Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIM ĐỘNG

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HS - ST

Ngày: 04/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG - TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Quyền.
  • - Các hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Quang Nguyên và bà Vũ Thị Liên.
  • - Thư ký phiên toà: Bà Phan Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Động.
  • - Đại diện VKSND huyện tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Y – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Động, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 08/2025/TLST- HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST - HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Quàng Văn T, sinh năm 1995 tại Sơn La; Sinh trú quán: Bản Pậu, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 3/12; Con ông: Quàng Văn T1, sinh năm 1962; Con bà: Lò Thị K, sinh năm 1978; Vợ: Lò Thị T2; có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2016.

Tiền sự: Không có

Tiền án:

  • Bản án số 51/2020/HS-ST ngày 09/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La, xử phạt Quàng Văn T 10 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản. Ngày 12/4/2021, chấp hành xong hình phạt tù.
  • Bản án số 69/2023/HSST ngày 22/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, xử phạt Quàng Văn T 02 năm tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 09/9/2024, chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/10/2024, chuyển tạm giam ngày 16/10/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H - Có mặt tại phiên tòa.

  • * Người bào chữa cho bị cáo Quàng Văn T: Ông Nguyễn Văn P – Luật sư thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H. Có mặt.
  • * Bị hại: Anh Đặng Tiểu B, sinh năm 1984; Trú tại: Thôn L, thị trấn L, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
  • * Người làm chứng: Anh Đặng Quốc P1, sinh năm 1985; Trú tại: Thôn L, thị trấn L, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Anh Đặng Quốc P1, sinh năm 1985 là em ruột của anh Đặng Tiểu B, sinh năm 1984, đều ở thôn L, thị trấn L, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Anh P1 và Quàng Văn T, sinh năm 1995 ở bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La, đã từng đi chấp hành án phạt tù cùng với nhau. Khoảng 20 giờ 15 phút, ngày 02/10/2024, T đến nhà anh P1 chơi để nhờ anh P1 xin việc làm. T không thấy có ai ở nhà và nhìn thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh trắng, biển số 89G1-082.21 của anh B để ở ngoài sân. T đi vào trong nhà, thấy chìa khóa xe để ở trên bàn, không thấy ai ở nhà nên đã nảy sinh ý định trộm chiếc xe mô tô trên nên T lấy chìa khóa, dắt xe mô tô ra ngõ rồi nổ máy điều khiển đi. T mang xe mô tô trên đi bán nhưng không bán được vì không có đăng ký xe. Đến chiều ngày 03/10/2024, T điều khiển chiếc xe mô tô trên đến khu vực cầu C thuộc địa phận thành phố Hà Nội để đón xe khách huyện Hưng Yên - M, để về nhà. Đến khoảng 4 giờ sáng, ngày 04/10/2024, T về đến bến xe khách huyện M thì điều khiển chiếc xe mô tô trên đi về nhà ở bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La.

Ngày 09/10/2024, anh B làm đơn trình báo về việc mất trộm chiếc xe mô tô nêu trên đến Công an thị trấn L, huyện K. Công an thị trấn L đã thu giữ đoạn video ghi hình T trộm cắp chiếc xe mô tô trên. Ngày 10/10/2024, Công an thị trấn L đã bàn giao toàn bộ hồ sơ tài liệu đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K để giải quyết theo thẩm quyền. Cùng ngày, Công an huyện K đã triệu tập T lên làm việc tại Công an huyện M, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao lại chiếc xe mô tô trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã cho T xác định hình ảnh trong đoạn camera thu giữ, T xác định chính là T đã trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh trắng, biển số 89G1-082.21 tại nhà anh P1.

Kết luận định giá tài sản số 73/KL-HĐĐGTS ngày 10/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện K, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 89G1-082.21 có giá trị tài sản là 7.000.000 đồng.

Kết luận giám định số 349/KL-KTHS(KTS) ngày 28/12/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh H, kết luận: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video gửi giám định.

Quá trình điều tra, bị cáo Quàng Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Về vật chứng: Đã làm rõ chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh trắng, biển số 89G1.082.21 là của anh Đặng Tiểu B nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả lại anh B.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Đặng Tiểu B không có yêu cầu gì về dân sự đối với T.

Tại bản cáo trạng số: 11/CT-VKSKĐ ngày 23/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động đã truy tố bị cáo Quàng Văn Thu về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

*Tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu.

* Đại diện VKSND huyện Kim Động trình bày lời luận tội giữa nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị HĐXX:

  • - Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Quàng Văn T.
  • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • - Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Quàng Văn T từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 10/10/2024.
  • - Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  • - Trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
  • - Về xử lý vật chứng: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
  • * Trợ giúp viên pháp lý ông Nguyễn Văn P bào chữa cho bị cáo Quàng Văn T phát biểu quan điểm: Đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kim Động, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại; người làm chứng và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được Cơ quan điều tra thu thập theo quy định của pháp luật. Như vậy HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 15 phút, ngày 02/10/2024 tại thôn L, thị trấn L, huyện K, tỉnh Hưng Yên, Quàng Văn T đã trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh trắng, biển số 89G1-082.21 của anh Đặng Tiểu B, có giá trị tài sản là 7.000.000 đồng. Tuy nhiên, ngày 09/9/2020 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La, xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và ngày 22/6/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Mặc dù bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù của cả hai bản án trên nhưng bị cáo phạm tội trong trường hợp đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội, do cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo được coi là tái phạm nguy hiểm. Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm sự, có đủ sức khỏe để lao động, làm việc nhưng vì ham chơi, lười lao động nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, bị cáo đã lén lút trộm cắp của anh Đặng Tiểu B 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh trắng, biển số 89G1-082.21 trị giá 7.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Mặc dù bị cáo đã bị Toà án xử phạt nhiều lần về tội “trộm cắp tài sải” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng bị cáo vẫn không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật. Vì vậy, để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội cần phải tuyên phạt bị cáo một hình phạt tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

  • * Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu. Ngày 09/9/2020, bị Toà án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xử phạt về tội Trộm cắp tài sản và ngày 22/6/2023, bị Toà án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên xử phạt về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  • * Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
  • * Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà mình đã gây nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Ngoài ra bị hại anh Đặng Tiểu B xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích trên, HĐXX nhận định về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS được áp dụng đối với bị cáo, HĐXX xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Trách nhiệm dân sự: Anh Đặng Tiểu B đã nhận lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh trắng, biển số 89G1-082.21 do bị cáo trộm cắp, anh B không có yêu cầu gì về TNDS nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[7] Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả lại anh Đặng Tiểu B 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh trắng, biển số 89G1-082.21 nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[8] Án phí: Bị cáo thuộc đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí sơ thẩm hình sự theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
    • * Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    • * Xử phạt bị cáo: Quàng Văn T 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 10/10/2024.
  2. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  3. Về Trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
  4. Về xử lý vật chứng: Không đặt ra giải quyết.
  5. Về án phí: Miễn án phí sơ thẩm hình sự cho bị cáo Quàng Văn T.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV và THA - Tòa án tỉnh;
  • - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ CA huyện;
  • - VKS + THA huyện;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ;

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Văn Quyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HS - ST ngày 04/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG - TỈNH HƯNG YÊN về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 05/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG - TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo 3 năm tù
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger