Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM TÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 05/2025/HS-ST

Ngày: 24-01-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Thế Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Quang Sơn và ông Phạm Hữu Ái

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Vĩnh Nguyên– Thư ký của Toà án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Cường– Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 87/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo :

Nguyễn Tấn P, Sinh năm 1978, tại Vĩnh Long.

Nơi ĐKHKTT: Khóm A, phường T, TX. B, tỉnh Vĩnh Long.

Chỗ ở hiện nay: Không cố định

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo;

Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 3/12.

Con ông Nguyễn Tấn X (đã chết) và bà Nguyễn Thị L (đã chết).

Vợ, con: Chưa có

- Tiền án: 02

  • + Tại Bản án Hình sự Sơ thẩm số 91/HSST ngày 03/12/1998 của Tòa án nhân dân Quận 9, TP ., Nguyễn Tấn P bị xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 1985. Chưa được xóa án tích (do chưa đóng án phí).
  • + Tại Bản án Hình sự Sơ thẩm số 88/HSST ngày 17/12/2001 của Tòa án nhân dân TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Nguyễn Tấn P bị xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/4/2002. Chưa được xóa án tích (do chưa đóng án phí).

- Tiền sự: Không

- Nhân thân:

  • + Tại Bản án Hình sự Phúc thẩm số 61/HSPT ngày 26/9/2003 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, Nguyễn Tấn P bị xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/12/2005, đã được xóa án tích.
  • + Tại Bản án Hình sự Sơ thẩm số 139/2008/HSST ngày 12/12/2008 của Tòa án nhân dân TX. Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Tấn P bị xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/5/2011, đã được xóa án tích.

Nguyễn Tấn P bị tạm giữ từ ngày 19/8/2024, đến ngày 22/8/2024 thì chuyển sang tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ của Công an huyện H.

* Bị hại : Trần Thị Duy T, sinh năm 1987; Địa chỉ : Khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án :

- Ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 1964; Địa chỉ : Khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

- Bà Trần Thị L1, sinh năm 1981; Địa chỉ : Khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Tấn P, sinh năm 1978 là đối tượng sống lang thang, không nghề nghiệp. Để có tiền tiêu xài, P nảy sinh ý định tìm nhà người dân nào để tài sản sơ hở thì trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 27/12/2018, khi đi bộ đến trước quầy thuốc tây đồng thời cũng là nhà của chị Trần Thị Duy T, sinh năm 1987, thuộc khu phố B, TT. T, huyện H, P quan sát thấy không có người trông coi nên lét lút vào bên trong tìm tài sản để trộm cắp thì phát hiện có 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 của chị T đang để trên bàn ở gian phòng bên trong sau quầy thuốc, P liền lấy điện thoại này rồi đi ra ngoài đường thuê anh Nguyễn Văn P1, sinh năm 1964 (trú tại khu phố C, TT. T, huyện H; hành nghề chạy xe ôm) chở đến Ngã ba 46 thuộc TT. T, huyện H, anh P1 không hay biết P vừa trộm cắp điện thoại của chị T nên đồng ý chở P đi. Khi đến Ngã ba 46, P trả tiền công cho anh P1 rồi vào tiệm sửa chữa điện thoại di động Trung Nhân thuộc khu phố B, TT. T, huyện H bảo chị Trần Thị L1, sinh năm 1981 (là chủ tiệm) phá mật khẩu mở khóa màn hình điện thoại Samsung J7 vừa trộm được nêu trên, chị L1 không biết điện thoại này do P trộm cắp mà có

nên nhận sửa và viết phiếu sửa chữa đối với điện thoại này đưa cho P giữ liên hai, còn liên một thì chị L1 giữ. Sau đó, P đón xe buýt đến thôn H, xã T, thị xã L tiếp tục trộm cắp của anh Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1988 (trú tại thôn H, xã T, TX. L) 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9 rồi đón xe buýt về lại Ngã ba 46, TT. T, huyện H thì bị Công an thị trấn T trong lúc truy lùng phát hiện đưa về trụ sở làm việc thì P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Quá trình khởi tố, do Nguyễn Tấn P là đối tượng sống lang thang, không có nơi cư trú cố định nên Cơ quan CSĐT Công an huyện H ra Lệnh bắt tạm giam đối với P, nhưng quá trình điều tra không xác định được P đang ở đâu nên ngày 22/3/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện H ra Quyết định truy nã đối với P. Đến ngày 19/8/2024, Nguyễn Tấn P bị bắt giữ theo Quyết định truy nã của Cơ quan CSĐT Công an huyện H.

Theo bản Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 15/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện H kết luận thì điện thoại di động hiệu Samsung J7 tại thời điểm Nguyễn Tấn P chiếm đoạt có giá trị 1.500.000 đồng.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7. Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã trả lại cho chị Trần Thị Duy T.
  • 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9 (đây là điện thoại Nguyễn Tấn P trộm cắp của anh Nguyễn Ngọc T1 ở địa bàn thị xã L). Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an thị xã L để giải quyết theo thẩm quyền.

Về phần dân sự: Chị Trần Thị Duy T không yêu cầu Nguyễn Tấn P bồi thường dân sự.

Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 10/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân truy tố bị cáo Nguyễn Tấn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Tấn P như nội dung cáo trạng nêu và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn P mức án từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tấn P đã khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra và thừa nhận cáo trạng của VKSND huyện Hàm Tân truy tố là hoàn toàn đúng với các hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

- Bị cáo Nguyễn Tấn P không có ý kiến cũng như tranh luận gì đối với quan điểm của đại diện VKSND huyện Hàm Tân.

* Bị cáo Nguyễn Tấn P nói lời sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là sai, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố vụ án, Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại Trần Thị Duy T và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Văn P1 và Trần Thị L1 vắng mặt. Ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo có mặt tại phiên tòa là đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không gây trở ngại cho việc xét xử, vì lời khai của họ đã khai đầy đủ thể hiện rõ trong hồ sơ vụ án, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với quy định tại Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung vụ án :

[2.1] Về định tội và hình phạt : Tại Toà, bị cáo Nguyễn Tấn P thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân đã truy tố. Xét, lời khai của bị cáo tại Tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ căn cứ khẳng định: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 27/12/2018, tại nhà chị Trần Thị Duy T thuộc khu phố B, TT. T, huyện H, Nguyễn Tấn P đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp của chị T 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 trị giá 1.500.000 đồng.

Mặc dù tài sản Nguyễn Tấn P trộm cắp của chị T chỉ có trị giá 1.500.000 đồng. Nhưng trước đó, P đã 02 lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích, lại tiếp tục vi phạm, nên hành vi nêu trên của P đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân truy tố bị cáo Nguyễn Tấn P về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2.2] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Mặc dù bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị nghiêm cấm, nhưng với bản tính tham lam, chây lười lao động, nên bị cáo đã lợi dụng sự mất cảnh giác trong việc quản lý tài sản

của chủ sở hữu để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, nhằm mục đích tư lợi cá nhân.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự xem thường pháp luật, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, tạo tâm lý mất an toàn trong quần chúng nhân dân. Do đó, để giữ gìn kỷ cương pháp luật, bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[2.3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

[2.4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo và bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho P nên cho bị cáo P được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[2.5] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[3] Về trách nhiệm dân sự : Chị Trần Thị Duy T không yêu cầu Nguyễn Tấn P bồi thường dân sự. Vì vậy, HĐXX không đặt ra để xem xét.

[4] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tấn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn P phạm tội: "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng : Điểm b khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn P 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 19/8/2024.

[2] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Nguyễn Tấn P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[3] Về quyền kháng cáo : Áp dung Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (24/01/2025).

Riêng bị hại Trần Thị Duy T và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Văn P1 và Trần Thị L1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Phòng PC81 – Công an tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Hàm Tân;
  • - THADS huyện Hàm Tân;
  • - Công an huyện Hàm Tân;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - UBND địa phương nơi BC cư trú;
  • - Lưu HS - Lưu Tòa án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thế Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 05/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tấn Phước phạm tội "trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger