Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HỚN QUẢN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 05/2025/HS-ST

Ngày 05 – 3 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Học

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Quốc Vượng

2. Ông Trần Trọng Vĩnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2025/HSST ngày 11 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HS ngày 19/02/2025 đối với bị cáo:

Lê P, sinh năm 1999, tại: tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12.

Nơi đăng ký thường trú: Thôn S, xã L, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Con ông Lê H và bà Lê Thị T; Bị cáo có 5 chị em, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất là bị cáo; Bị cáo có vợ tên Phạm Thị Thu C, sinh năm 2001; Bị cáo có 01 con tên Lê Thảo M, sinh năm 2024.

Tiền sự, tiền án: Không.

Ngày 03/06/2024 có hành vi đưa ra thông tin gian dối để chiếm đoạt số tiền 15.000.000 đồng của anh Đ Hội tại ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.

Ngày 25/11/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/11/2024 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Điểu H1, sinh năm: 1989: Nơi cư trú: Tổ F, ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Lê H, sinh năm 1955 (Vắng mặt); Bà Lê Thị T, sinh năm 1956 (Có mặt); cùng cư trú tại: Thôn S, xã L, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê P và Điểu Hội là bạn bè ngoài xã hội, thông qua môi giới mua bán đất. Ngày 25/3/2024, Lê P hỏi mượn Hội số tiền 350.000.000 đồng, mỗi tháng P phải trả cho H1 số tiền lãi là 5.000.000 đồng, nghe vậy Hội đồng ý cho P mượn.

Sau khi mượn được số tiền 350.000.000 đồng, P đã tiêu xài cá nhân và trả nợ hết số tiền trên. Trong khoảng thời gian từ tháng 03/2024 đến tháng 8/2024, P đã thuê 01 chiếc xe ô tô biển kiểm soát 93A – 406.74, nhãn hiệu Toyota Fortuner, màu trắng của anh Phạm Mạnh C1 để đi lại; đồng thời P cũng khẳng định với Điểu Hội đây là xe ô tô của P.

Ngày 05/5/2024, P nhắn tin qua tài khoản Zalo của Đ Hội có tên “Khoi Đen” đưa ra thông tin gian dối về việc P điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 93A – 406.74 xảy ra va chạm giao thông với xe ô tô nhãn hiệu Mercedes và bị Công an huyện H giữ xe cùng giấy tờ xe; đồng thời P hỏi mượn Hội số tiền 30.000.00 đồng để đóng phạt nhưng H1 không cho P mượn. Do cần tiền tiêu xài, P nhiều lần gọi điện thoại, nhắn tin hỏi mượn tiền Hội để đóng phạt. Hội yêu cầu P chụp hình biên bản vi phạm giao thông gửi cho Hội xem nhưng P nói do P không ký tên vào biên bản vi phạm nên không được giữ biên bản. Sau đó, P tiếp tục hỏi mượn Hội số tiền 20.000.000 đồng để lấy giấy tờ xe ra để bán xe lấy tiền trả nợ cho H1, nghe P nói vậy, Hội tin tưởng đồng ý cho P mượn số tiền 15.000.000 đồng.

Ngày 03/6/2024, H1 đi đến nhà của Hoàng Tuấn T1, sinh năm: 1995, ngụ tổ F, ấp S, xã T, huyện H để mượn T1 tiền và nói T1 chuyển số tiền 15.000.000 đồng cho Lê Phi . T1 đồng ý và dùng số tài khoản ngân hàng E, Ngân hàng A, tên HOANG TUAN THANH chuyển số tiền 15 triệu đồng vào số tài khoản 1043234817 của Ngân hàng V, mang tên LE PHI. P đã nhận được số tiền 15.000.000 đồng và tiều xài hết.

Sau nhiều lần, H1 yêu cầu P trả số tiền 350.000.000 đồng mượn trước đó và 15.000.000 đồng mượn vào ngày 03/6/2024, nhưng P nói đã bị vỡ nợ, không có tiền để trả cho H1. Đến khoảng giữa tháng 7/2024, H1 biết xe ô tô nhãn hiệu Toyota Fortuner, biển kiểm soát 93A – 406.74 không phải của P nên làm đơn tố giác tội phạm gửi đến Công an huyện H.

Quá trình điều tra xác minh tại Đội CSGT Công an huyện H xác định xe ô tô biển kiểm soát 93A – 406.74, nhãn hiệu Toyota Fortuner, màu trắng là tài sản của anh Phạm Mạnh C1, sinh năm: 1995, nơi thường trú: tổ B, khu phố T, thị trấn T, huyện H đứng tên chủ sở hữu. Trong thời gian từ ngày 05/5/2024 đến ngày 07/5/2024, Đội CSGT-TTCĐ Công an huyện H không tiếp nhận, giải quyết vụ việc tai nạn giao thông nào liên quan đến xe ô tô biển kiểm soát 93A-406.74.

Tại Cơ quan điều tra, Lê P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ của vụ án: Không.

Trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, gia đình Lê P đã trả cho Đ Hội số tiền 90.000.000 đồng (trong đó có 15 triệu khắc phục hậu quả), số tiền 275.000.000 đồng còn lại, gia đình Lê Phi thay P trả tiền cho H1. Điểu Hội đồng ý và không có yêu cầu gì khác về vấn đề dân sự nên Viện kiểm sát không đề cập đến.

Đối với hành vi Lê Phi M1 số tiền 350.000.000 đồng của Điểu Hội vào ngày 25/3/2024, thời gian mượn là 04 tháng, được thể hiện bằng hợp đồng cho vay tiền và có trả lãi suất. Đây là quan hệ dân sự, do vậy Viện kiểm sát không đề cập đến trong vụ án này.

Cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 10 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Lê P về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 174; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lê Phi M2 hình phạt từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách của án treo từ 24 đền 30 tháng.

Về trách nhiệm dân sự. Trước khi mở phiên tòa bị hại Điểu Hội và bị cáo Lê P và ông Lê H, bà Lê Thị T (cha, mẹ ruột bị cáo) đã thống nhất về trách nhiệm dân sự và không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không giải quyết.

Bà Lê Thị T đại diện gia đình bị cáo đã thay bị cáo Lê P bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại số tiền 15.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo Lê Phi T2 lại nên đề nghị không xem xét.

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại Điểu H1 và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê H vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã có lời khai và các lời khai này phù hợp với lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên việc vắng những người này không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng bị hại và người có quyền và nghĩa vụ liên quan; khi cần thiết Hội đồng xét xử xẻ công bố bản khai tại phiên tòa.

[2] Căn cứ vào lời khai thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố được công khai tại phiên tòa, lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

Để tạo sự tin tưởng cho Điểu H1, P đã thuê 01 xe ô tô biển kiểm soát 93A –406.74 của anh Phạm Mạnh C1 để đi lại; đồng thời nói cho Hội biết đây là xe ô tô của P. Ngày 05/5/2024, Lê P đã đưa ra thông tin gian dối về việc P điều khiển xe ô tô xảy ra va chạm giao thông và bị Công an giao thông huyện H giữ xe nên mượn Điểu Hội số tiền 15.000.000 đồng để nộp phạt và lấy xe ra, sau khi lấy xe ra sẽ bán xe trả tiền cho Điểu H1. Đến ngày 03/6/2024, Điểu Hội tin tưởng đã cho P mượn số tiền 15.000.000 đồng. Nhận được tiền, P đã tiêu xài hết. Trong quá trình điều tra, xác minh xe ô tô biển kiểm soát 93A–406.74 là của anh Phạm Mạnh C1 đứng tên chủ sở hữu. Trong khoảng thời gian từ ngày 05/5/2024 đến ngày 07/5/2024, Đội CSGT Công an huyện H không tiếp nhận, giải quyết vụ việc tai nạn giao thông nào liên quan đến xe ô tô trên.

Do vậy hành vi trên của Lê P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 10 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Lê P về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” như các điều luật viện dẫn trên là có căn cứ, phù hợp pháp luật.

[3] Xét hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện cho thấy bị cáo chưa có ý thức chấp hành pháp luật. Hành vi của bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi bị cáo đã thực hiện.

Tuy nhiên, sau khi phạm tội Bị cáo tác động gia đình bồi thường, khắc phục toàn bộ thiệt hại cho bị hại (bồi thường được số tiền 15.000.000 đồng); thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo là lao động chính trong gia đình, nuôi con nhỏ (sinh năm 2024) nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, không áp dụng hình phạt tù bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội và không thuộc trường hợp không cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 3 Nghị quyết 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân Tối cao nên bị cáo đủ điều kiện hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì khác về vấn đề dân sự nên không đề cập đến.

Đối với hành vi Lê Phi M1 số tiền 350.000.000 đồng của Điểu Hội vào ngày 25/3/2024, thời gian mượn là 04 tháng, được thể hiện bằng hợp đồng cho vay tiền và có trả lãi suất. Đây là quan hệ dân sự, do vậy không đề cập đến trong vụ án này.

[6] Xử lý vật chứng: Vật chứng vụ án không thu giữ nên không xử lý.

[7] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

[8] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2. Điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 174; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Nghị quyết 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân Tối cao.

Xử phạt bị cáo Lê Phi hình P1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách của án treo là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án (05/3/2025)

T3 trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.

Giao bị cáo Lê P cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q:

Bị cáo Lê P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Bị cáo, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - Phòng HSNC CA tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Hớn Quản;
  • - Công an huyện Hớn Quản;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - Chi cục THADS huyện Hớn Quản;
  • - Ủy ban nhân dân xã Láng Lớn,
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu: TA, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Đình Học

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 05/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: a
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger