Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

Bản án số: 05/2025/HS-PT

Ngày: 07/02/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Quốc Thành.

Các Thẩm phán: Ông Đào Anh Đức.

Ông Lê Ngọc Lâm.

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:

Bà Lê Công Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 07/02/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 348/2024/TLPT-HS ngày 23/12/2024. Do Bản án hình sự sơ thẩm số 81/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXPT-HS ngày 06/01/2025, đối với:

* Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Bùi Thị T, tên gọi khác: Không - Sinh năm 1988, tại xã T, huyện T, Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Xuân H (SN 1963); Con bà Bùi Thị V (SN 1961); Chồng là: Nguyễn Trọng H1 (SN 1976); Có 02 con (lớn SN 2005, nhỏ SN 2008). Tiền án; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/6/2024 đến ngày 18/7/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” (có mặt).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Nguyễn Thị H2 (SN 1976 - vắng mặt).

    Địa chỉ: Thôn E, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

  2. Anh Bùi Văn S (SN 1992 - vắng mặt).

    Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

  3. Chị Bùi Thị T1 (SN 1983 - vắng mặt).

    Địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bùi Thị T (SN 1988), trú tại thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình, Nguyễn Thị H2 (SN 1976), trú tại thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Bùi Văn S (SN 1992), trú tại thôn D, xã T, T và Bùi Thị T1 (SN 1983), trú tại thôn M, xã T, T có mối quan hệ quen biết nhau từ trước. Trong những lần gặp gỡ, trao đổi với nhau, T đã nhiều lần cho Nguyễn Thị H2, Bùi Văn S, Bùi Thị T1 vay tiền với mức lãi suất 3.000 đồng/triệu/ngày. Khi cho những người trên vay tiền, T và người vay tiền thống nhất thỏa thuận miệng về mức lãi suất cho vay nên chỉ ghi số tiền cho vay trong giấy vay tiền hoặc hợp đồng vay tài sản mà không ghi mức lãi suất cho vay. Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được trong quãng thời gian từ tháng 12/2022 đến tháng 9/2023, T đã nhiều lần cho những người trên vay lãi nặng với số tiền, lãi suất cho vay cụ thể như sau:

1. Bùi Thị T đã cho Nguyễn Thị H2 vay 02 (hai) lần tiền, cụ thể:

- Lần thứ nhất: Vào chiều tối ngày 14/12/2022, do cần tiền để giải quyết công việc gia đình, chị Nguyễn Thị H2 có đến nhà Bùi Thị T để hỏi vay số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng). T đồng ý cho chị H2 vay số tiền nêu trên với lãi suất 3000đ/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 109,5%/01 năm. Sau đó T viết nội dung vay tiền vào trong 01 quyển sổ, yêu cầu chị H2 ký vào mục người vay, nội dung chỉ ghi số tiền vay, không ghi lãi suất, chị H2 không phải thế chấp tài sản. Sau khi làm xong thủ tục, T đưa tiền mặt cho chị H2. Với khoản vay nêu trên, hàng tháng chị H2 phải trả cho T số tiền lãi là 2.700.000đ (hai triệu bảy trăm nghìn đồng), có tháng chị H2 trả tiền lãi bằng tiền mặt, có tháng trả qua tài khoản ngân hàng. Chị H2 trả lãi liên tục cho T từ tháng 01/2023 đến hết tháng 05/2023 với tổng số tiền lãi là 13.500.000đ (mười ba triệu năm trăm nghìn đồng). Do hết khả năng trả lãi nên vào tháng 07/2023, chị H2 gặp T để xin trả mình tiền gốc, không trả tiền lãi nữa và được T đồng ý. Đến tháng 03/2024, chị H2 đã trả được hết tiền số tiền gốc 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) đã vay của chị T.

Số ngày mà bị cáo Bùi Thị T cho vay đến khi Nguyễn Thị H2 và Bùi Thị T thỏa thuận không tính tiền lãi nữa (ngày 14/7/2023) là: 212 ngày.

Số tiền lãi được thu tối đa = 30.000.000₫ x 20%/năm x 212 ngày = 3.484.930₫
365

(ba triệu bốn trăm tám tư nghìn chín trăm ba mươi đồng).

+ Số tiền thu lợi bất chính: 3000đ x 212 ngày x 30 - 3.484.930 đ = 15.595.070đ (mười lăm triệu năm trăm chín lăm nghìn không trăm bảy mươi đồng).

+ Số tiền thu lời bất chính thực tế đã thu: 10.015.070đ (mười triệu không trăm mười lăm nghìn không trăm bảy mươi đồng).

- Lần thứ hai: Ngày 27/01/2023, do cần tiền để giải quyết công việc gia đình, chị H2 tiếp tục đến nhà Bùi Thị T hỏi vay số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng). T đồng ý cho chị H2 vay số tiền nêu trên với lãi suất 3000đ/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 109,5%/01 năm. Sau đó T viết nội dung vay tiền vào trong 01 quyển sổ, yêu cầu chị H2 ký vào mục người vay, nội dung chỉ ghi số tiền vay, không ghi lãi suất, chị H2 không phải thế chấp tài sản. Sau khi làm xong thủ tục, T đưa tiền cho chị H2, trong đó đưa tiền mặt 5.000.000đ (năm triệu đồng) và chuyển khoản số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng), từ tài khoản của Bùi Thị T đến tài khoản của Nguyễn Thị H2. Với khoản vay nêu trên, hàng tháng chị H2 phải trả cho T số tiền lãi là 1.800.000đ (một triệu tám trăm nghìn đồng) có tháng chị H2 trả tiền lãi bằng tiền mặt, có tháng trả qua tài khoản ngân hàng. Chị H2 trả lãi liên tục cho T từ tháng 02/2023 đến hết tháng 05/2023 với tổng số tiền lãi là 7.200.000đ (bảy triệu hai trăm nghìn đồng). Do hết khả năng trả lãi nên vào tháng 07/2023, chị H2 gặp T để xin trả mình tiền gốc, không trả tiền lãi nữa và được T đồng ý. Hiện tại chị H2 vẫn đang nợ tiền gốc của khoản vay này.

- Số ngày mà bị cáo Bùi Thị T cho vay đến khi Nguyễn Thị H2 và Bùi Thị T thỏa thuận không tính tiền lãi nữa (ngày 27/7/2023) là 181 ngày (tính ngày đầu, bỏ ngày cuối của thời hạn tính lãi)

Số tiền lãi được thu tối đa = 20.000.000₫ x 20%/năm x 181 ngày = 1.983.561₫
365

(một triệu chín trăm tám ba nghìn năm trăm sáu mốt đồng).

+ Số tiền thu lợi bất chính:3000đ x 181 ngày x 20 - 1.983.561đ = 8.876.439₫ (tám triệu tám trăm bảy mươi sáu nghìn bốn trăm ba mươi chín đồng)

+ Số tiền thu lời bất chính thực tế T đã thu: 5.216.439đ (năm triệu hai trăm mười sáu nghìn bốn trăm ba mươi chín đồng).

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ thu thập được xác định, Nguyễn Thị H2 đã vay của Bùi Thị T Số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) cho hai lần vay, chị H2 đã trả cho Bùi Thị T số tiền 20.700.000đ tiền lãi và 30.000.000đ tiền gốc, nợ lại Trinh 20.000.000đ tiền gốc. Số tiền lãi thu lợi bất chính mà T phải chịu trách nhiệm hình sự xác định là 24.471.509đ, trong đó theo quy định của BLDS chị H2 chỉ phải trả tổng tiền lãi là 4.468.497đ. Thực tế T đã thu lời bất chính số tiền là 15.231.509 đ.

2. Bùi Thị T đã cho Bùi Văn S vay cụ thể:

Vào ngày 20/01/2023, do cần tiền để giải quyết công việc gia đình nên anh Bùi Văn S và vợ là Lê Thị M (SN 1992), trú cùng thôn D, xã T, huyện T đến nhà Bùi Thị T để hỏi vay số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng). T đồng ý cho vợ chồng anh S vay số tiền nêu trên với lãi suất 3000đ/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 109,5%/01 năm. Sau đó T yêu cầu vợ chồng anh S phải viết nội dung vay tiền vào trong 01 quyển sổ và ký vào mục người vay, nội dung chỉ ghi số tiền vay, không ghi lãi suất. T yêu cầu vợ chồng anh S phải thế chấp 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy CNQSD đất) để làm tin. Vợ chồng anh S đồng ý và đã thế chấp giấy CNQSD đất số C0473168 mang tên Bùi Thị D (là mẹ của anh S) do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 20/06/2018. Sau khi làm xong thủ tục, T đưa tiền mặt 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) và chuyển số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) từ tài khoản của T đến tài khoản của anh S. Với khoản vay nêu trên, hàng tháng anh S phải trả cho T số tiền lãi là 4.500.000₫ (bốn triệu năm trăm nghìn đồng), có tháng anh S trả tiền lãi bằng tiền mặt, có tháng trả qua tài khoản ngân hàng. Anh S trả lãi đầy đủ, liên tục cho T từ tháng 02/2023 đến hết tháng 01/2024, mỗi tháng trả 4.500.000đ (bốn triệu năm trăm nghìn đồng), với tổng số tiền lãi là 49.500.000đ (bốn chín triệu năm trăm nghìn đồng). Từ tháng 02/2024 trở đi anh S thỉnh thoảng có trả lãi cho T nhưng không đầy đủ, anh S không chuyển tiền lãi cho T bằng tài khoản ngân hàng. Đến nay, anh S vẫn chưa trả tiền gốc cho T.

- Số ngày mà Bùi Thị T cho vay đến khi bị Cơ quan Công an phát hiện (ngày 14/6/2024) là: 510 ngày.

Số tiền lãi được thu tối đa = 50.000.000₫ x 20%/năm x 510 ngày = 13.972.603₫
365

(mười ba triệu chín trăm bảy mươi hai nghìn sáu trăm linh ba đồng).

+ Số tiền thu lợi bất chính: 3000đ x 510 ngày x 50 - 13.972.630₫ = 62.527.397đ (sáu mươi hai triệu năm trăm hai mươi bảy nghìn ba trăm chín mươi bảy đồng).

+ Số tiền thu lời bất chính thực tế T đã thu: 35.527.397đ (ba lăm triệu năm trăm hai bảy nghìn ba trăm chín bảy đồng).

3. Bùi Thị T đã cho Bùi Thị T1 vay 01 (một) lần, cụ thể:

Vào ngày 12/7/2023, do cần tiền để giải quyết công việc gia đình, chị T1 có đến nhà T để hỏi vay số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng). T đồng ý cho T1 vay số tiền nêu trên. T và T1 thống nhất mức lãi suất 3000đ/01 triệu/01 ngày, tương ứng lãi suất 109,5%/01 năm. Sau đó T viết nội dung vay tiền vào trong 01 quyển sổ, nội dung chỉ ghi số tiền vay, không ghi lãi suất, chị T1 không phải thế chấp tài sản. Sau khi làm xong thủ tục, T đưa tiền cho chị T1 thành 02 lần, có cả đưa tiền mặt và chuyển khoản từ tài khoản của Bùi Thị T đến tài khoản của Bùi Thị T1. Với khoản vay nêu trên, hàng tháng chị T1 phải trả cho T số tiền lãi là 4.500.000đ (bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Mặc dù T không thừa nhận việc chị T1 trả lãi cho T, nhưng căn cứ vào các tài liệu chứng có trong hồ sơ vụ án, có thể xác định chị T1 trả lãi liên tục cho T vào tháng 7/2023 số tiền là 4.700.000đ; tháng 8/2023 số tiền là 3.750.000đ; tháng 9/2023 số tiền là 5.000.000đ. Tổng số tiền lãi mà chị T1 đã trả cho T là 13.450.000đ (mười ba triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng). Đến tháng 10/2023 do hết khả năng trả lãi nên chị T1 không trả tiền lãi cho T nữa; chị T1 đã trả cho chị T 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) tiền gốc. Do chị T1 không trả lãi cho T nên từ tháng 01/2024 T không tính lãi của khoản vay 30.000.000₫ mà chị T1 còn nợ T. Hiện tại chị T1 còn nợ T số tiền gốc là 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng).

Đối với khoản vay mà Bùi Thị T cho Bùi Thị T1 vay số tiền 50.000.000₫ (năm mươi triệu đồng).

- Số ngày mà Bùi Thị T cho vay đến thời điểm T và T1 thống nhất thành khoản vay mới: 91 ngày.

Số tiền lãi được thu tối đa = 50.000.000₫ x 20%/năm x 91 ngày = 2.493.150đ.
365

(hai triệu bốn trăm chín mươi ba nghìn một trăm năm mươi đồng).

+ Số tiền thu lợi bất chính: 3000đ x 91 ngày x 50 - 2.493.150đ = 11.156.850₫ (mười một triệu một trăm năm mươi sáu nghìn tám trăm năm mươi đồng)

+ Số tiền thu lời bất chính thực tế T đã nhận: 10.956.850đ (mười triệu chín trăm năm mươi sáu nghìn tám trăm năm mươi đồng)

Còn lại 30.000.000đ tiền gốc Bùi Thị T tiếp tục tính lãi suất 3000đ/01 triệu/01 ngày từ tháng 10/2023 đến tháng 01/2024. (thời gian vay là 91 ngày). Sau đó T không tính lãi cho chị T1 nữa.

Số ngày mà Bùi Thị T cho vay sau đó đến 01/2024 T và T1 thống nhất không lấy lãi ở khoản vay này nữa là: 91 ngày.

Số tiền lãi được thu tối đa = 30.000.000₫ x 20%/năm x 91 = 1.495.890₫
365

(một triệu bốn trăm chín mươi lăm nghìn tám trăm chín mươi đồng)

+ Số tiền thu lợi bất chính: 3000đ x 91 ngày x 30 - 1.495.890đ = 6.694.110₫ (sáu triệu sáu trăm chín mươi tư nghìn một trăm mười đồng)

Do khoản vay này chị T1 chưa trả lãi cho T nên xác định T chưa thu được tiền thu lời bất chính.

* Các tình tiết và người liên quan khác:

- Ngoài những lần cho người khác vay tiền phải chịu trách nhiệm hình sự, Bùi Thị T còn có hành vi cho chị Bùi Thị Thu H3 (SN 1983) trú tại thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình vay tiền với lãi suất 2.000đ/triệu/ngày. Kết quả điều tra xác định mức lãi suất này chỉ gấp 3,65 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Lần cho người khác vay tiền tính lãi này của Bùi Thị T không cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại Điều 201 Bộ luật Hình sự. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã chuyển toàn bộ tài liệu có liên quan đến Công an huyện T để tiếp tục xác minh và xử phạt vi phạm hành chính đối với Bùi Thị T theo quy định của pháp luật.

- Xác minh về điều kiện tài sản, thu nhập của bị cáo xác định bị cáo là lao động tự do, làm trang trại, mỗi tháng thu nhập bình quân khoảng 6.000.000đ (sáu triệu đồng), hiện có tài sản chung với chồng là một ngôi nhà cấp 4 được xây dựng trên diện tích đất ở là 140 m², ngoài ra không có tài sản chung riêng gì đáng kể.

* Về vật chứng vụ án:

Quá trình điều tra, Cơ quan Điều tra đã thu giữ: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu SamSung A03, vỏ màu đen, số IMEI 1: 351389782542775/01; số IMEI 2: 353229532542771/01; 01 (một) giấy CNQSD đất số C0473168 mang tên Bùi Thị D do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 20/06/2018; 29.600.000đ (hai chín triệu sáu trăm nghìn đồng); 03 (ba) nhẫn vàng; 02 (hai) dây chuyền vàng; 01 (một) lắc tay vàng; 02 (hai) quyển vở kẻ ngang có bìa, bên ngoài bìa có chữ “Trường THPT N”; 01 (một) quyển vở kẻ ngang có bìa, bên ngoài bìa có chữ “New Way Notebook”. 01 (một) quyển vở kẻ ngang không có bìa, trang đầu tiên của quyển sổ có dòng chữ “Sổ nợ”.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A03, vỏ màu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 giấy CNQSD đất số C0473168 mang tên Bùi Thị D do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 20/06/2018; số tiền 29.600.000đ (hai chín triệu sáu trăm nghìn đồng); 03 (ba) nhẫn vàng; 02 (hai) dây chuyền vàng; 01 (một) lắc tay vàng thu giữ của Bùi Thị T được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thạch Thành bảo quản, chờ xử lý. Đối với các vật chứng còn lại được chuyển kèm theo hồ sơ vụ án theo quy định.

Tại Bản án sơ thẩm số 81/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa đã tuyên bị cáo Bùi Thị T phạm “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự ”. Áp dụng khoản 2 Điều 201; Điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự (BLHS); Xử phạt tiền Bùi Thị T số tiền 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng). Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định truy thu, tịch thu số tiền dùng để cho vay, tiền thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong hạn luật định, ngày 18/11/2024, bị cáo Bùi Thị T có đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt tiền cho bị cáo ở mức thấp nhất hoặc được cải tạo không giam giữ và phạt bổ sung mức 30.000.000đ. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo rút phần kháng cáo xin cải tạo không giam giữ và phạt bổ sung, vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin phạt tiền ở mức thấp nhất của khung hình phạt, thừa nhận hành vi phạm tội của mình là đúng người, đúng tôi như Bản án sơ thẩm đã tuyên.

Cũng tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Thanh Hóa sau khi phân tích tính chất vụ án, nhân thân, điều kiện, hoàn cảnh gia đình, hành vi phạm tội của các bị cáo cũng như tình tiết mới được bổ sung tại phiên tòa đã đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt tiền của bị cáo Bùi Thị T, giảm mức phạt tiền cho bị cáo. Phạt bị cáo từ 200.000.000₫ đến 250.000.000₫.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Xét về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn của bị cáo trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 333 BLTTHS, nên đơn kháng cáo được coi là hợp pháp. Do vậy, HĐXX chấp nhận đơn của bị cáo để xem xét nội dung kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đều thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình cụ thể:

Xuất phát từ động cơ vụ lợi, muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên trong thời gian từ tháng 01/2022 đến tháng 5/2024, Bùi Thị T đã cho Nguyễn Thị H2, Bùi Văn S, Bùi Thị T1 vay tổng số tiền 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng) với mức lãi suất gấp từ 5,475 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính số tiền 104.849.866đ (một trăm lẻ bốn triệu tám trăm bốn chín nghìn tám trăm sáu sáu đồng). Trong đó, số tiền thu lời bất chính thực tế T đã thu là 61.715.756đ (sáu mốt triệu bảy trăm mười lăm nghìn bảy trăm năm sáu đồng).

[2.1] Lời thừa nhận về hành vi phạm tội của bị cáo tại cấp phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại cấp sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra tại phiên tòa nên hành vi của bị cáo đã cấu thành “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự (BLHS). Cấp sơ thẩm đã xác định tội danh và khung hình phạt cho bị cáo như trên là có cơ sở pháp luật.

[2.2] Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng. Tuy nhiên hành vi của bị cáo diễn ra trong thời gian dài, tại thời điểm loại tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến tín dụng đen có chiều hướng tăng đột biến, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ. “Tín dụng đen” hoành hành khắp nơi khiến nhiều gia đình tán gia bại sản, không có khả năng trả nợ. Có những trường hợp phải bỏ nhà xa xứ và luôn sống trong tình cảnh lo sợ vì bị siết nợ. Thực trạng trên gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Do vậy, cấp sơ thẩm đã áp dụng hình phạt tiền với số tiền 500.000.000đ nhằm mục đích trừng trị bị cáo và dăn đe đối với những người khác.

[3] Về nguyên nhân, điều kiện phạm tội, thấy rằng: Nguyên nhân, động cơ phạm tội xuất phát từ nhu cầu vốn của người dân rất lớn, trong khi các tổ chức tín dụng chưa đáp ứng được nhu cầu, dẫn đến tín dụng đen có đất phát triển, bởi lợi nhuận từ việc kinh doanh tín dụng đen rất lớn, là miếng mồi béo bở để các đối tượng làm ăn phi pháp, thu lợi nhuận bất chính.

[4] Xét kháng cáo xin giảm mức hình phạt tiền của bị cáo:

[4.1] Nhận thấy, khi lượng hình cấp sơ thẩm có xem xét, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử luôn “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “khắc phục hậu quả” và có thân nhân là người có công với cách mạng quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

[4.2] Tại cấp phúc thẩm bị cáo đã xuất trình thêm các tài liệu mới cụ thể: Bản thân đang điều trị bệnh hiểm nghèo (u ác tuyến giáp), tình tiết này cấp sơ thẩm chưa áp dụng cho bị cáo là còn thiếu sót. Đã thoả thuận trả lại toàn bộ số tiền số tiền thu lời bất chính mà bị cáo thực tế đã thu của những người vay là chị Nguyễn Thị H2 và anh Bùi Văn S. Anh S, chị H2 đều có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo. Hơn nữa bản thân bị cáo có trình độ học vấn thấp, hiểu biết pháp luật rất hạn chế, phạm tội chỉ vì hám lời. Sau khi xét xử sơ thẩm, đã tự nguyện nộp đủ án phí sơ thẩm 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), theo Biên lai thu tiền số 0001131 ngày 27/12/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá khi Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Điều đó thể hiện sự ăn năn, hối hận về hành vi của mình. Do đó cần áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo khi xem xét nội dung kháng cáo.

[4.3] Xét tính chất vụ án, nguyên nhân, hành vi phạm tội, điều kiện hoàn cảnh gia đình, nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. HĐXX nhận thấy tại cấp phúc thẩm, bị cáo có thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Hơn nữa, hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, số tiền thu lợi bất chính không nhiều, bản thân đang bị bệnh hiểm nghèo, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, có nơi cư trú rõ ràng, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Số tiền thu lợi bất chính của những người vay đã nộp lại cấp sơ thẩm xác định là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS là chưa chính xác. Do đó cấp phúc thẩm cần áp dụng Điều 357 của BLTTHS, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm mức hình phạt tiền cho bị cáo và không áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS.

[5] Từ phân tích và nhận định nêu trên, HĐXX nhận thấy hình phạt tiền là hình phạt chính mà cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên kháng cáo xin được giảm tiền phạt của bị cáo là có cơ sở chấp nhận. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá đề nghị HĐXX áp dụng Điều 357 của BLTTHS, chấp nhận kháng cáo xin giảm tiền phạt, sửa phần hình phạt của Bản án sơ thẩm là có căn cứ pháp luật.

[6] Trách nhiệm dân sự: Tiếp tục truy thu, tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo Bùi Thị T nộp đang còn thiếu.

[7] Án phí hình sự sơ thẩm thẩm: Bị cáo đã nộp đủ tại Biên lai thu tiền số 0001131 ngày 27/12/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.

[8] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[9] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị HĐXX không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin giảm mức phạt tiền của bị cáo Bùi Thị T. Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số 81/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa về hình phạt.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thị T phạm “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Áp dụng: Khoản 2 Điều 201; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Bùi Thị T 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự: Tiếp tục truy thu, tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 1.934.244đ (một triệu chín trăm ba tư nghìn hai trăm bốn bốn đồng) bị cáo Bùi Thị T nộp đang còn thiếu.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo đã nộp đủ.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Bùi Thị T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Người có QLNVLQ;
  • - TAND, VKSND Cấp cao HN;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Công an H. Thạch Thành, TH;
  • - TAND, VKSND H. Thạch Thành, TH;
  • - Chi cục THADS H. Như Thanh, TH;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Lê Quốc Thành.

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HS-PT ngày 07/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về hình sự phúc thẩm về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 05/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị T “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger