/KL.HĐ ngày 28-6-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận:
- - 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, khối lượng 50,5906 gam, thành phần kim loại chủ yếu là V1 (A1): 58,83%, B (A): 20,50%, Đ (Cu): 17,92%. Tương đương vàng 14k. Đã qua sử dụng, có giá trị là 50,5906 gam x 1.040.000 đồng x 100% = 52.614.224 đồng.
- - 01 móc khóa của sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, khối lượng: 0,9076 gam, thành phần kim loại chủ yếu là Đ (Cu): 96,32%, K1 (Z): 3,63%, đã qua sử dụng, có giá trị là 0,9076 gam x 0 đồng x 100% = 0 đồng.
Tổng giá trị tài sản định giá là: 52.614.224 đồng
Về trách nhiệm dân sự: Ông S đã nhận lại tài sản bị cướp giật nên không yêu cầu về trách nhiệm dân sự.
Tại cơ quan Điều tra, các bị cáo V, H; bị hại ông S; người làm chứng bà M, bà B1 khai phù hợp với nội dung vụ án nêu trên.
Tại Cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 26-12-2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang:
Đã truy tố bị cáo Huỳnh Thế V về tội: “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm c, d, đ, i khoản 2 Điều 171 của Bộ Luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Đã truy tố bị cáo Ngô Văn H về tội: “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm c, d, i khoản 2 Điều 171 của Bộ Luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo V và bị cáo H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm c, d, đ, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 55 và 58 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Huỳnh Thế V: từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 11-5-2024
- - Áp dụng điểm c, d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 55 và 58 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Ngô Văn H: từ 06 (sáu) năm đến 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 03-9-2024
- - không áp dụng hình phạt bổ sung.
- - Áp dụng các Điều 46, 47 và 48 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 biển số 66k1 – 304.78; 01 con dao bằng kim loại, cán gỗ quấn băng keo màu đỏ, lưỡi dao màu trắng, đã qua sử dụng; 01 hợp đồng cầm cố thế chấp xe mô tô biển số 67B1 – 218.59 của Cửa hàng xe gắn máy, dịch vụ cầm đồ Nhơn Mai; 01 hợp đồng cầm cố thế chấp xe mô tô biển số 67AA – 209.89 của dịch vụ cầm đồ Vân 2; 01 phiếu cầm đồ kiêm khế ước 01 dây Italy của dịch vụ cầm đồ Ngọc T3;
- + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax đã qua sử dụng;
- + Trả lại bị cáo Huỳnh Thế V: 01 nón kết màu đen xám, đã qua sử dụng; 01 nón bảo hiểm màu xám có chữ NÓN SƠN, đã qua sử dụng; 01 bóp da màu đen; 01 căn cước công dân số [...] mang tên Huỳnh Thế V;
- + Trả lại bị cáo Huỳnh Thế V: tiền Việt Nam 980.000đ (chín trăm tám mươi ngàn đồng), giao Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang tiếp tục tạm giữ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của bị cáo V;
- + Trả lại bị cáo Ngô Văn H: 01 căn cước công dân số [...] mang tên Ngô Văn H;
- + Giao Đội Hình sự Kinh tế Ma túy công an huyện C, tỉnh An Giang tiếp tục tạm giữ 01 xe mô tô gắn biển số 65B1 – 583.63, số máy JC35E7009486, số khung RLHJC350X9Y804942, đã qua sử dụng; tiếp tục xác minh truy tìm chủ sở hữu.
Theo Quyết định chuyển vật chứng số 04/QĐ-VKS ngày 26-12-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với bị hại ông Nguyễn Hoàng S; người làm chứng bà Nguyễn Thị Tuyết M, bà Nguyễn Thị Bích N1; Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng bà M, bà N1 vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo Huỳnh Thế V và Ngô Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp lời khai của các bị hại ông Nguyễn Hoàng S; những người làm chứng, về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút; ngày 11-5-2024, trên đường H thuộc Tổ A, khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang; H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, số máy 1S91001344, số khung RLCE1S9106Y001344, biển số 66K1 – 304.78 của V, chở V áp sát xe mô tô của ông Nguyễn Hoàng S và V đã nhanh chóng cướp giật của ông S 01 sợi dây chuyền vàng loại 14k, trị giá 52.614.224 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo V và bị cáo H đã phạm tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, d, i khoản 2 Điều 171 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 03 năm đến 10 năm (tội phạm rất nghiêm trọng).
Quá trình thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có phân công cụ thể; có chuẩn bị công cụ, phương tiện để phạm tội, nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn; bị cáo V với vai trò chủ mưu và người thực hành, bị cáo H với vai trò giúp sức.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.
[4] Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[4.1] Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Như chúng ta đều biết tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của công dân được Nhà nước bảo hộ, mọi hành vi xâm phạm một cách trái pháp luật đều phải bị nghiêm trị. Bị cáo V, bị cáo H tại thời điểm phạm tội là người trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; các bị cáo có hiểu biết nhất định về pháp luật, trước khi phạm tội lần này các bị cáo đã từng bị xét xử về tội “Cướp tài sản”, “Cướp giật tài sản” và “trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong bản án nhưng chưa được xóa án tích; các bị cáo dùng thủ đoạn là điều khiển xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ áp sát bị hại nhanh chóng giật lấy tài sản. Trong vụ án này hành vi của các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là nhanh chóng cướp giật của bị hại ông S 01 sợi dây chuyền vàng loại 14k, trị giá 52.614.224 đồng. Riêng bị cáo V còn có hành vi hành hung để tẩu thoát.
[4.2] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4.3] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; các bị cáo chưa có tiền sự; các bị cáo học vấn thấp nên hiểu biết về pháp luật có phần hạn chế. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự.
[4.4] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp, không tạo ra thu nhập. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra đã thu hồi tài sản, trao trả cho bị hại và bị hại ông S cũng không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét.
[6] Về vật chứng liên quan đến vụ án:
- - Đối với: 01 biển số 66k1 – 304.78 thu giữ của bị cáo V; 01 con dao bằng kim loại, cán gỗ quấn băng keo màu đỏ, lưỡi dao màu trắng đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo H; 01 hợp đồng cầm cố thế chấp xe mô tô biển số 67B1 – 218.59 của Cửa hàng xe gắn máy, dịch vụ cầm đồ Nhơn Mai; 01 hợp đồng cầm cố thế chấp xe mô tô biển số 67AA – 209.89 của dịch vụ cầm đồ Vân 2; 01 phiếu cầm đồ kiêm khế ước 01 dây Italy của dịch vụ cầm đồ Ngọc Tản thu giữ của bị cáo H. Tại phiên tòa bị cáo V, bị cáo H không có yêu cầu nhận lại, các vật trên không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ;
- - Đối với 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax đã qua sử dụng là phương tiện bị cáo V gọi cho bị cáo H để thực hiện hành vi phạm tội là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước;
- - Đối với 01 nón kết màu đen xám, đã qua sử dụng; 01 nón bảo hiểm màu xám có chữ NÓN SƠN, đã qua sử dụng; 01 bóp da màu đen; 01 căn cước công dân số [...] mang tên Huỳnh Thế V là tài sản của bị cáo V, không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo V;
- - Đối với tiền Việt Nam 980.000 đồng là tài sản của bị cáo V, không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo V. Tuy nhiên cần giao Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang tiếp tục tạm giữ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của bị cáo V;
- - Đối với 01 căn cước công dân số [...] mang tên Ngô Văn H, không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo H;
- - Đối với xe mô tô gắn biển số 65B1 – 583.63, số máy JC35E7009486, số khung RLHJC350X9Y804942, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo V nhưng chưa xác định được chủ sở hữu nên giao Đội Hình sự Kinh tế Ma túy công an huyện C, tỉnh An Giang tiếp tục xác minh truy tìm chủ sở hữu.
- - Đối với Huỳnh Thế V và Ngô Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 01 khẩu súng Rulo, bên trong có 06 viên đạn (là vũ khí quân dụng) và 01 bình xịt hơi cay (là công cụ hỗ trợ). Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C đã chuyển Cơ quan An ninh điều tra – Công an tỉnh A để xử lý theo thẩm quyền;
- - Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, số máy 1S91001344, số khung RLCE1S9106Y001344 mà V và H làm phương tiện đi cướp giật tài sản do đây là tang vật có liên quan đến vụ trộm cắp tài sản xảy ra tại phường L, quận C, thành phố Cần Thơ. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C đã bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận C, thành phố Cần Thơ để xử lý theo quy định.
[7] Về các vấn đề khác: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo: Huỳnh Thế V và Ngô Văn H phạm tội “Cướp giật tài sản".
Áp dụng điểm c, d, đ, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 55 và 58 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Huỳnh Thế V 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 11-5-2024
Áp dụng điểm c, d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 55 và 58 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Ngô Văn H 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 03-9-2024
Áp dụng các Điều 46, 47 và 48 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự,
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 biển số 66k1 – 304.78; 01 con dao bằng kim loại, cán gỗ quấn băng keo màu đỏ, lưỡi dao màu trắng, đã qua sử dụng; 01 hợp đồng cầm cố thế chấp xe mô tô biển số 67B1 – 218.59 của Cửa hàng xe gắn máy, dịch vụ cầm đồ Nhơn Mai; 01 hợp đồng cầm cố thế chấp xe mô tô biển số 67AA – 209.89 của dịch vụ cầm đồ Vân 2; 01 phiếu cầm đồ kiêm khế ước 01 dây Italy của dịch vụ cầm đồ Ngọc T3;
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax đã qua sử dụng;
- - Trả lại bị cáo Huỳnh Thế V: 01 nón kết màu đen xám, đã qua sử dụng; 01 nón bảo hiểm màu xám có chữ NÓN SƠN, đã qua sử dụng; 01 bóp da màu đen; 01 căn cước công dân số [...] mang tên Huỳnh Thế V;
- - Trả lại bị cáo Huỳnh Thế V: tiền Việt Nam 980.000đ (chín trăm tám mươi ngàn đồng), giao Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang tiếp tục tạm giữ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của bị cáo V;
- - Trả lại bị cáo Ngô Văn H: 01 căn cước công dân số [...] mang tên Ngô Văn H;
- - Giao Đội Hình sự Kinh tế Ma túy công an huyện C, tỉnh An Giang tiếp tục tạm giữ 01 xe mô tô gắn biển số 65B1 – 583.63, số máy JC35E7009486, số khung RLHJC350X9Y804942, đã qua sử dụng; tiếp tục xác minh truy tìm chủ sở hữu.
Theo Quyết định chuyển vật chứng số 04/QĐ-VKS ngày 26-12-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Áp dụng khoản 2 Điều 136; các Điều 331, 333 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Các bị cáo Huỳnh Thế V và Ngô Văn H; mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo Huỳnh Thế V và Ngô Văn H có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (18-02-2025).
Bị hại ông Nguyễn Hoàng S vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Đông Hoà |
Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về cướp giật tài sản
- Số bản án: 05/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thế Vương, Ngô Văn Hiếu phạm tội cướp giật tài sản
