Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÔNG HINH

TỈNH PHÚ YÊN

Bản án số: 05/2025/HS-ST

Ngày : 17-02-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Châu Kha;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Xuân Hòa – Hiệu trưởng Trường Phổ thông dân tộc nội trú huyện Sông Hinh;

Bà Nguyễn Thị Ái Liên – Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Sông Hinh.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mạy – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân (TAND) huyện Sông Hinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Lương Như Hoàn – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở TAND huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên, xét xử sơ thẩm (phiên tòa xét xử kín) vụ án hình sự thụ lý số 05/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 của TAND huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh ngày 10-03-1954, nơi sinh: Thừa Thiên Huế; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú (ĐKHKTT): Thôn H, xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên; hiện ở: Thôn T, xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên (ở nhà vợ chồng của con trai (tên Nguyễn Văn P) để vợ chồng con trai nuôi, vì bị cáo H đã già yếu); Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn V, đã chết và bà Đoàn Thị T (T1), đã chết; Có vợ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1964; có 05 con (lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 1993); Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

* Bị hại: Tạ Diễm M, sinh ngày 11-01-2016, nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên, hiện ở: Thôn T, xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Tạ Thu N, sinh ngày 22-01-2012, nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên, hiện ở: Thôn T, xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

* Người đại diện hợp pháp cho M và N: Chị Nguyễn Thị T2 (là mẹ đẻ M và N), sinh năm 1983, nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên, hiện ở: Thôn T, xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15h00 ngày 05-9-2024, Nguyễn Văn H đang ở nhà thì Tạ Diễm M đến nhà con trai ông H để mua bánh kẹo (nhà con trai ông H bán tạp hóa, bánh kẹo, đồ ăn vặt cho học sinh, nhà đối diện Trường Trung học cơ sở (THCS) Đ, huyện S. Lúc này, H đi bộ đến sân trường và ngồi tại vị trí ba ghế đá xếp gần nhau tạo thành hình chữ C. Khoảng 05 phút sau, M cũng đi đến vị trí ghế đá nơi H đang ngồi. Tại đây, M xin tiền H mua kẹo, H đưa cho M 20.000₫ (hai mươi nghìn đồng). Lúc này, H thấy M dùng tay sờ vào quần của M nên H nảy sinh ham muốn tình dục và nói M “cởi quần ra”, M đứng lên cởi quần thì H dùng tay phải sờ vào âm đạo của M khoảng 02 đến 03 phút thì bỏ tay ra rồi đi bộ về nhà.

Đến ngày 11-9-2024, chị T2 biết được việc con mình bị H có hành vi sờ bộ phận sinh dục của M nên đến Công an xã Đ báo cáo sự việc.

Tại Bản kết luận giám định số 391/KLTDTE-PYPY ngày 24-9-2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Tạ Thu N tại thời điểm giám định là 00% (không phần trăm); bộ phận sinh dục ngoài môi lớn và môi bé không xây xát. Màng trinh không có vết rách cũ và vết rách mới.

Tại Bản kết luận giám định số 392/KLTDTE-PYPY ngày 24-9-2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Tạ Diễm M tại thời điểm giám định là 00% (không phần trăm); bộ phận sinh dục ngoài môi lớn không xây xát. Môi bé vị trí 07 giờ xung huyết. Màng trinh giãn nhẹ, không có vết rách cũ và vết rách mới.

Cáo trạng số 06/CT-VKS-HS, ngày 13-01-2025 của VKSND huyện Sông Hinh đã truy tố Nguyễn Văn H về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa,

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, nhờ Tòa xem xét bị cáo đã già yếu sống nhờ con trai nuôi.

* Ý kiến của bị hại:

M trình bày: Khoảng 08 đến 09h, ngày 05-9-2024, M đến sân trường THCS Đ để chơi, M ngồi một mình ở khu vực có ba cái ghế đá xếp thành hình chữ C. Lúc này, H đi bộ từ nhà sang đến vị trí M đang ngồi chơi nói với M đi theo H đến đám keo H cho kẹp tóc, nghe vậy M đi theo H đến đám keo gần sân bóng chuyền, tại đây H đưa cho M kẹp tóc, sau khi lấy kẹp tóc xong M quay lại ngồi ở ghế đá trong sân trường chơi tiếp, H đi theo M đến ngồi cạnh rồi dùng tay sờ vai, sờ vú, sờ âm đạo, khoảng 01 phút sau thì H không sờ nữa đi về nhà, M cũng đi về nhà.

*Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: N trình bày: Khoảng 15h00, N không nhớ rõ ngày, trong khoảng thời gian N học kỳ 1 của lớp 6, N đang chơi ở sân trường THCS Đ thì H đi bộ từ nhà sang gặp N và nói đi với H thì H đưa cho kẹp tóc thì N nói “đây là lần cuối cùng” rồi đi theo H ra đám keo phía sau nhà H. Tại đây, H đưa cho N 15.000đ (mười lăm nghìn đồng) rồi H cầm hai bên quần N kéo xuống thì N dùng hai tay giữ quần lại không cho H kéo xuống, nhưng H vẫn dùng tay sờ vào bộ phận sinh dục của N (sờ bên ngoài quần), N nói với H “sao ông vô duyên vậy ông già, coi chừng N nói với ba mẹ” rồi N bỏ chạy ra sân trường chơi tiếp, còn H đi về nhà H.

*Chị T2 mẹ bị hại M và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan N trình bày: Hai con gái của chị T2 là Tạ Thu N, sinh năm 2012 và Tạ Diễm M, sinh năm 2016 kể lại, thời gian gần đây N và M bị ông Nguyễn Văn H sờ vào vai, vú, bộ phận sinh dục (sờ ngoài quần, ngoài áo) của M và N nên chị đã báo sự việc đến Công an xã Đ. Nay thấy các con không bị gì và bị cáo đã già yếu, đã bồi thường 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) nên không yêu cầu gì thêm và xin Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét cho bị cáo ở nhà.

Đại diện VKSND huyện Sông Hinh tham gia phiên tòa giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”. Áp dụng khoản 1 Điều 146; các điểm b, i, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho gia đình và chính quyền địa phương quản lý, giáo dục. Về hình phạt bổ sung: Không. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại và gia đình bị hại 20.000.000₫ (hai mươi triệu đồng). Bị hại và người đại diện hợp pháp không yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Về việc, Tạ Diễm M và Tạ Thu N khai: Bị cáo còn có nhiều lần khác dụ dỗ, cho tiền và sờ vào vú, bộ phận sinh dục của M và N tại đám keo sau nhà H và tại sân Trường THCS Đ nhưng bị cáo không thừa nhận; M, N là người chưa thành niên, lời khai không ổn định, ngoài lời khai của M, N không có tài liệu, chứng cứ nào khác; việc đối chất tại phiên tòa và quá trình điều tra không có kết quả. Do đó, không đủ cơ sở xác định bị cáo còn có hành vi Dâm ô đối với N và nhiều lần đối với M và N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

  1. Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, VKSND huyện Sông Hinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Về tội danh: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

    Khoảng 15h00 ngày 05-9-2024, H đang ở nhà (nhà của vợ chồng con trai của H) thì Tạ Diễm M đến để mua bánh kẹo. Lúc này, H đi bộ đến sân trường và ngồi tại vị trí ba ghế đá xếp gần nhau tạo thành hình chữ C. Khoảng 05 phút sau, M cũng đi bộ đến vị trí ghế đá nơi H đang ngồi. Tại đây, M xin tiền H nên H đưa cho M 20.000đ (hai mươi nghìn đồng), lúc này H thấy M đang ngồi dùng tay sờ vào quần của M nên H nảy sinh ham muốn tình dục, H nói M “cởi quần ra”. Khi M cởi quần ra thì H dùng tay phải sờ vào bộ phận sinh dục (âm đạo) của M. H dùng tay sờ khoảng 02 đến 03 phút thì bỏ tay ra rồi đi bộ về nhà.

    Hành vi của bị cáo H đã phạm vào tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 1 Điều 146 BLHS.

    “Khoản 1 Điều 146 BLHS quy định: Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

    Do đó, Cáo trạng của VKSND huyện Sông Hinh truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

  3. Tính chất mức độ hành vi phạm tội và hình phạt:

    Bị cáo H có đầy đủ năng lực pháp luật và hành vi, nhận thức được hành vi dùng tay sờ vào bộ phận sinh dục của người khác là trái đạo đức xã hội và vi phạm pháp luật, nhưng vì thoả mãn nhu cầu dục vọng thấp hèn bất chấp pháp luật cố ý thực hiện hành vi dâm ô, trong khi cháu M là học sinh còn nhỏ tuổi (lúc bị xâm hại thì M 08 tuổi 07 tháng 24 ngày) chưa nhận thức được đầy đủ về việc làm sai trái của bị cáo gây ra để tự bảo vệ mình. Hành vi của bị cáo H đã trực tiếp xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về tình dục của trẻ em, tạo tâm lý hoang mang cho các bậc cha mẹ, học sinh, đồng thời ảnh hưởng đến sự phát triển về tâm sinh lý của trẻ em, gây bức xúc trong xã hội. Do đó, cần phải xử lý trước pháp luật.

  4. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như: Đã tự nguyện bồi thường toàn bộ theo yêu cầu bị hại với số tiền 20.000.000₫(hai mươi triệu đồng); phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo là người cao tuổi (trên 70 tuổi (khi phạm tội bị cáo 70 tuổi 05 tháng 25 ngày)) và thật thà khai báo, ăn năn hối cải; được bị hại và đại diện gia đình bị hại có đơn xin bãi nại, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên chấp nhận mức án mà Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa, áp dụng Điều 65 BLHS không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo tốt.

  5. Xét ý kiến của người đại diện hợp pháp cho bị hại phù hợp nên chấp nhận.

  6. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không biết chữ, không có nghề nghiệp ổn định, người phạm tội 70 tuổi trở lên, nên chấp nhận đề nghị của đại diện VKSND huyện Sông Hinh, không áp dụng hình phạt bổ sung.

  7. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại 20.000.000₫ (hai mươi triệu đồng). Bị hại và đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.

  8. Đối với ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Tạ Thu N: Lúc đầu khai bị cáo thực hiện hành vi dâm ô đối với N ba lần. Tại các biên bản hỏi cung lời khai của N không đồng nhất.

    Quá trình điều tra và tại phiên toà bản thân bị cáo không thừa nhận thực hiện hành vi dâm ô đối với Tạ Thu N và nhiều lần thực hiện hành vi dâm ô đối với N và M. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh, đối chất nhưng H không thừa nhận hành vi phạm tội đối với N và phạm tội nhiều lần đối với M, ngoài lời khai của N và M thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh được hành vi của H như trong đơn trình báo của chị T2. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S và VKSND huyện Sông Hinh không khởi tố, truy tố bị cáo H về hành vi Dâm ô đối với Tạ Thu N; phạm tội nhiều lần đối với Tạ Diễm M và Tạ Thu N. Do đó, HĐXX không có căn cứ để xác định H có hành vi dâm ô đối với N và phạm tội nhiều lần đối với M và N.

  9. Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi và gia đình thuộc hộ cận nghèo nên được miễn, không nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  10. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đại diện hợp pháp của bị hại, đại diện hợp pháp người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”.

  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 146; điểm b, i, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho UBND xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên có trách nhiệm giám sát, giáo dục bị cáo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp UBND xã Đ, huyện S trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trong trường hợp, bị cáo phạt tù cho hưởng án treo có thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục bị cáo thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS.

  3. Về hình phạt bổ sung: Không.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Không.

  5. Về án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND H.Sông Hinh;
  • - Công an H.Sông Hinh;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Thi hành án dân sự huyện Sông Hinh;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; VPTA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

BÙI CHÂU KHA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN về hình sự - dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

  • Số bản án: 05/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger