Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ QUÝ

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HS-ST

Ngày: 13-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUÝ, TỈNH BÌNH THUẬN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Văn Kiệt

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hoàng Oanh
  2. Ông Trần Ngọc Cẩn

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đỗ Thị Ánh Nguyệt - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Phú Quý, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quý, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Quý, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

1/ Mai Anh V, sinh năm 1998

Nơi ĐKHKTT và trú tại: Thôn M, xã T, huyện P, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Mai Văn L (đã chết) và bà Nguyễn Thị Mỹ Ú; Gia đình có 3 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ, con: Không có.

Tiền án: Vào ngày 19/5/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Quý tuyên phạt 18 tháng tù theo bản án số 11/2022/HS-ST về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 22/3/2023, chấp hành xong án phạt tù.

Tiền sự: Vào ngày 22/7/2023, bị Công an huyện P ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự” (chưa nộp phạt).

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 07/10/2024, hiện đang tạm giam tại cơ sở giam giữ Công an huyện P, tỉnh Bình Thuận. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

2/ Nguyễn Hoàng P, sinh năm 2001

Nơi ĐKHKTT và trú tại: Thôn H, xã T, huyện P, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1; Gia đình có 4 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ Phạm Thị Bích N và có 1 con chung 2 tuổi (chưa đăng ký kết hôn); Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 07/10/2024, hiện đang tạm giam tại cơ sở giam giữ Công an huyện P, tỉnh Bình Thuận. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

3/ Nguyễn Văn B, sinh năm 2004

Nơi ĐKHKTT và trú tại: Thôn M, xã T, huyện P, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn Q và bà Phạm Thị N1; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 19/11/2024, hiện đang tạm giam tại cơ sở giam giữ Công an huyện P, tỉnh Bình Thuận. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

4/ Huỳnh Tấn B1, sinh ngày 13/3/2005

Nơi ĐKHKTT và trú tại: Thôn M, xã T, huyện P, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Huỳnh Thanh C và bà Ngô Thị M; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 19/11/2024, hiện đang tạm giam tại cơ sở giam giữ Công an huyện P, tỉnh Bình Thuận. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1965 (có mặt)
  2. Địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện P, tỉnh Bình Thuận.

  3. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1973 (có mặt)
  4. Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện P, tỉnh Bình Thuận.

* Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

Bà Ngô Thị M, sinh năm 1978 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện P, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 05/7/2024, Mai Anh V, sinh năm 1998, trú tại thôn M, xã T, huyện P nhắn tin rủ Nguyễn Hoàng P, sinh năm 2001, trú tại thôn H, xã T, huyện P đến quán T thuộc thôn H cùng xã để nhậu và sử dụng cỏ Tô ba cô thì P đồng ý. Do không có tiền nên P hỏi mượn tiền của V để cùng mua cỏ Tô ba cô về sử dụng và V đã đồng ý.

Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, P đến tìm V tại tiệm B2 và hỏi “có cỏ Tô ba cô chưa”, V trả lời “chưa” nên P liên lạc với Huỳnh Tấn B1, sinh ngày 13/3/2005 trú tại thôn M cùng xã để hỏi mua cỏ Tô ba cô thì được báo giá là 300.000 đồng/túi cỏ Tô ba cô.

Đến khoảng 00 giờ 00 phút ngày 06/7/2024, P liên lạc lại với Tấn B1 để hỏi mua ma túy và được Tấn B1 hẹn đi đến nhà mình để giao cỏ T2 ba cô. Lúc này, P nói với V đưa tiền mua cỏ Tô ba cô là 300.000 đồng và P chở V về nhà của V để lấy tiền. Sau khi nhận tiền từ V, P điều khiển xe mô tô hiệu Wave, màu đỏ, biển số 86H4-1032 đến nhà Tấn B1 và được Tấn B1 đưa P một gói ni long có chứa cỏ Tô ba cô bên trong, P đưa Tấn Bảo số tiền 300.000 đồng.

Sau khi nhận ma túy là cỏ Tô ba cô, P điều khiển xe máy chở V đến nhà để xe trong khuôn viên Trường Trung học cơ sở T3 thuộc thôn H cùng xã để sử dụng. Tại đây, V lấy ra một gói thuốc Sài Gòn bạc chưa sử dụng cùng với một hộp quẹt gas, P lấy túi cỏ Tô ba cô được cất ở trong mũ bảo hiểm. Sau đó, P đổ cỏ T2 ba cô vào trong mũ bảo hiểm rồi dùng tay mở gói thuốc Sài Gòn bạc, lấy ra lần lượt 08 điếu thuốc lá, gỡ bỏ phần đầu lọc, nhét cỏ Tô ba cô vào phần giấy bọc đầu lọc rồi cùng với V dùng hộp quẹt đốt cháy đầu điếu thuốc chứa cỏ Tô ba cô và hút.

Sau đó, V liên lạc rủ Nguyễn Văn B, sinh năm 2004, trú tại thôn M cùng xã đến cùng sử dụng cỏ Tô ba cô. Cùng thời điểm này, P nhắn tin nhờ Văn B đem một chai nước lọc vào nhà để xe của trường Trung học cơ sở T3 để uống, rồi cùng sử dụng ma túy và Văn B đã trả lời đồng ý. Khi đến nơi, Văn B ngồi xuống lấy 04 điếu thuốc lá S bạc, gỡ phần đầu lọc ra và lấy cỏ Tô ba cô nhét vào phần giấy bọc đầu lọc để cho B, V và P cùng sử dụng. Sau đó, Văn B dùng hộp quẹt đốt cháy đầu điếu thuốc chứa cỏ Tô ba cô và hút rồi chuyền lần lượt cho V, P cùng hút. Cứ như vậy Văn B, P và Văn chuyền nhau hút hết 04 điếu thuốc mà Văn B vừa nhét cỏ Tô ba cô vào rồi nằm ngủ. Sau đó, Cơ quan Công an huyện P kiểm tra phát hiện hành vi sử dụng cỏ Tô ba cô trên của Văn B, P và Văn nên đã tiến hành lập biên bản và mời về trụ sở làm việc.

Tại kết luận giám định số 4243/KL-KTHS ngày 22 tháng 7 năm 2024 của Phân viện KTHS tại TP . - Bộ C1 kết luận: Mẫu trong các gói ký hiệu M1, M2, M3 gửi giám định là ma túy, loại: MDMB-4en-PINACA, khối lượng lần lượt là: 4,55 gam; 0,02 gam; 0,06 gam. Trong đó:

Gói ký hiệu M1: 12 điếu thuốc đã được gỡ bỏ phần đầu lọc, trong có sợi thảo mộc khô, điều dài nhất kích thước khoảng 8cm, điếu ngắn nhất kích thước khoảng 3,5cm.

Gói ký hiệu M2: Các sợi thảo mộc khô.

Gói ký hiệu M3: 01 túi ni lông đựng thảo mộc khô.

Tại kết luận giám định số 4244/KL-KTHS ngày 06 tháng 8 năm 2024 và kết luận giám định số 4281/KL-KTHS ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Phân viện KHHS tại TP Bộ C1 kết luận máu và nước tiểu của Nguyễn Hoàng P, Mai Anh V và Nguyễn Văn B không tìm thấy các chất ma túy theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.

Tại Công văn số 1305/C09B ngày 26/9/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại TP HCM – Bộ C1 trả lời “Việc xét nghiệm mẫu máu và nước tiểu không phát hiện ra chất ma túy MDMB-4en-PINACA có thể do các nguyên nhân, chất ma túy MDMB-4en-PINACA có thể chuyển hóa hoàn toàn thành hợp chất khác hoặc chuyển hóa một phần thì hàm lượng còn lại của chất ma túy trên rất thấp dưới ngưỡng phát hiện”.

Tang vật thu giữ, gồm:

12 (mười hai) điếu thuốc lá đã được gỡ bỏ đầu lọc, bên trong có nhiều sợi thảo mộc khô, điếu thuốc dài nhất có kích thước khoảng 08cm, điếu ngắn nhất có kích thước khoảng 3,5cm. Đã qua sử dụng; 1 (một) túi ni lông dạng nhíp kéo một đầu có kích thước khoảng (08 x 05) cm, bên trong có nhiều sợi thảo mộc khô; Nhiều sợi thảo mộc khô có trong mũ bảo hiểm màu trắng được lấy ra, sau đó bỏ trong một túi ni lông có kích thước khoảng (11,5 x 05) cm.

1 (một) mũ bảo hiểm màu trắng; 12 (mười hai) đầu lọc thuốc lá màu trắng; 1 (một) bao thuốc lá S, bên trong bao thuốc lá có 08 điếu thuốc lá chưa qua sử dụng; 1 (một) hộp quẹt gas Hoa V1, bên trong có 02 hột xí ngầu màu xanh và màu vàng, đã qua sử dụng.

1 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6, số máy MG632LL/A, số IMEI: 354407063959141, màn hình bị nứt của Nguyễn Văn B; 1 (một) điện thoại di động hiệu ViVo Y21, màu xanh, điện thoại bị nứt, bễ màn hình của Nguyễn Hoàng P; 1 (một) điện thoại di động hiệu ViVo 1904, màu hồng đen, điện thoại bị nứt, bễ màn hình của Mai Anh V; 1 (một) chiếc di động hiệu OPPO A76, màu xanh, điện thoại bị nứt, bễ màn hình và số tiền 300.000 đồng của Huỳnh Tấn B1.

1 (một) xe mô tô hiệu Sirius, màu đen, BKS: 86B9-10387 của Nguyễn Văn B; 1 (một) xe mô tô hiệu Wave, màu đỏ, BKS: 86H4-1032 của Nguyễn Hoàng P.

Tại bản cáo trạng số: 02/CT-VKSPQ ngày 26/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quý, tỉnh Bình Thuận truy tố Mai Anh V, Nguyễn Hoàng P và Nguyễn Văn B về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Huỳnh Tấn B1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quý, tỉnh Bình Thuận thực hành quyền công tố phân tích hành vi phạm tội của các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Mai Anh V; xử phạt bị cáo Mai Anh V từ 8 năm đến 8 năm 6 tháng tù.

Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Hoàng P; xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P từ 7 năm 3 tháng đến 7 năm 9 tháng tù.

Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Văn B; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù.

Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Huỳnh Tấn B1; xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn B1 từ 2 năm đến 2 năm 6 tháng tù.

Về vật chứng vụ án:

Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổ, bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

Tịch thu tiêu huỷ:

1 (một) mũ bảo hiểm màu trắng (không niêm phong); 12 (mười hai) đầu lọc thuốc lá màu trắng; 1 (một) bao thuốc lá S, bên trong bao thuốc lá có 8 điếu thuốc lá chưa qua sử dụng; 1 (một) hộp quẹt gas Hoa V1, bên trong có 2 hột xí ngầu màu xanh và màu vàng, đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì màu trắng.

Tịch thu sung công:

1 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6, số máy MG632LL/A, số IMEI: 354407063959141, màn hình bị nứt của Nguyễn Văn B; 1 (một) điện thoại di động hiệu ViVo Y21, màu xanh, điện thoại bị nứt, bễ màn hình của Nguyễn Hoàng P; 1 (một) chiếc di động hiệu OPPO A76, màu xanh, điện thoại bị nứt, bễ màn hình của Huỳnh Tấn B1.

Số tiền 300.000 đồng Huỳnh Tấn B1 đã tự nguyện giao nộp, Cơ quan CSĐT đã chuyển vào số tài khoản 4815203000015 ngày 25/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Quý.

Trả lại 1 (một) điện thoại di động hiệu ViVo 1904, màu hồng đen, điện thoại bị nứt, bễ màn hình cho bà Nguyễn Thị Mỹ Ú, sinh năm 1979, trú tại thôn M, xã T, huyện P, tỉnh Bình Thuận. Đây là điện thoại cá nhân của bà Ú, khi bà Ú sạc pin điện thoại ở nhà thì Mai A Văn tự ý lấy đi, bà Ú không biết.

Đối với 12 (mười hai) điếu thuốc lá đã được gỡ bỏ đầu lọc, bên trong có nhiều sợi thảo mộc khô, điếu thuốc dài nhất có kích thước khoảng 08cm, điếu ngắn nhất có kích thước khoảng 3,5cm. Đã qua sử dụng; 1 (một) túi ni lông dạng nhíp kéo một đầu có kích thước khoảng (08 x 05) cm, bên trong có nhiều sợi thảo mộc khô; Nhiều sợi thảo mộc khô có trong mũ bảo hiểm màu trắng được lấy ra, sau đó bỏ trong một túi ni lông có kích thước khoảng (11,5 x 05) cm. Trong quá trình gửi giám định đã phân tích hết nên không hoàn lại.

Đối với 1 (một) xe mô tô hiệu Sirius, màu đen, BKS: 86B9-10387; 1 (một) xe mô tô hiệu Wave, màu đỏ, BKS: 86H4-1032 đã trả lại chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ nên không đề nghị HĐXX xem xét.

Các bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không có ý kiến về lời luận tội của Kiểm sát viên; đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quý, tỉnh Bình Thuận.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đều trình bày, trong thời gian giam, các bị cáo Mai Anh V, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Văn B đã nhận thức được việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo Huỳnh Tấn B1 mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, các bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm trở về với gia đình, làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quý, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà sơ thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và những người liên quan, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định:

Vào khoảng 00 giờ 00 phút ngày 06/7/2024, sau khi Mai Anh V đưa tiền cho Nguyễn Hoàng P mua được cỏ Tô ba cô từ Huỳnh Tấn B1 bán với giá 300.000 đồng thì P chở V đến nhà để xe của trường Trung học cơ sở T3, thuộc thôn H, xã T, huyện P rồi cùng nhau sử dụng ma túy cỏ Tô ba cô. Dụng cụ để sử dụng ma túy gồm thuốc lá điếu và hộp quẹt gas do V mang tới. Trong lúc sử dụng ma túy thì V, P có rủ thêm Nguyễn Văn B đến để sử dụng cùng. Khi đến, Văn B lấy 4 điếu thuốc lá S bạc, gỡ phần đầu lọc ra và lấy cỏ Tô ba cô nhét vào phần giấy bọc đầu lọc vừa gỡ, để Văn B, V và P cùng sử dụng. Sau đó, Văn B dùng hộp quẹt đốt cháy đầu điếu thuốc chứa ma túy cỏ Tô ba cô và hút rồi chuyền lần lượt cho V, P cùng hút. Cứ như vậy, cả ba người chuyền nhau sử dụng hết 4 điếu thuốc mà Văn B vừa nhét cỏ tô ba cô vào rồi nằm ra ngủ cho đến khi bị lực lượng chức năng phát hiện. Kết quả giám định số cỏ Tô ba cô thu giữ được tại hiện trường có tổng khối lượng 4,63 gam, đã được tẩm chất ma tuý MDMB-4en-PINACA.

Đối với số thảo mộc khô là cỏ Tô ba cô có tổng khối lượng 4,63 gam mà Mai Anh V, Nguyễn Hoàng P mua về tổ chức sử dụng thu giữ tại hiện trường thì không thể giám định được hàm lượng các chất ma tuý MDMB-4en-PINACA được phun, tẩm lên thảo mộc khô theo Công văn trả lời số 1603/C09B ngày 07/11/2024 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời, Mai Anh V, Nguyễn Hoàng P chưa có tiền án, tiền sự về hành vi trên. Do đó, không đặt ra xem xét xử lý V và P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào chất ma túy MDMB-4en-PINACA là chất ma túy số 241 trong Danh mục các chất ma túy ban hành kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ, quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Vì vậy, đủ cơ sở kết luận hành vi nêu trên của Mai Anh V, Nguyễn Hoàng P và Nguyễn Văn B đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015; Huỳnh Tấn B1 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, cáo trạng truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm. Ma túy là chất dễ gây nghiện, tạo cảm giác, khiến người sử dụng không kiểm soát được bản thân, gây nguy hiểm đến tính mạng và sức khỏe của người sử dụng, làm lây lan các căn bệnh xã hội nguy hiểm và là nguyên nhân phát sinh một số tội phạm khác. Do đó, hành vi của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, an ninh chính trị tại địa phương, xét thấy cần xử lý nghiêm minh để giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo và phòng ngừa chung, góp phần đấu tranh phòng, chống tệ nạn và các tội phạm về ma túy trong đời sống xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Mai Anh V có 1 tiền án về tội “Cố ý gây thương tích”, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) cho bị cáo.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai báo đối với hành vi phạm tội của mình; các bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đối với các bị cáo Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Văn B và Huỳnh Tấn B1 không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

[5.1] Tại phiên tòa, Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 cho bị cáo Nguyễn Hoàng P. Hội đồng xét xử xét thấy chưa có căn cứ nên không áp dụng tình tiết này cho bị cáo P.

[6] Trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Xét thấy, cần phân tích rõ tính chất, mức độ tham gia phạm tội, từng tội của các bị cáo để lượng hình cho phù hợp.

Đối với tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, Mai Anh V là người khởi xướng rủ Nguyễn Hoàng P, cùng góp và đưa tiền cho P đi mua cỏ Tô ba cô là ma túy về tổ chức sử dụng. Trong quá trình tổ chức sử dụng, cả V và P đều có hành vi rủ thêm Nguyễn Văn B cùng tham gia sử dụng.

Đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Huỳnh Tấn B1 có hành vi bán một gói ni long có chứa cỏ Tô ba cô bên trong cho P với giá 300.000 đồng, theo kết luận là chất ma túy MDMB-4en-PINACA. Do đó, bị cáo Tấn B1 phải chịu trách nhiệm chính trong tội này.

Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét, quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội từng tội của các bị cáo đã thực hiện.

[7] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

[8] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu huỷ:

1 (một) mũ bảo hiểm màu trắng (không niêm phong); 12 (mười hai) đầu lọc thuốc lá màu trắng; 1 (một) bao thuốc lá S, bên trong bao thuốc lá có 08 điếu thuốc lá chưa qua sử dụng; 1 (một) hộp quẹt gas Hoa V1, bên trong có 02 hột xí ngầu màu xanh và màu vàng, đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì màu trắng. Đây là vật chứng của vụ án, các bị cáo dùng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cần tịch thu tiêu hủy.

Tịch thu sung công:

Đối với 1 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6, số máy MG632LL/A, số IMEI: 354407063959141, màn hình bị nứt của Nguyễn Văn B; 1 (một) điện thoại di động hiệu ViVo Y21, màu xanh, điện thoại bị nứt, bễ màn hình của Nguyễn Hoàng P; 1 (một) chiếc di động hiệu OPPO A76, màu xanh, điện thoại bị nứt, bễ màn hình của Huỳnh Tấn B1. Tất cả đều được niêm phong trong bì bằng giấy màu trắng, bên ngoài có dòng chữ “CÔNG AN HUYỆN PHÚ QUÝ”. Đối với số tiền 300.000 đồng Huỳnh Tấn B1 đã tự nguyện giao nộp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Thuận đã chuyển vào số tài khoản 4815203000015 ngày 25/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Quý. Đây là vậy chứng vụ án, các bị cáo dùng để liên lạc, trao đổi, mua bán và có giá trị nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Trả lại 1 (một) điện thoại di động hiệu ViVo 1904, màu hồng đen, điện thoại bị nứt, bễ màn hình cho bà Nguyễn Thị Mỹ Ú, sinh năm 1979, trú tại thôn M, xã T, huyện P, tỉnh Bình Thuận. Đây là điện thoại cá nhân của bà Ú, khi bà Ú sạc pin điện thoại ở nhà thì Mai A Văn tự ý lấy đi, bà Ú không biết.

Đối với 12 (mười hai) điếu thuốc lá đã được gỡ bỏ đầu lọc, bên trong có nhiều sợi thảo mộc khô, điếu thuốc dài nhất có kích thước khoảng 08cm, điếu ngắn nhất có kích thước khoảng 3,5cm. Đã qua sử dụng; 1 (một) túi ni lông dạng nhíp kéo một đầu có kích thước khoảng (08 x 05) cm, bên trong có nhiều sợi thảo mộc khô; Nhiều sợi thảo mộc khô có trong mũ bảo hiểm màu trắng được lấy ra, sau đó bỏ trong một túi ni lông có kích thước khoảng (11,5 x 05) cm. Trong quá trình gửi giám định đã phân tích hết nên không hoàn lại. Hội đồng xét xử không xét.

Đối với 1 (một) xe mô tô hiệu Sirius, màu đen, BKS: 86B9-10387; 1 (một) xe mô tô hiệu Wave, màu đỏ, BKS: 86H4-1032 đã trả lại chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ nên HĐXX xem xét.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng:

Điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Mai Anh V.

Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Nguyễn Hoàng P và Nguyễn Văn B.

Khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Huỳnh Tấn B1.

- Tuyên bố: Các bị cáo Mai Anh V, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Văn B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Huỳnh Tấn B1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt:

Bị cáo Mai Anh V 8 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 07/10/2024.

Bị cáo Nguyễn Hoàng P 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 07/10/2024.

Bị cáo Nguyễn Văn B 7 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 19/11/2024.

Bị cáo Huỳnh Tấn B1 2 (hai) năm 6 (sáu) tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 19/11/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

2. Xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổ, bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ:

1 (một) mũ bảo hiểm màu trắng (không niêm phong); 12 (mười hai) đầu lọc thuốc lá màu trắng; 1 (một) bao thuốc lá S, bên trong bao thuốc lá có 08 điếu thuốc lá chưa qua sử dụng; 1 (một) hộp quẹt gas Hoa V1, bên trong có 02 hột xí ngầu màu xanh và màu vàng, đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì màu trắng.

Tịch thu sung công:

1 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6, số máy MG632LL/A, số IMEI: 354407063959141, màn hình bị nứt của Nguyễn Văn B; 1 (một) điện thoại di động hiệu ViVo Y21, màu xanh, điện thoại bị nứt, bễ màn hình của Nguyễn Hoàng P; 1 (một) chiếc di động hiệu OPPO A76, màu xanh, điện thoại bị nứt, bễ màn hình của Huỳnh Tấn B1.Tất cả đều được niêm phong trong bì bằng giấy màu trắng, bên ngoài có dòng chữ “CÔNG AN HUYỆN PHÚ QUÝ”.

Trả lại 1 (một) điện thoại di động hiệu ViVo 1904, màu hồng đen, điện thoại bị nứt, bễ màn hình cho bà Nguyễn Thị Mỹ Ú, sinh năm 1979, trú tại thôn M, xã T, huyện P, tỉnh Bình Thuận.

(Vật chứng nêu trên đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Quý, tỉnh Bình Thuận theo biên bản giao nhận ngày 31/12/2024).

Tịch thu sung công số tiền 300.000 đồng Huỳnh Tấn B1 đã tự nguyện giao nộp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Thuận đã chuyển vào số tài khoản số 4815203000015 ngày 25/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Quý.

3. Án phí hình sự sơ thẩm:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Mai Anh V, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Văn B, Huỳnh Tấn B1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Án xử công khai, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 13/02/2025).

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Phú Quý;
  • - Công an huyện Phú Quý;
  • - THA huyện Phú Quý;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có QL, NV liên quan;
  • - Lưu VP, HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã Ký

Trần Văn Kiệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUÝ, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 05/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUÝ, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Mai Anh V, Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Văn B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Huỳnh Tấn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger