Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THUẬN BẮC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HS-ST

Ngày: 16/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC - TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Minh Đăng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Vũ Thị Vân
  2. Bà Katơr Thị Quanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Hoà Yên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc - tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2025/HSST ngày 20/02/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐST-HS ngày 02/4/2025 đối với các bị cáo:

1. NGUYỄN HẢI N, sinh năm 1989, tại Khánh Hoà.

Nơi cư trú: Tổ A, thôn V, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ văn hóa: 10/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Lê S, sinh năm: 1959 và bà Phạm Thị B, sinh năm 1958. Vợ tên: Bùi Thị Quốc K, sinh năm: 1993. Có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2020, nhỏ nhất sinh năm 2023.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 27/3/2015, bị Toà án nhân dân thị xã Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 23/2015/HSST. Năm 2021, bị Ủy ban nhân dân xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa áp dụng biện pháp giáo dục tại Phường về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Ngày 26/02/2025, bị Toà án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hoà xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 20/2025/HSST, ngày 26/2/2025 của Toà án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hoà.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/12/2024 đến 15/12/2024 chuyển sang tạm giam. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực T – Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.

2. HOÀNG KIM H, sinh năm 1977, tại Khánh Hoà.

Hộ khẩu thường trú: Số 25 đường Hồng Bàng, phường Tân Tiến, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà.

Chỗ ở: Thôn Đông 1, xã Diên Điền, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hoà.

Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ văn hóa: 12/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Hoàng Quang H1, sinh năm 1939 (đã chết) và bà Đinh Thị Kim D, sinh năm 1942 (đã chết). Vợ tên: Trần Thị Nhã C, sinh năm: 1980 (sống chung như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn, đến năm 2004 không còn sống chung). Có 01 người con sinh năm 2004.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 14/3/2005, bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 43/2005/HSST. Ngày 08/6/2009, bị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 83/2009/HSPT.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/12/2024 đến nay. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực T – Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1983.

Nơi cư trú hiện nay: Thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Lê S, sinh năm 1959.
  2. Nơi cư trú: Tổ A, thôn V, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

  3. Ông Lê Công V, sinh năm: 1995.
  4. Nơi cư trú: Thôn B, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ, ngày 07/12/2024, Nguyễn Hải N gọi điện thoại cho Hoàng Kim H để nhờ H chở vào thành phố C, tỉnh Khánh Hòa giải quyết việc riêng và thăm mộ ông bà Nội tại thôn X, xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận. H đồng ý. N điều khiển xe mô tô biển số 79N1- 728.15 đến chở H đi từ Trung tâm huyện D, tỉnh Khánh Hòa theo Quốc lộ A hướng vào thôn X để thăm mộ. Sau đó, H điều khiển xe chở N quay về lại thành phố C để về nhà. Khi đến trước nhà bà Nguyễn Thị Thu T ở thôn H, xã C, huyện T, nhìn thấy có nhiều xe mô tô đang dựng thì N rủ H vào nhà bà T lấy trộm xe, H đồng ý. Lúc này, N nói H chạy xe ngang qua trước nhà bà T để quan sát thì thấy có 01 xe mô tô biển số 85H1-051.42 hiệu Exciter màu xanh và 01 xe mô tô biển số 85C1-422.13 hiệu Sirius màu đen của nhà bà T đang dựng quay đầu vào nhà và trong nhà không người. Thấy vậy, H ngồi ngoài xe cảnh giới còn N lấy chìa khóa xe mô tô của mình đi bộ đến gần xe mô tô biển số 85H1-051.42, rồi dùng chìa khóa này mở khóa nhưng không được. Sau đó, N đi bộ quay ra lại chỗ H nói mở khóa không được và đưa lại chìa khóa xe cho H, N tiếp tục đi vào chỗ xe mô tô biển số 85C1-422.13 thì thấy chìa khóa đang cắm sẵn trên xe, N dắt xe ra ngoài rồi cùng H mỗi người điều khiển một xe chạy về thành phố C. Trên đường đi, N sử dụng chiếc điện thoại di động hiệu Samsung A35 có gắn thẻ sim số 0935.751.285 gọi điện thoại cho Lê Công V để bán chiếc xe mô tô vừa trộm cắp được, còn H chạy xe mô tô biển số 79N1- 728.15 về phòng trọ tại thôn Đ, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa nghỉ ngơi. Sau đó, Nam tháo biển số 85C1- 422.13 ra cất giấu rồi đem bán cho xe cho V với giá 3.600.000 đồng (Ba triệu sáu trăm ngàn đồng) rồi cầm tiền về phòng trọ của H đưa cho H 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi ngàn đồng). Sau đó, N điều khiển xe mô tô biển số 79N1- 728.15 về nhà. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, N và H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 23/KLĐGTS ngày 11/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T kết luận: Giá trị thực tế tại thời điểm bị mất vào ngày 07/12/2024 của xe mô tô biển số 85C1- 422.13, nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, màu sơn đen là 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).

Tại Cáo trạng số: 05/CT-VKSTB ngày 18/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc đã truy tố Nguyễn Hải N, Hoàng Kim H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hải N và Hoàng Kim H đã khai nhận cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp một xe mô tô biển số 85C1-422.13 của bà Nguyễn Thị Thu T trị giá 12.000.000 đồng tại thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

Tại phiên toà, bị hại bà Nguyễn Thị Thu T trình bày: Bà xác định các bị cáo đã lén lút trộm cắp 01 xe mô tô biển số 85C1-422.13 của gia đình bà. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà đã nhận lại được tài sản nên bà không có yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm. Bà xin giảm nhẹ cho các bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Lê S trình bày: Ông là chủ sở hữu xe mô tô biển số 79N1-728.15, khi bị cáo N sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện trong vụ án ông không biết. Ông đã nhận lại xe và không có yêu cầu bồi thường gì.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo về tội danh như trên và đề nghị HĐXX:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải N từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
  • Xử phạt bị cáo Hoàng Kim H từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
  • Áp dụng Điều 56 của BLHS. Buộc bị cáo Nguyễn Hải N phải chịu mức hình phạt chung của bản án hôm nay và mức hình phạt 01 năm tù của bản án 20/2025/HSST ngày 26/02/2025 của TAND thành Phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hoà.

Về trách nhiệm dân sự:

Đối với số tiền 3.600.000 đồng mà anh Lê Công V đã bỏ ra mua lại chiếc xe mô tô biển số 85C1-422.13 do N trộm cắp đem đến bán. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Lê Công V không yêu cầu Nguyễn Hải N trả lại số tiền này và cam đoan không khiếu nại gì về sau nên không xem xét giải quyết.

Người bị hại là bà Nguyễn Thị Thu T đã nhận lại chiếc xe mô tô biển số 85C1-422.13 và không có yêu cầu gì về dân sự.

Về vật chứng:

  • Đối với xe mô tô không biển số, nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, màu sơn đen. Số máy E32VE146501, số khung 3740LY045547 và 01 (một) biển số xe mô tô biển số 85C1- 422.13. Quá trình điều tra xác định, xe mô tô và biển số nói trên là tài sản thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị Thu T nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị T theo quy định.
  • Đối với xe mô tô biển số 79N1-728.15, nhãn hiệu HONDA, số loại AIR BLADE, màu sơn vàng đen: Quá trình điều tra xác định, xe mô tô này là tài sản thuộc sở hữu của ông Nguyễn Lê Sanh . Việc bị cáo N sử dụng xe mô tô biển số 79N1-728.15 làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội, ông S hoàn toàn không biết. Cơ quan điều tra đã lại xe mô tô nói trên cho ông S theo quy định.
  • Đối với 01 (một) điện thoại di động cảm ứng hiệu SAMSUNG A35, mặt ngoài ốp điện thoại được dán hình con rồng màu trắng xanh: Quá trình điều tra xác định, chiếc điện thoại này là tài sản thuộc sở hữu của Nguyễn Hải N và N sử dụng chiếc điện thoại này vào việc phạm tội nên đề nghị HĐXX tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Đối với sim số 0935.751.285 bị cáo N sử dụng để liên lạc trong vụ án, xét thấy không còn giá trị nên đề nghị HĐXX tuyên tịch thu tiêu huỷ.
  • Quá trình điều tra xác định: Khi Nguyễn Hải N đem xe mô tô biển số 85C1-422.13 đến bán cho Lê Công V thì V không biết xe này do N trộm cắp mà có, nên Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với V về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự.
  • Quá trình điều tra Nguyễn Hải N và Hoàng Kim H còn khai nhận: N và H đã từng mua ma túy đá của một người đàn ông lạ mặt ở địa bàn thành phố N, tỉnh Khánh Hòa nhằm mục đích để sử dụng. Cơ quan điều tra đã căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình, đã chuyển hồ sơ cho Công an huyện T để xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” đối với Nguyễn Hải N và Hoàng Kim H.
  • Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho N và H trên địa bàn thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, hiện Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân nên thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N phối hợp điều tra, xác minh làm rõ theo thẩm quyền.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị HĐXX quyết định về án phí Hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

Bị hại, Người có quyền, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng có nội dung: Các bị cáo nhận thấy hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo đã thực hiện là vi phạm pháp luật. Các bị cáo rất hối hận, các bị cáo xin lỗi người bị hại và mong HĐXX giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Hải N và Hoàng Kim H khai nhận cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp một xe mô tô biển số 85C1-422.13 của bà Nguyễn Thị Thu T trị giá 12.000.000 đồng tại thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, khẳng định cáo trạng 05/CT-VKSTB ngày 18/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc đã truy tố Nguyễn Hải N và Hoàng Kim H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của BLHS là có cơ sở, đúng pháp luật.

[3]. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do bản chất lười lao động, muốn chiếm đoạt tài sản của người khác nên đã cố tình thực hiện với lỗi có ý trực tiếp. Các bị cáo đã phạm tội Trộm cắp tài sản. Tội và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS. Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, cần đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo để ra mức hình phạt phù hợp quy định pháp luật.

[4]. Đối với bị cáo Nguyễn Hải N: Bị cáo người khởi xướng, rủ rê bị cáo H và đồng thời là người trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Sau đó, bị cáo là người bán tài sản và sử dụng phần lớn số tiền bán tài sản đó. Bị cáo có nhân thân xấu. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; thành khẩn khai báo; bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo. Các tình tiết này quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 của BLHS. Bị cáo N còn phải chịu mức hình phạt chung của bản án này với bản án số: 20/2025/HSST ngày 26/02/2025 của TAND thành Phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hoà theo quy định tại Điều 56 của BLHS.

[5]. Đối với Hoàng Kim H: Bị cáo là tham gia trong vụ án này có phần hạn chế với vai trò là giúp sức. Bị cáo có nhân thân xấu. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ là: Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; thành khẩn khai báo. Người bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo. Các tình tiết này quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 của BLHS.

[6] Từ những phân tích trên, HĐXX chấp nhận toàn ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên. Xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội do từng bị cáo thực hiện nhằm mục đích giáo dục, cải tạo các bị cáo nói riêng đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung.

[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS

Tuyên tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động cảm ứng hiệu SAMSUNG A35, mặt ngoài ốp điện thoại được dán hình con rồng màu trắng xanh là phương tiện liên lạc bị cáo N sử dụng vào việc phạm tội.

T1 tịch thu tiêu huỷ 01 sim điện thoại số 0935.751.28 bị cáo dùng làm phương tiện liên lạc trong vụ án do không còn giá trị sử dụng.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xử lý những vật chứng, tài sản khác liên quan đến vụ án theo đúng quy định pháp luật nên HĐXX không xem xét.

[8] Về trách nhiệm dân sự và những vấn đề khác: Bị hại không yêu cầu nên HĐXX không xét. Những vấn đề khác có liên quan trong vụ án đã được Cơ quan điều tra xử lý trong quá trình giải quyết vụ án nên HĐXX không xét.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[10] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà phù hợp với những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên HĐXX chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS.

Tuyên bố:

Các bị cáo Nguyễn Hải N, Hoàng Kim H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải N 01(một) năm 03 (ba) tháng tù.
  • Áp dụng Điều 56 của BLHS. Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm tù của Bản án 20/2025/HSST ngày 26/02/2025 của Toà án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hoà
  • Buộc bị cáo Nguyễn Hải N phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 09/12/2024.
  • Xử phạt bị cáo Hoàng Kim H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 15/12/2024.

Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điều Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS

Tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động cảm ứng hiệu SAMSUNG A35, mặt ngoài ốp điện thoại được dán hình con rồng màu trắng xanh.

T1 tịch thu tiêu huỷ 01 sim điện thoại số 0935.751.28.

Các vật chứng đang bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Bắc theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/02/2025 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Bắc với Công an huyện T.

Về án phí:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Hải N phải chịu 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Hoàng Kim H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo,bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 16/4/2025). Riêng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, niêm yết, tống đạt bản án hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Thuận Bắc;
  • - Công an huyện tỉnh Ninh Thuận
  • - Bị cáo; Bị hại; NCQNVLQ;
  • - CCTHADS huyện Thuận Bắc;
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Thuận;
  • - Hồ sơ THAHS;
  • - Lưu (hồ sơ, án văn).

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Ngô Minh Đăng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC - TỈNH NINH THUẬN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 05/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC - TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo N V N phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger