|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 05/2025/HS-ST Ngày: 12-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Thanh Minh
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Bảy
- Ông Phan Thành Phước
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Minh Nguyệt – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Thạch Thiện– Kiểm sát viên
Trong ngày 12 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1985. Tên gọi khác: T1. Nơi cư trú: ấp A, xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: không ổn định; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; con ông Lê Đức H, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị D sinh năm 1965, vợ Nguyễn Thị T2, sinh năm: 1984 (đã ly hôn) và 01 người con, sinh năm 2006.
- Tiền án: 02 tiền án
- - Ngày 29/11/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 18/2019/HSST (chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/2021).
- - Ngày 28/12/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 42/2022/HS-ST (chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/3/2024).
- Tiền sự: Không.
- Nhân thân
- + Ngày 10/7/2012 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện M áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh với thời hạn là 24 tháng theo Quyết định số 1154/QĐ-UBND.
- + Ngày 03/02/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 03/2016/HSST (chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/7/2016).
- + Ngày 19/10/2016 bị Công an xã B, thành phố B xử phạt hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (đã nộp phạt).
- + Ngày 26/10/2016 bị Công an huyện M xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (đã nộp phạt).
- + Ngày 17/7/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 16 tháng theo Quyết định số 23/QĐ-TA.
Bị cáo Nguyễn Hoàng T bị bắt tạm giam từ ngày 02/10/2024 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại Tòa.
Bị hại:
- - Bà Thạch Thị S, sinh năm 1976; Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre (có đơn xin vắng mặt).
- - Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1995; Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre (có đơn xin vắng mặt).
- - Ông Dương Chí H1, sinh năm 1994; Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre (có đơn xin vắng mặt).
- - Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1971; Địa chỉ: ấp P, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
- - Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1978; Địa chỉ: ấp P, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
- - Bà Phan Thị T3, sinh năm 1972; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre (có đơn xin vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1965; Địa chỉ: ấp A, xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre (có đơn xin vắng mặt).
- - Bà Đặng Thị M, sinh năm 1962; Địa chỉ: Số nhà B khu phố B, phường F, thành phố B, tỉnh Bến Tre (có đơn xin vắng mặt).
- - Ông Lê Văn L, sinh năm 1971; Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre (có đơn xin vắng mặt).
- - Ông Lý Thái C, sinh năm 1963; Địa chỉ: ấp A, xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- * Vụ thứ nhất: Vào khoảng 11 giờ ngày 27/7/2024, Nguyễn Hoàng T điều khiển xe mô tô biển số 54U1-0328 lưu thông trên Quốc lộ F theo hướng từ huyện M đi thành phố B. Khi đến khu vực ấp H, xã H, huyện M nhìn thấy tiệm bán nước đá của chị Thạch Thị S, sinh năm 1976 có 01 xe lồng tự chế bằng kim loại không người trông coi nên nảy sinh ý định lấy trộm tài sản; T đến vị trí xe lồng dùng tay kéo xe lồng đặt lên phía sau yên xe mô tô chở đến xã T, huyện M bán cho tiệm thu mua ve chai của bà Đặng Thị M, sinh năm 1962 với giá 460.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết.
- * Vụ thứ hai: Vào khoảng 07 giờ ngày 28/7/2024, Nguyễn Hoàng T điều khiển xe mô tô biển số 54U1-0328 lưu thông trên Quốc lộ F theo hướng từ huyện M đi thành phố B. Khi đến khu vực ấp H, xã H, huyện M thấy bên trong tiệm vá vỏ xe ô tô của anh Trần Văn Đ, sinh năm 1995 có nhiều mâm xe ô tô không người trông coi nên nảy sinh ý định lấy trộm tài sản; T xuống xe mô tô dùng tay cầm 01 mâm xe định đưa lên xe mô tô thì bị người dân phát hiện bắt giữ trình báo Công an xã H, huyện M.
- * Bản kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐG ngày 26/8/2024 của Hội đồng định giá huyện M kết luận:
- - 01 xe lồng (loại xe tự chế dùng để chứa đựng hàng hóa) đã qua sử dụng, chiều dài 2,27m (trong đó thùng dài 1,5m, tay cầm dài 0,77m), chiều rộng 0,7m, chiều cao 0,67m, giá 720.000 đồng.
- - 01 mâm bánh xe ô tô bằng kim loại nặng 43,7kg, đường kính 60cm, giá 327.750 đồng.
- Tổng trị giá tài sản là 1.047.750 đồng.
- * Vụ thứ ba: Vào khoảng 10 giờ ngày 20/8/2024, Nguyễn Hoàng T điều khiển xe mô tô biển số 71S4-1133 lưu thông trên Quốc lộ F hướng huyện M đi thành phố B. Khi đến khu vực ấp H, xã H, huyện M nhìn thấy tiệm tạp hóa của anh Dương Chí H1, sinh năm 1994 không có người trông coi nên nảy sinh ý định lấy trộm tài sản; T vào tiệm tạp hóa lấy trộm 02 thùng bia lon hiệu Tiger, loại 24 lon/thùng, thể tích thực 330 ml/lon rồi đem bán cho người thanh niên trên đường ở thành phố B (không rõ nhân thân) với giá 500.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết.
- * Vụ thứ tư: Vào khoảng 15 giờ ngày 20/8/2024, Nguyễn Hoàng T điều khiển xe mô tô biển số 71S4-1133 lưu thông trên lộ liên xã T, huyện M - xã H, huyện M. Khi đến khu vực ấp H, xã H, huyện M nhìn thấy có một xe lồng tự chế của anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1971 để bên trong hàng rào lưới B40 không người trông coi nên nảy sinh ý định lấy trộm tài sản; T vào lấy trộm xe lồng đặt lên yên xe mô tô điều khiển về hướng xã T, huyện M. Đi được một đoạn sợ bị phát hiện nên T vứt bỏ xe lồng rồi chạy về nhà (tài sản không thu hồi được).
- * Bản kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐG ngày 23/9/2024 của Hội đồng định giá huyện M kết luận:
- - 01 xe lồng (loại xe tự chế dùng để chứa đựng hàng hóa) đã qua sử dụng, kích thước thùng dài 1,5m, chiều rộng 0,8m, chiều cao 01m; giá 720.000 đồng.
- - 02 thùng bia lon, nhãn hiệu Tiger (Tiger nâu) loại 24 lon/thùng; giá 350.000 đồng/thùng, thành tiền 700.000 đồng.
- Tổng trị giá tài sản ngày 20/8/2024 là 1.420.000 đồng.
- * Vụ thứ năm: Vào khoảng 15 giờ ngày 30/8/2024, Nguyễn Hoàng T điều khiển xe mô tô biển số 71L1-070.88 lưu thông trên đường xã hướng từ Ủy ban nhân dân xã T, huyện M đi Quốc lộ E. Khi đến ấp T, xã T, huyện M nhìn thấy tiệm tạp hóa của chị Phan Thị T3, sinh năm 1972 không người trông coi nên nảy sinh ý định lấy trộm tài sản; T vào tiệm tạp hóa lấy trộm 02 thùng bia lon nhãn hiệu Heineken và 01 thùng bia lon nhãn hiệu Larue (loại 24 lon/thùng, thể tích thực 330 ml/lon) rồi đem bán cho người thanh niên trên đường ở thành phố B (không rõ nhân thân) với giá 700.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết.
- * Bản kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐĐG ngày 23/9/2024 của Hội đồng định giá huyện M kết luận:
- - 01 thùng bia lon, nhãn hiệu Larue, loại 24 lon/thùng, giá 260.000 đồng.
- - 02 thùng bia lon, nhãn hiệu Heineken, loại 24 lon/thùng, giá 880.000 đồng.
- Tổng trị giá tài sản ngày 30/8/2024 là 1.140.000 đồng.
- * Vật chứng
- - 01 xe lồng tự chế chứa hàng hóa có chiều rộng 0,7m; chiều cao 0,67m; chiều dài 2,27m; trong đó thùng xe dài 1,5m, tay cầm dài 0,77m (thuộc sở hữu của chị Thạch Thị S, đã trả).
- - 01 mâm bánh xe ô tô bằng kim loại, đường kính 60cm, nặng 43,7kg (thuộc sở hữu của anh Trần Văn Đ, đã trả).
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu ATTILA màu trắng biển số 54U1-0328, số máy: AD018114, số khung: D-018114 và 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Trần Chí H4.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu NEWEI màu đỏ đen biển số 71S4-1133, số máy: FMHA-002519, số khung: CX-61002546 (thuộc sở hữu của Nguyễn Hoàng T).
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda màu xanh bạc biển số 71L1-070.88, số máy: JA39E3131562, số khung: RLHJA3929PY503352 (thuộc sở hữu của anh Lý Thái C, đã trả).
- - 01 đoạn video trích từ camera nhà chị Thạch Thị S ghi lại sự việc Nguyễn Hoàng T lấy trộm tài sản ngày 27/7/2024.
Quá trình điều tra, lời khai của Nguyễn Hoàng T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được.
Tại Cáo trạng số 06/CT-VKS-MCB, ngày 16-01-2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng T (T1) về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quan điểm cáo trạng đã truy tố và đề nghị:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T từ 02 (hai) năm tù đến 03 (ba) năm tù.
Về áp dụng hình phạt bổ sung: bị cáo Nguyễn Hoàng T (T1) không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên thấy rằng nếu áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo cũng không có khả năng thi hành án nên không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị:
- - Ghi nhận trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả cho:
- + Chị Thạch Thị S: 01 xe lồng tự chế chứa hàng hóa có chiều rộng 0,7m; chiều cao 0,67m; chiều dài 2,27m; trong đó thùng xe dài 1,5m, tay cầm dài 0,77m.
- + Anh Lý Thái C: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda màu xanh bạc biển số 71L1-070.88, số máy: JA39E3131562, số khung: RLHJA3929PY503352.
- + Anh Trần Văn Đ 01 mâm bánh xe ô tô bằng kim loại, đường kính 60cm, nặng 43,7kg (thuộc sở hữu của anh Đ, đã trả).
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu ATTILA màu trắng biển số 54U1-0328, số máy: AD018114, số khung: D-018114 và 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Trần Chí H4.
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu NEWEI màu đỏ đen biển số 71S4-1133, số máy: FMHA-002519, số khung: CX-61002546 (thuộc sở hữu của Nguyễn Hoàng T).
- - Lưu vào hồ sơ vụ án: 01 đoạn video trích từ camera nhà chị Thạch Thị S ghi lại sự việc Nguyễn Hoàng T lấy trộm tài sản ngày 27/7/2024.
Về trách nhiệm dân sự:
- - Các bị hại chị Thạch Thị S; anh Trần Văn Đ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lý Thái C đã nhận lại tài sản và không còn yêu cầu gì thêm nên đề nghị Tòa không xem xét.
- - Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng T bồi thường cho: Đặng Thị M số tiền: 460.000 đồng, Dương Chí H1 số tiền: 700.000 đồng, Nguyễn Văn H2 số tiền 720.000 đồng, Phan Thị T3 số tiền: 1.140.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Hoàng T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện giống như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo; thừa nhận hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đồng ý với bản luận tội của Viện kiểm sát nên không có ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo Nguyễn Hoàng T thừa nhận hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, trong thời gian qua bản thân bị cáo rất hối hận nên mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hoàng T thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo; lời khai nhận tội của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị hại, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Mặc dù đã có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nhưng với mục đích tư lợi bất chính nên Nguyễn Hoàng T tiếp tục thực hiện các lần phạm tội như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 11 giờ ngày 27/7/2024 tại ấp H, xã H, huyện M, T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe lồng tự chế bằng kim loại của chị Thạch Thị S, trị giá 720.000 đồng.
Vụ thứ hai: Khoảng 07 giờ ngày 28/7/2024 tại ấp H, xã H, huyện M, T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 mâm xe ô tô của anh Trần Văn Đ, trị giá 327.750 đồng.
Vụ thứ ba: Khoảng 10 giờ ngày 20/8/2024 tại ấp H, xã H, huyện M, T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 02 thùng bia lon hiệu Tiger, loại 24 lon/thùng, thể tích thực 330 ml/lon của anh Dương Chí H1, trị giá 700.000 đồng.
Vụ thứ tư: Khoảng 15 giờ ngày 20/8/2024 tại ấp H, xã H, huyện M, T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe lồng tự chế bằng kim loại của anh Nguyễn Văn H2, trị giá 720.000 đồng.
Vụ thứ năm: Khoảng 15 giờ ngày 30/8/2024 tại ấp T, xã T, huyện M, T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 02 thùng bia lon nhãn hiệu Heineken và 01 thùng bia lon nhãn hiệu Larue (loại 24 lon/thùng, thể tích thực 330 ml/lon) của chị Phan Thị T3, trị giá 1.140.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản mà T chiếm đoạt của các bị hại là 3.607.750 đồng.
Vì vậy, Cáo trạng số 06/CT-VKSMCB, ngày 16-01-2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng T (T1) về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”.
[4] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng T là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của các bị hại. Bị cáo ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lòng tham, mong muốn có được tài sản của người khác nên vẫn cố ý thực hiện điều đó đã làm ảnh hưởng đến trật tự xã hội và thể hiện tính xem thường pháp luật của bị cáo.
Vì vậy, bị cáo phải gánh chịu trách nhiệm hình sự đối với hậu quả do hành vi của bị cáo đã trực tiếp gây ra.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Hoàng T do phạm tội hai lần trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; thành khẩn khai báo; có bà ngoại Nguyễn Thị K là Bà Mẹ Việt Nam anh hùng và được tặng Huân chương độc lập hạng ba, ông ngoại Nguyễn Văn T4 là Liệt sĩ theo quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về áp dụng hình phạt đối với các bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ hậu quả do hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Nguyễn Hoàng T từng có tiền án, tiền sự nên không được coi là người có nhân thân tốt. Cụ thể: Ngày 10/7/2012 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện M áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh với thời hạn là 24 tháng theo Quyết định số 1154/QĐ-UBND. Ngày 03/02/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 03/2016/HSST (chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/7/2016). Ngày 19/10/2016 bị Công an xã B, thành phố B xử phạt hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (đã nộp phạt). Ngày 26/10/2016 bị Công an huyện M xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (đã nộp phạt). Ngày 17/7/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 16 tháng theo Quyết định số 23/QĐ-TA.
Bởi các lẽ trên cần nên áp dụng hình phạt tù thật nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức cải tạo giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và đảm bảo được tính răn đe, phòng ngừa chung cho cộng đồng.
[8] Về áp dụng hình phạt bổ sung: do hiện nay bị cáo Nguyễn Hoàng T không có thu nhập ổn định nên thấy rằng nếu áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo cũng không có khả năng thi hành án nên không áp dụng.
[9] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- - Ghi nhận trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả cho:
- + Chị Thạch Thị S: 01 xe lồng tự chế chứa hàng hóa có chiều rộng 0,7m; chiều cao 0,67m; chiều dài 2,27m; trong đó thùng xe dài 1,5m, tay cầm dài 0,77m.
- + Anh Lý Thái C: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda màu xanh bạc biển số 71L1-070.88, số máy: JA39E3131562, số khung: RLHJA3929PY503352.
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu ATTILA màu trắng biển số 54U1-0328, số máy: AD018114, số khung: D-018114 và 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Trần Chí H4.
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu NEWEI màu đỏ đen biển số 71S4-1133, số máy: FMHA-002519, số khung: CX-61002546 (thuộc sở hữu của Nguyễn Hoàng T).
- - Lưu vào hồ sơ vụ án: 01 đoạn video trích từ camera nhà chị Thạch Thị S ghi lại sự việc Nguyễn Hoàng T lấy trộm tài sản ngày 27/7/2024.
[10] Về trách nhiệm dân sự:
- - Các bị hại chị Thạch Thị S, anh Trần Văn Đ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lý Thái C đã nhận lại tài sản và không còn yêu cầu gì thêm nên Tòa không xem xét.
- - Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng T bồi thường cho: Đặng Thị M số tiền: 460.000 đồng, Dương Chí H1 số tiền: 700.000 đồng, Nguyễn Văn H2 số tiền 720.000 đồng, Phan Thị T3 số tiền: 1.140.000 đồng.
[11] Đối với việc Nguyễn Hoàng Trung thực H5 hành vi trộm cắp tài sản 05 lần nhưng không đủ định lượng, không là nguồn sống chính nên không áp dụng tình tiết định khung “có tính chất chuyên nghiệp”.
Đối với bà Đặng Thị M không biết tài sản do phạm tội mà có nên không xem xét trách nhiệm hình sự.
[12] Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: bị cáo phải nộp theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 23, 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí của Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/10/2024.
- Về áp dụng hình phạt bổ sung: không áp dụng.
[2]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- - Ghi nhận trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả cho:
- + Chị Thạch Thị S: 01 xe lồng tự chế chứa hàng hóa có chiều rộng 0,7m; chiều cao 0,67m; chiều dài 2,27m; trong đó thùng xe dài 1,5m, tay cầm dài 0,77m.
- + Anh Lý Thái C: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda màu xanh bạc biển số 71L1-070.88, số máy: JA39E3131562, số khung: RLHJA3929PY503352.
- + Anh Trần Văn Đ 01 mâm bánh xe ô tô bằng kim loại, đường kính 60cm, nặng 43,7kg (thuộc sở hữu của anh Đ, đã trả).
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu ATTILA màu trắng biển số 54U1-0328, số máy: AD018114, số khung: D-018114 và 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Trần Chí H4.
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu NEWEI màu đỏ đen biển số 71S4-1133, số máy: FMHA-002519, số khung: CX-61002546 (thuộc sở hữu của Nguyễn Hoàng T).
- - Lưu vào hồ sơ vụ án: 01 đoạn video trích từ camera nhà chị Thạch Thị S ghi lại sự việc Nguyễn Hoàng T lấy trộm tài sản ngày 27/7/2024.
[3]. Về trách nhiệm dân sự:
- - Các bị hại chị Thạch Thị S, anh Trần Văn Đ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lý Thái C đã nhận lại tài sản và không còn yêu cầu gì thêm nên đề nghị Tòa không xem xét.
- - Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng T bồi thường cho: Đặng Thị M số tiền: 460.000 đồng, Dương Chí H1 số tiền: 700.000 đồng, Nguyễn Văn H2 số tiền 720.000 đồng, Phan Thị T3 số tiền: 1.140.000 đồng.
[4]. Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 23, 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí của Tòa án bị cáo Nguyễn Hoàng T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[5]. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm. Đối với những người vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo được tính từ khi nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Cao Thanh Minh |
Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 05/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng T phạm tội trộm cắp tài sản
