|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 05/2025/HS-ST Ngày: 11-03-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Diệp Văn Vĩ.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Đức Thuỷ, Ông Ninh Văn Trung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Ngô Kiến Thuỵ, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 06/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 và thông báo thời gian mở lại phiên toà số 01/TB-TA ngày 27 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Tạ Văn N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1983, tại: huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Bố đẻ: Tạ Quốc H (đã chết); Mẹ đẻ: Lương Thị T (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị X, sinh năm 1984; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2004; Anh chị em ruột: có 07 anh chị em, bị can là con út.
Tiền sự: có 01 tiền sự. Tại Quyết định số 09/QĐ-XPHC ngày 04/3/2021 của Trưởng Công an xã T, huyện L xử phạt Tạ Văn N số tiền 1.500.000đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Đến nay Năm chưa nộp phạt số tiền trên.
Tiền án: có 02 tiền án:
- + Tại Bản án số 08/2017/HSST ngày 27/2/2017 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn xử phạt Tạ Văn N 02 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, phạt bổ sung 5.000.000 đồng xung quỹ nhà nước, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 01/02/2019, Năm chấp hành xong án phạt tù; Năm đã chấp hành 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.100.000 đồng tiền phạt bổ sung, còn lại số tiền 2.900.000 đồng Năm chưa chấp hành.
- + Tại Bản án số 78/2021/HSST ngày 29/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm”, xử phạt Tạ Văn N 01 năm 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 26/01/2023 Năm chấp hành xong hình phạt tù. Tính đến thời điểm phạm tội này Năm chưa được xóa án tích.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/11/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên toà).
* Bị hại: Cháu Lê Việt C, sinh ngày 03/10/ 2010 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Anh Lê Văn V, sinh năm 1987 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lê Văn V, sinh năm 1987 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Ông Trần Văn V1, sinh năm 1979 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã N, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.
* Người làm chứng: Cháu Ngô Duy B, sinh năm 2010 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn L, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 26/11/2024, cháu Lê Việt C, sinh ngày 03/10/2010, trú tại thôn T, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe máy điện nhãn hiệu Xmen, màu đỏ - xanh - đen đến cầu thuộc thôn C, xã T, huyện L để câu cá. Khi đến, cháu C để xe ở trên cầu sau đó xuống chân cầu để câu. Lúc này Tạ Văn N, sinh năm 1983, trú tại thôn C, xã T, huyện L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SANDABOSS, loại xe BOSSC50, biển số 98AE-044.97 đi qua, phát hiện thấy xe máy điện của cháu C đang dựng ở trên cầu không có ai trông giữ nên N đã nảy sinh ý định trộm cắp bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Năm dừng xe mô tô ở chân cầu rồi đi bộ đến chỗ dựng xe máy điện. Đến nơi, N lấy chìa khóa xe mô tô của N cắm vào ổ khóa xe máy điện thấy mở được khóa, Năm điều khiển xe máy điện đi theo hướng đi xã T. Lúc này cháu C phát hiện bị mất xe máy điện và có 01 chiếc xe mô tô để ở chân cầu nên cháu C đã dắt xe mô tô đến Công an xã T, huyện L trình báo. Còn Năm sau khi trộm cắp xe của cháu C đi được một đoạn thì N đỗ xe máy điện lại để ở lề đường rồi đi bộ quay lại lấy xe mô tô của Năm. Khi đến nơi Năm không thấy xe mô tô của mình đâu nên N đi bộ quay lại chỗ N để xe máy điện và điều khiển xe đến cửa hàng sắt vụn của gia đình ông Trần Văn V2, sinh năm 1979, ở thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang bán cho ông V2 được 700.000 đồng. Số tiền bán xe Năm chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 26/11/2024, anh Lê Văn V, sinh năm 1987 trú tại thôn T, xã G, huyện L (là bố của cháu Lê Việt C) có đơn trình báo Công an xã T, huyện L về việc bị mất chiếc xe máy điện nêu trên.
Cùng ngày 26/11/2024 Công an xã T kiểm tra chiếc xe mô tô nhãn hiệu SANDABOSS, màu sơn Nâu, số khung RMNDCB1N4LH002161, số máy VHL139FMBSD1002161, biển kiểm soát 98AE-044.97 (xe do cháu C giao nộp). Qua kiểm tra phát hiện bên trong cốp xe mô tô trên có 01 ví da màu đen, bên có: 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên Tạ Văn N; 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy Biển kiểm soát 98AE-004.97; 01 (một) Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù ngày 26/01/2023 của Trại tạm giam Thanh Phong đối với Tạ Văn N.
Ngày 28/11/2024, Tạ Văn N đến Công an xã T, huyện L đầu thú khai nhận hành vi trộm cắp chiếc xe máy điện của cháu C và giao nộp: 01 (một) chìa khóa xe mô tô có chữ và số A513, một đầu bằng nhựa, một đầu bằng kim loại là chìa khóa của xe mô tô biển kiểm soát 98AE-044.97; 01 (một) chiếc quần màu đen, 01 (một) chiếc khẩu trang màu trắng, 01 (một) chiếc mũ bảo hiểm là trang phục Năm đã mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cùng ngày Công an xã T chuyển hồ sơ và bàn giao Tạ Văn N cho Cơ quan CSĐT Công an huyện L để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 29/11/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện L tiến hành khám nghiệm hiện trường, vẽ sơ đồ, chụp ảnh hiện trường nơi xảy ra vụ án.
Ngày 29/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang ra Yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc xe máy điện Năm đã trộm cắp nêu trên. Tại Kết luận định giá tài sản số 129/KL-HĐĐGTS ngày 02/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 xe máy điện nhãn hiệu XMEN ESPERO, màu đỏ xanh đen trị giá 2.200.000 đồng (hai triệu hai trăm nghìn đồng).
Đối với ông Trần Văn V2 là người mua xe máy điện do Năm mang đến bán. Quá trình điều tra xác định khi mua số tài sản trên ông V2 không biết đó là tài sản Năm trộm cắp mà có. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối ông V2.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu SANDABOSS, màu sơn Nâu, biển kiểm soát 98AE-044.97 Năm sử dụng đi trộm cắp tài sản, quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1984 (là vợ của N), chị X không biết N sử dụng xe vào mục đích phạm tội, do đó cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với chị X.
* Từ những nội dung nêu trên, bản Cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 10 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Tạ Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa, bị cáo Tạ Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố. Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của những người vắng mặt. Bị cáo không có ý kiến gì về lời khai của những người này.
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Tạ Văn N, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Tạ Văn N từ 02 (hai) năm tù Đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 28/11/2024). Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu đề nghị bồi thường gì. Ông với Trần Văn V2 không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 700.000 đồng ông đã bỏ ra mua xe.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng các Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- + Đối với tài sản, đồ vật tạm giữ của N gồm: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SANDABOSS, màu sơn Nâu, biển kiểm soát 98AE-044.97; 01 (một) đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 98003370 của Công an huyện L đối với xe mô tô biển kiểm soát 98AE-044.97; 01 (một) chìa khóa xe mô tô có chữ và số A513, một đầu bằng nhựa, một đầu bằng kim loại. Đây là tài sản cá nhân của chị X không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho chị Nguyễn Thị X.
- + Đối với 01 căn cước công dân số 04083017243 mang tên Tạ Văn N không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo.
- + Tịch thu, tiêu huỷ đối với 01 (một) ví da màu đen; 01 (một) chiếc quần màu đen; 01 (một) chiếc khẩu trang màu trắng; 01 (một) chiếc mũ bảo hiểm được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn.
- Ngoài ra còn đề nghị án phí và quyền kháng cáo.
Bị cáo không tranh luận gì đối với bản luận tội của Viện kiểm sát.
Thực hiện lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng. Hội đồng xét xử thấy trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai thể hiện quan điểm của những người này và sự vắng mặt của họ không gây ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.
[3] Tại phiên toà Tạ Văn N đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng khác, kết luận định giá tài sản, biên bản xác định hiện trường cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 26/11/2024, tại thôn C, xã T, huyện L, Tạ Văn N đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe máy điện nhãn hiệu Xmen, màu đỏ xanh đen, trị giá 2.200.000 đồng của cháu Lê Việt C, sinh ngày 03/10/2010. Sau khi trộm cắp được tài sản Năm đã mang bán lấy tiền tiêu sài cá nhân hết. Tại Bản án số 78/2021/HSST ngày 29/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm”, xử phạt Tạ Văn N 01 năm 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 26/01/2023 Năm chấp hành xong hình phạt tù, tính đến thời điểm phạm tội bị cáo chưa được xoá án tích. Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” là tình tiết định khung tăng nặng. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định, bị cáo Tạ Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy, bản cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 10/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà là có căn cứ xem xét chấp nhận.
[4] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Quyền sở hữu tài sản của mọi công dân được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tại thời điểm phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực, trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Bị cáo đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng bản chất lười lao động, thích hưởng thụ, không tu dưỡng rèn luyện đạo đức của mình mà tiếp tục lợi dụng sự sơ hở và mất cảnh giác của người khác để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây bức xúc cho nhân dân và ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.
[5] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
Tiền sự: Tại Quyết định số 09/QĐ-XPHC ngày 04/3/2021 của Trưởng Công an xã T, huyện L xử phạt Tạ Văn N số tiền 1.500.000đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Đến nay Năm chưa nộp phạt số tiền trên.
Tiền án: có 02 tiền án:
- + Tại Bản án số 08/2017/HSST ngày 27/2/2017 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn xử phạt Tạ Văn N 02 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, phạt bổ sung 5.000.000 đồng xung quỹ nhà nước, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 01/02/2019, Năm chấp hành xong án phạt tù; Năm đã chấp hành 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.100.000 đồng tiền phạt bổ sung, còn lại số tiền 2.900.000 đồng Năm chưa chấp hành.
- + Tại Bản án số 78/2021/HSST ngày 29/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm”, xử phạt Tạ Văn N 01 năm 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 26/01/2023 Năm chấp hành xong hình phạt tù. Tính đến thời điểm phạm tội này Năm chưa được xóa án tích.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của cháu Lê Việt C, sinh ngày 03/10/2010 thời điểm này cháu C 14 tuổi 23 ngày. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng tình tiết tăng nặng là “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là phù hợp với tính chất, hành vi của bị cáo gây ra.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt khi lượng hình, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa nhưng phải áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo học tập, cải tạo thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 (hai) năm tù, đến 02 (hai) 06 (sáu) tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người coi thường pháp luật, nhiều lần bị kết án về hành vi “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân, bị cáo nhận thức rõ hành vi nhưng cố tình thực hiện. Do đó mức đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn là tương xứng với hành vi phạm tội đã gây ra cần xem xét và chấp nhận.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Cháu Lê Việt C do anh Lê Văn V đại diện hợp pháp đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu đề nghị gì. Ông Trần Văn V2 là người bỏ số tiền 700.000đồng mua chiếc xe của bị cáo trộm cắp bán không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung bị cáo, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.
[8] Về vật chứng của vụ án:
- + Ngày 24/01/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho anh Lê Văn V chiếc xe máy điện là có căn cứ.
- + Đối với tài sản, đồ vật tạm giữ của N gồm: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SANDABOSS, màu sơn Nâu, biển kiểm soát 98AE-044.97; 01 (một) đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 98003370 của Công an huyện L đối với xe mô tô biển kiểm soát 98AE-044.97; 01 (một) chìa khóa xe mô tô có chữ và số A513, một đầu bằng nhựa, một đầu bằng kim loại đây là tài sản của chị Nguyễn Thị X (là vợ bị cáo), khi lấy xe chị X không không biết bị cáo lấy xe để thực hiện hành vi phạm tội của mình lên cần trả lại cho chị Nguyễn Thị X.
- - Đối với 01 (một) căn cước công dân số 04083017243 mang tên Tạ Văn N đây là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo.
- - Đối với 01 (một) ví da màu đen; 01 (một) chiếc quần màu đen; 01 (một) chiếc khẩu trang màu trắng; 01 (một) chiếc mũ bảo hiểm đây là tài sản cá nhân của bị cáo không sử dụng vào mục đích phạm tội, giá trị thấp, bị cáo không đề nghị xin lại nên cần tịch thu, tiêu huỷ.
[9] Những vấn đề khác trong vụ án:
- + Đối với ông Trần Văn V2 là người mua xe máy điện do Năm mang đến bán. Quá trình điều tra xác định khi mua số tài sản trên ông V2 không biết đó là tài sản Năm trộm cắp mà có. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối ông V2 là có căn cứ.
- + Đối với chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1984 (là vợ của N), chị X không biết N sử dụng xe vào mục đích phạm tội, do đó cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với chị X là có căn cứ.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dung điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38; 47; 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; các Điều 106; 260; 268; 269; 290; 292; 293; 299; 331; 332 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:
- Về trách nhiệm hình sự:
Xử phạt bị cáo Tạ Văn N 02 (hai) 05 (năm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (28/11/2024).
- Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự:
Không.
- Xử lý vật chứng:
Trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SANDABOSS, màu sơn Nâu, biển kiểm soát 98AE-044.97; 01 (một) đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 98003370 của Công an huyện L đối với xe mô tô biển kiểm soát 98AE-044.97; 01 (một) chìa khóa xe mô tô có chữ và số A513, một đầu bằng nhựa, một đầu bằng kim loại cho chị Nguyễn Thị X.
- - Trả lại chị bị cáo Tạ Văn N 01 (một) căn cước công dân số 04083017243 mang tên Tạ Văn N.
- - Tịch thu, tiêu huỷ 01 (một) ví da màu đen; 01 (một) chiếc quần màu đen; 01 (một) chiếc khẩu trang màu trắng; 01 (một) chiếc mũ bảo hiểm.
- Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo Tạ Văn N phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Diệp Văn Vĩ |
Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 05/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tạ Văn N - Trộm cắp tài sản
