Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

Bản án số: 05/2025/HS-PT

Ngày: 14/02/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: ông Phạm Trung Thực.

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Tuấn Trọng và bà Nguyễn Thị Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Như Hòa – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Lan - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 113/2024/TLPT-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo Đàm Đăng H và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 132/2024/HSST ngày 14/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Đàm Đăng H, sinh năm: 1955; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; T: Không; Trình độ văn hoá: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Đàm Quý D (Đã chết) và bà Nguyễn Thị T (Đã chết); Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là thứ 4; Vợ: Sái Thị D1; Có 04 người con, con lớn sinh năm: 1979, con nhỏ sinh năm: 1986; Tiền án, tiền sự: Không;
  2. Nhân thân: Ngày 20/7/2012 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xử phạt mức phạt 10.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”; Ngày 22/7/2014 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xử phạt 06 năm tù về tội “Lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản”; Ngày 12/11/2018 bị Công an huyện V xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/11/2023, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.

  3. Đàm Văn T1 (tên gọi khác Đàm Ngọc T2), sinh năm: 1945 (Đảng viên; đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định đình chỉ sinh hoạt Đảng số 108/QĐ-UBKTHU ngày 08/8/2024 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy V); Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; T: Không; Trình độ văn hoá: 05/10; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông Đàm Văn Ú (Đã chết) và bà Nguyễn Thị Q (Đã chết); Gia đình có 04 anh chị em ruột, bị cáo là thứ 4; Vợ: Nguyễn Thị T3; Có 04 con, lớn sinh năm: 1973, nhỏ sinh năm: 1981; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Có mặt.
  4. Đàm Văn M1, sinh năm: 1963 (Đảng viên; đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định đình chỉ sinh hoạt Đảng số 110/QĐ-UBKTHU ngày 08/8/2024 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy V); Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; T: Không; Trình độ văn hoá: 09/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Đàm Văn H1 (Đã chết) và bà Phan Thị T4 (Đã chết); Gia đình có 08 anh, chị em ruột, bị cáo là thứ 3; Vợ: Lê Thị N; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Có 02 con, lớn sinh năm: 1987, nhỏ sinh năm 1990; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Có mặt.
  5. Đàm Văn N1, sinh năm: 1954 (Đảng viên, đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định đình chỉ sinh hoạt Đảng số 109/QĐ-UBKTHU ngày 08/8/2024 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy V); Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; T: Không; Trình độ văn hoá: 07/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Đàm Văn Đ (Đã chết) và bà Phạm Thị S; Gia đình có 07 anh chị em ruột, bị cáo là lớn nhất; Vợ: Nguyễn Thị N2; Có 04 con, lớn sinh năm: 1978, nhỏ sinh năm 1988; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Đàm Văn T1: Bà Vương Thị Thanh N3 - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. Có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có 104 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có tiền chi xây dựng các công trình phúc lợi của thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Cấp ủy, Chi bộ và chính quyền thôn H giai đoạn năm 2008 - 2010 gồm Đàm Văn T1 - Bí thư Chi bộ, Đàm Văn M1 - Phó bí thư Chi bộ, Đàm Văn N1 - Chi ủy viên, Phó trưởng thôn kiêm Thủ quỹ thôn, Đàm Đăng H - Trưởng thôn H đã nhiều lần tổ chức họp cấp ủy bàn về nội dung tìm nguồn kinh phí kiến thiết xây dựng này. Được sự thống nhất trong cấp ủy, Đàm Văn T1 đã triệu tập và chủ trì các cuộc họp Chi bộ thôn H vào các ngày 30/11/2008, 19/01/2009, 08/02/2009, 15/4/2009, 05/5/2009, 15/7/2009, 20/11/2009, 10/3/2010, 08/4/2010 để lấy ý kiến của tập thể về việc tận dụng đất ao, thùng vũng tại các khu vực gồm: Ao B, ao Ông T5, ao C, ao C, ao ông C, ao Ngõ Bốn con, ao Ngõ B, thùng lò sườn đê Đồng Dẫn để giao đất (thực chất là bán đất) cho các hộ dân có nhu cầu mua, sử dụng lâu dài, lấy kinh phí xây dựng, kiến thiết địa phương. Chi bộ thôn H đã thống nhất ra Nghị quyết về việc bán đất, giao cấp ủy cùng chính quyền tổ chức họp quân dân chính Đảng, lấy ý kiến các trưởng ngành, đoàn thể, nhân dân và thông báo trên loa truyền thanh của thôn để nhân dân trong thôn biết tham gia mua đất. Sau đó, từ năm 2009 đến năm 2010, cán bộ thôn H đã tổ chức, triển khai bán 73 suất đất trái thẩm quyền cho 70 hộ dân có tổng diện tích 14.596,94m² thu tổng số tiền 9.604.222.000 đồng, cụ thể:

1. Đất ao bên Đ4, ao Ông T5, ao C:

Nguồn gốc đất ao bên Đ4, ao ông T5, ao Cổng Đ1 là đất ao (ký hiệu NTS) do UBND xã L quản lý thuộc các thửa đất số 71, 213, 214 tại thôn H, xã L, huyện V. Đàm Đăng H, Đàm Văn T1, Đàm Văn M1, Đàm Văn N1 đã họp bàn thống nhất bán đất ao bên Đ4, ao ông T5, ao C với giá 300.000 đồng/01m². Cụ thể:

Đã bán khu ao ông T5 cho gia đình ông Lê Văn H2 ở thôn H diện tích 100m²; khu ao bên Đ4 đã bán cho gia đình ông Lê Văn K ở thôn H diện tích 50m², gia đình ông Đàm Văn L ở thôn H diện tích 200m², gia đình ông Sái Văn N4 ở thôn H diện tích 143m², gia đình ông Nguyễn Văn T6 ở thôn H diện tích 1.100m², gia đình ông Nguyễn Văn N5 ở thôn H diện tích 245m², gia đình ông Nguyễn Văn D2 ở huyện P, tỉnh Hưng Yên diện tích 351m², gia đình ông Nguyễn Văn D3 ở thôn H, xã L, huyện V diện tích 234m², gia đình ông Đàm Văn H3 ở thôn H diện tích 400m², gia đình bà Đàm Thị C1 ở thôn H diện tích 187,6m².

Khu ao Cổng Đ1 đã bán cho gia đình bà Sái Thị C2 ở thôn H diện tích 413,5m², gia đình ông Đàm Văn L1 ở thôn H diện tích 200m², gia đình ông Đàm Văn Đ2 ở thôn H diện tích 200m², gia đình anh Sái Duy H4 ở thôn H diện tích 154m², gia đình anh Sái Văn H5 ở thôn H diện tích 152m², gia đình anh Đàm Văn T7 ở thôn H 02 suất với tổng diện tích 1.738,68m², gia đình anh Phạm Văn T8 ở quận H, thành phố Hà Nội diện tích 1.000m², gia đình anh Lê Văn T9 ở thôn H mua diện tích 100m².

Như vậy tổng diện tích 19 hộ đã mua là 6,932,78m² với tổng số tiền 2.079.834 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐ ngày 09/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện V kết luận: Giá trị tại thời điểm năm 2009 của 6,932,78m² đất là 492.227.380 đồng (phụ lục số 01 kèm theo).

2. Đất ao Cổng Tó:

Nguồn gốc đất ao Cổng Tó là loại đất ao, do UBND xã L quản lý có số thửa 106 (ký hiệu NTS) ở thôn H, xã L. Đàm Đăng H đã cùng các bị cáo T1, N1, M1 thống nhất cho người dân thuê thầu (bán) với giá 600.000 đồng/01m². Những người mua đất có thể ở trong hay ngoài địa phương nhưng có nhu cầu mua thì trực tiếp liên hệ với H để nộp tiền và nhận hợp đồng. Cụ thể đã bán cho gia đình anh Nguyễn Viết L2 ở thôn H 125m², gia đình anh Lê Văn T10 ở thôn H 125m², gia đình Nguyễn Hữu K1 ở thôn H diện tích 200m², gia đình ông Đỗ Kiên C3 ở thôn H 190m², gia đình ông Nguyễn Văn T11 ở thôn H 300m², gia đình ông Lê Văn Đ3 ở thôn H 125m², gia đình bà Nguyễn Thị N6 ở thôn N, xã Đ, huyện V 200m², gia đình ông Lê Văn K2 ở thôn H 190m², gia đình ông Nguyễn Văn N7 ở thôn H 200m², gia đình ông Lê Văn N8 ở thôn H 125m², gia đình bà Văn Thị C4 ở quận H, TP Hà Nội 200m², gia đình ông Nguyễn Văn D4 ở thôn H 261m², gia đình ông Đàm Văn C5 ở thôn H 354,6m², gia đình ông Nguyễn Minh T12 ở thôn H 300m², gia đình ông Sái Văn N9 ở thôn H 190m². Tổng diện tích đất ao Cổng Tó 15 hộ gia đình đã mua là 3.085,6m² đất thu được tổng số tiền 1.622.340.000đồng (Một tỷ sáu trăm hai mươi hai triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng).

Tại Kết luận định giá số 01 ngày 09/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện V kết luận: Giá đất tại thời điểm năm 2009 của 3.085,6m² là 219.077.600 đồng (Hai trăm mười chín triệu, không trăm bảy mươi bảy mươi nghìn, sáu trăm đồng). (phụ lục 02 kèm theo).

3. Khu đất ao Ngõ 4 Con:

Nguồn gốc đất ao Ngõ 4 Con là loại đất mặt nước chuyên dùng (ký hiệu MNC) và đất trồng lúa (ký hiệu LUC) do UBND xã L quản lý, là thửa số 350 tại thôn H. Đàm Đăng H đã cùng các bị cáo T1, N1, M1 thống nhất cho người dân thuê thầu (bán) với giá 1.000.000 đồng/01m². Cụ thể đã bán cho các gia đình sau: Gia đình anh Nguyễn Văn Q1 ở thôn H 63,7 m², gia đình anh Nguyễn Văn B1 ở thôn H 260m², gia đình anh Lê Văn K2 ở thôn H 63,7m², gia đình anh Nguyễn Văn T13 ở thôn H 63,7m², gia đình anh Lê Văn C6 ở thôn H 63,7m², gia đình anh Sái Văn T14 ở thôn H 63,7m², gia đình ông Nguyễn Ngọc K3 ở thôn H 63,7m². Tổng diện tích đã bán 07 suất cho 07 hộ dân với là 642,2m², thu được số tiền 642.200.000 đồng (Sáu trăm bốn hai triệu hai trăm nghìn đồng).

Tại Kết luận định giá tài sản số 01 ngày 09/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện V chỉ kết luận: giá tại thời điểm năm 2009 đối với 260 m² đất của hộ gia đình anh Nguyễn Văn B1 (đất trồng lúa) là 18.460.000 đồng. Còn lại 382,2 m² là phần đất công (đất chuyên dùng) do UBND xã L quản lý, UBND tỉnh H không quy định đơn giá, do vậy Hội đồng định giá tài sản không có cơ sở để định giá tài sản.

4. Đất ao ông C:

Nguồn gốc đất ao ông C là loại đất ao (ký hiệu NTS) do UBND xã L quản lý, là thửa số 106 ở thôn H. H đã cùng với T1, N1, M1 khác bán 02 suất cho hộ gia đình ông Đàm Văn T15 mua với diện tích là 448m² đất với giá 400.000đ/01m², thu được số tiền 179.200.000 đồng (Một trăm bảy mươi chín triệu hai trăm nghìn đồng).

Tại Kết luận định giá số 01 ngày 09/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện V kết luận: Giá tại thời điểm năm 2009 của 448m² đất là 31.808.000 đồng (Ba mốt triệu tám trăm linh tám nghìn đồng).

5. Đất Ngõ B:

Nguồn gốc đất ngõ B là loại thủy lợi (ký hiệu DTL) do UBND xã L quản lý. H, T1, N1, M1 đã bán 02 suất với giá 765.000đ/01m² cụ thể: Gia đình anh Đàm Ngọc L3 ở thôn H diện tích 52,5 m² và bán cho gia đình anh Nguyễn Văn L4 ở thôn H diện tích 95,5m². Tổng diện tích đã là 148m², thu được số tiền 113.220.000đồng (Một trăm mười ba triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng).

Tại Kết luận định giá số 01 ngày 09/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện V kết luận đây là phần đất công (đất thủy lợi) do UBND xã L quản lý, UBND tỉnh H không quy định đơn giá, do vậy Hội đồng định giá tài sản không có cơ sở để định giá tài sản.

6. Đất thùng lò sườn đê Đ:

Nguồn gốc đất thùng lò sườn đê Đồng Dẫn là loại đất mặt nước chuyên dùng (ký hiệu MNC đối với các thửa số 103) và đất sông, ngòi, kênh rạch (ký hiệu TLO) do UBND xã L quản lý, là thửa số 103, 181 ở thôn H. Trong năm 2009, 2010 các bị cáo đã bán 3.340,36 m² với giá 1.300.000đ/01m² gồm bán cho: Gia đình anh Nguyễn Văn H6 ở thôn H diện tích 100 m², gia đình anh Hoàng Văn H7 ở thôn H 50 m², gia đình ở ông Nguyễn Đạt C7 ở thôn H diện tích 100 m², gia đình ông Đàm Văn K4 ở thôn Đ, xã L diện tích 250m², gia đình ông Trịnh Xuân H8 ở thôn M, xã L diện tích 71,5m², gia đình bà Hà Thị T16 ở thôn M, xã L diện tích 200m², gia đình chị Nguyễn Thị Hồng T17 ở thôn H diện tích 221m², gia đình ông Trịnh Văn Q2 ở thôn M, xã L diện tích 100m², gia đình ông Đàm Văn H9 ở thôn H diện tích 200m², gia đình ông Dương Xuân T18 ở thôn Đ, xã L diện tích 65m², gia đình ông Dương Văn S1 ở thôn N, xã L diện tích 63m², gia đình bà Nguyễn Thị M ở thôn N, xã L diện tích 42m², gia đình chị Hoàng Thị H10 ở thôn C, xã L diện tích 100m², gia đình ông Dương Quang H11 ở thôn N, xã L 100m², gia đình anh Hoa Công B2 ở huyện Y, tỉnh Hưng Yên diện tích 60m², gia đình anh Nguyễn Văn H12 ở thôn N, xã L diện tích 60m², gia đình bà Lê Thị H13 ở thôn N, xã L diện tích 65m², gia đình ông Nguyễn Văn T19 ở thôn H diện tích 273m², gia đình ông Lê Văn P ở thôn H diện tích 78m², gia đình ông Lê Văn T20 ở thôn H diện tích 130m², gia đình ông Nguyễn Văn L5 ở thôn H diện tích 200m², gia bà Nguyễn Thị H14 ở thôn H diện tích 401m², gia ông Dương Văn T21 ở thôn H 02 suất có diện tích 136,1m², gia ông Nguyễn Văn T22 ở thôn H diện tích 65m², gia ông Hoàng Minh C8 ở thôn H diện tích 71,88m², gia ông Nguyễn Minh T12 ở thôn H diện tích 71,88m². Tổng diện tích đã bán 28 suất là 3.340,36m², thu được số tiền 4.906.768.000đồng (Bốn tỷ chín trăm linh sáu triệu bảy trăm sáu mươi tám nghìn đồng).

Trong số 28 suất đất nêu trên thì có 22 suất là đất thuộc địa giới hành chính của thôn H, xã L do UBND xã L quản lý, còn 06 suất thuộc xứ đồng Vàn Sông Váu thuộc địa giới hành chính của thôn L, xã S, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Cụ thể là đất của các hộ, gia đình Hoàng Văn H7 ở thôn Đ, xã L, diện tích đất 50m². Gia đình anh Nguyễn Đạt C7, diện tích đất 60m². Gia đình anh Dương Văn T23, diện tích đất 50m² (mua lại của ông Nguyễn Xuân H15). Gia đình ông Trịnh Văn U, diện tích đất 50m² (mua lại của ông Nguyễn Xuân H15).Gia đình ông Dương Văn T21, diện tích 64,6m². Hộ gia đình bà Phạm Thị H16 diện tích 100m² (mua lại của ông Dương Quang H11).

Tại Kết luận định giá số 01 ngày 09/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện V kết luận đây là phần đất công (đất mặt nước chuyên dùng và đất sông, ngòi, kênh rạch) do UBND xã L quản lý, UBND tỉnh H không quy định đơn giá nên Hội đồng định giá tài sản không có cơ sở để định giá tài sản.

Như vậy tổng diện tích các thửa đất trên mà Đàm Đăng H, Đàm Văn T1, Đàm Văn M1 và Đàm Văn N1 đã bán trái thẩm quyền là 14.596,94m² đất thuộc các vị trí ao Bên Đình, ao Ông T5, ao C, ao C, ao ông C, ao Ngõ Bốn Con, Ngõ B, T24 lò sườn đê Đồng Dẫn thu được tổng số tiền 9.604.222.000 đồng. Nhưng tại Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản huyện V kết luận tổng giá trị là: 761.572.980 đồng (Bảy trăm sáu mốt triệu, năm trăm bảy hai nghìn, chín trăm tám mươi đồng) do một số loại đất không có trong danh mục định giá nên Hội đồng định giá tài sản huyện V không tiến hành định giá. Khu vực ao Bên Đ4 đã bán 09 suất đất có tổng diện tích là 2.874.6m² thu tổng số tiền 862.380.000 đồng (T10 trăm sáu mươi hai triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng).

Tại Báo cáo kết quả xây dựng các công trình thôn H lập ngày 02/12/2012 thể hiện: Tính từ năm 2009 đến tháng 12/2011, thôn H đã chi xây dựng các trục đường trong thôn, xây dựng nhà quản trang, xây cầu Đ, chùa, trung tâm văn hoá và các khoản chi khác với tổng số tiền là 8.144.881.200 đồng. Tuy nhiên toàn bộ hồ sơ xây dựng các công trình của thôn H không còn lưu trữ nên Cơ quan điều tra không thu giữ được. Toàn bộ số tiền bán đất trái thẩm quyền H đã trực tiếp hoặc chỉ đạo chi vào xây dựng các công trình phúc lợi của thôn H nên UBND xã L và cán bộ thôn H không có tiền để trả cho 70 hộ dân đã mua 73 suất đất trên. Hậu quả làm mất đi quyền quản lý và sử dụng tổng diện tích 14.596,94m² đất của UBND xã L, huyện V và gây tranh chấp quyền sử dụng đất giữa 06 hộ dân mua đất tại xứ đồng Vàn S với những người dân của thôn L, xã S, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

Cơ quan điều tra thu giữ một số phiếu thu tiền mua đất do các bị cáo và người nộp tiền là các ông Đàm Văn T7, Nguyễn Anh D5, Nguyễn Văn N7, Nguyễn Thị N6, Nguyễn Văn T13 giao nộp được ký hiệu từ A1 đến A10, một số tài liệu có liên quan đến thôn H, xã L bán đất. Ngày 13/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Quyết định trưng cầu số 271/QĐ-CQĐT trưng cầu Phòng K6 - Công an tỉnh H giám định chữ ký, chữ viết đối với các biên bản đã ký giao đất đấu thầu, cho thuê lâu dài ghi ngày 10/6/2009, 18/02/2012 (bản gốc) có chữ ký xác nhận của Đàm Văn T1, Đàm Đăng H, Đàm Văn M1, ông Lê Văn H17-Trưởng ban mặt trận thôn, ông Lê Hùng S2 - Người lập phiếu, ông Đàm Ngọc L3 - Thủ quỹ. Đồng thời cơ quan điều tra thu giữ mẫu chữ ký, chữ viết của Đàm Văn T1, Đàm Đăng H, Đàm Văn M1, Đàm Văn L6 và ông Lê Hùng S2 ký hiệu từ M1 đến M6 để so sánh xem có phải do cùng một người viết ra hay không.

Ngày 22/12/2023, Phòng K6 Công an tỉnh H có Kết luận giám định số 22/KL-KTHS. Kết luận:

  1. “Chữ ký dưới mục "Trưởng thôn" trong các mẫu cần giám định được ghi ký hiệu "A1", "A4", "A6" với chữ ký Đàm Đăng H trong mẫu so sánh ghi ký hiệu M6 do cùng một người ký ra.
    1. Chữ ký, chữ viết dưới mục "Thủ trưởng đơn vị" trong mẫu cần giám định được ghi ký hiệu "A2", "A3", "A5" với chữ ký, chữ viết Đàm Đăng H trong mẫu so sánh ghi ký hiệu M6 do cùng một người ký, viết ra.
  2. Không đủ cơ sở kết luận chữ ký dưới mục "Bí thư chi bộ" trong các mẫu cần giám định được ghi ký hiệu "A1", "A4", "A6" và chữ ký dưới mục "Trưởng ban kiến thiết" trong mẫu cần giám định được ghi ký hiệu "A10" với chữ ký Đàm Văn T1 trong mẫu so sánh ghi ký hiệu M1 có phải do cùng một người ký ra hay không.
  3. Chữ ký, chữ viết dưới mục "Trưởng thôn" trong mẫu cần giám định được ghi ký hiệu "A10" và chữ ký, chữ viết dưới mục "Người lập", "Thủ quỹ" trong mẫu cần giám định được ghi ký hiệu "A7", "A8", "A9" với chữ ký, chữ viết Đàm Ngọc L3 trong mẫu so sánh ghi ký hiệu M4 do cùng một người ký và viết ra.
  4. Chữ ký, chữ viết dưới mục "Giám đốc" trong mẫu cần giám định được ghi ký hiệu "A7"; chữ ký, chữ viết dưới mục "Kế toán trưởng" trong mẫu cần giám định được ghi ký hiệu "A8"; chữ ký, chữ viết dưới mục "Người lập phiếu" trong mẫu cần giám định được ghi ký hiệu "A3" với chữ ký, chữ viết Lê Hùng S2 trong mẫu so sánh ghi ký hiệu M5 do cùng một người ký, viết ra.
  5. Chữ ký, chữ viết dưới mục "Thủ quỹ" trong mẫu cần giám định được ghi ký hiệu "A5", "A3"; chữ ký, chữ việt dưới mục "Người lập phiếu - Thủ quỹ" trong mẫu cần giám định được ghi ký hiệu "A2" với chữ ký, chữ viết Đàm Văn N1 trong mẫu so sánh ghi ký hiệu M3 do cùng một người ký, viết ra.
  6. Chữ ký dưới mục "Bí thư chi bộ" trong mẫu cần giám định được ghi ký hiệu "A10"; chữ ký dưới mục "Trưởng ban kiến thiết thôn" trong mẫu cần giám định được ghi ký hiệu "A1", "A4", "A6" với chữ ký, chữ viết Đàm Văn M1 trong mẫu so sánh ghi ký hiệu M2 do cùng một người ký ra.

Quá trình thực hiện hành vi phạm tội: Đàm Đăng H, Đàm Văn Thắng Đàm Văn M1, Đàm Văn N1 đã thu được tổng số tiền 9.604.222.000 đồng (Chín tỷ sáu trăm linh tư nghìn hai trăm hai hai nghìn đồng) do bán đất trái thẩm quyền mà có. Số tiền trên thu rải rác làm nhiều đợt trong nhiều năm. Toàn bộ số tiền trên, H, T1, N1, M1 đã sử dụng vào việc chung của thôn như: Xây dựng các công trình của thôn H, chi xây nhà quản trang, xây chùa đồng dẫn, làm đường, hệ thống thoát nước; đường điện; hệ thống loa truyền thanh, làm thủy lợi phục vụ dồn ruộng đổi thửa; chi tiêu thường xuyên của thôn. Việc thu chi các bị cáo trình bầy có sổ sách theo dõi và công khai trước dân hàng năm. Do thời gian đã lâu nên không rõ sổ sách theo dõi đã bị thất lạc nên không thu giữ được. Các bị cáo khẳng định không sử dụng bất cứ khoản tiền nào từ việc bán đất nói trên để chi tiêu cá nhân. Toàn bộ số tiền bán đất trái thẩm quyền đã Huỳnh trực tiếp hoặc chỉ đạo chi vào xây dựng các công trình phúc lợi của thôn H nên UBND xã L và cán bộ thôn H không có tiền để trả cho 70 hộ dân đã mua 73 suất đất trên.

Ngoài ra trong vụ án còn có những người liên quan trực tiếp đến các sai phạm trên. Cụ thể:

  1. Ông Đỗ Tiến N10: Là Chủ tịch UBND xã, ông N10 có nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai và điều hành toàn diện các mặt công tác tại địa phương. Trong thời gian năm 2009 - 2010, ông N10 đã phân công ông Lê Ngọc K5 - Phó Chủ tịch UBND xã phụ trách lĩnh vực kinh tế cùng cán bộ địa chính là ông Nguyễn Đức H18 trực tiếp theo dõi quản lý biến động đất đai tại địa phương.
  2. Ông Nguyễn Đức H18: Năm 2006, ông H18 được phân công làm cán bộ địa chính xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Giai đoạn năm 2009, ông H18 được giao phụ trách lĩnh vực địa chính, xây dựng, môi trường và thực hiện nhiệm vụ tham mưu, giúp việc cho UBND xã L nắm tình hình, theo dõi, quản lý đất đai.
  3. Ông Lê Ngọc K5: Trong thời gian năm 2009 - 2010, ông Lê Ngọc K5 - Phó Chủ tịch UBND xã phụ trách lĩnh vực kinh tế được phân công theo dõi quản lý biến động đất đai tại địa phương.
  4. Ông Lê Hùng S2 và ông Đàm Ngọc L3 và ông Lê Đức H19:

    - Giai đoạn năm 2011, ông S2 làm Phó trưởng thôn H. Đến giai đoạn năm 2012 - 2014, ông S2 là Trưởng thôn Hùng Trì và đã cùng ông Đàm Ngọc L3 là Phó trưởng thôn kiêm thủ quỹ thôn H thu số tiền của một số hộ dân còn nợ tiền mua đất từ năm 2009. Ông Lê Đức H19 - Trưởng ban Mặt trận tổ quốc thôn năm 2009 có ký vào một số phiếu thu tiền.

Ngày 01/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã làm việc với UBND xã S, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh để xác định giá đất của 06 thửa đất trên. Quá trình làm việc, UBND xã S cung cấp nội dung: Toàn bộ diện tích 06 thửa đất nêu trên ở mặt đường tỉnh lộ 283 chạy từ xã S, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh đi xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên, thuộc sứ đồng Vàn S, địa phận thôn L, xã S, đây là đất công ích do UBND xã S quản lý, UBND tỉnh B không quy định giá đất tại khu vực này nên không có cơ sở để định giá.

Quá trình điều tra, Đàm Đăng H trình bày: Ông Đỗ Tiến N10 có biết việc các cán bộ thôn H cho người dân thuê thầu đất. Huỳnh đã báo cáo bằng miệng trực tiếp đến ông N10, sau đó gửi báo cáo bằng văn bản đến UBND xã L. Tuy nhiên ông N10 không thừa nhận sự việc trên. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho H đối chất với ông N10. Quá trình đối chất hai bên vẫn giữ nguyên quan điểm.

Quá trình điều tra, ông Lê Ngọc K5 trình bày giai đoạn năm 2009, năm 2010, Lãnh đạo thôn H cho các hộ dân thuê thầu đất (bán đất) trái thẩm quyền, ông có biết và phản ánh nội dung tại cuộc họp giao ban với các đồng chí trong Ban thường vụ Đảng ủy; Lãnh đạo U1 là ông Đỗ Tiến N10. Tuy nhiên, ông K5 không nhận được sự chỉ đạo gì từ phía ông N10 nên cũng để mặc. Ông N10 không thừa nhận sự việc như ông K5 trình bày mà cho rằng năm 2010, sau khi ông N10 nghỉ hưu thì mới biết việc này. Quá trình ông N10 là Chủ tịch UBND xã L thì không thấy cấp dưới cụ thể là ông K5 báo cáo gì. Tại các cuộc họp giao ban của UBND xã và Đảng ủy không đưa ra nội dung này. Cơ quan điều tra tiến hành cho ông K5 đối chất với ông N10, quá trình làm việc hai bên giữ nguyên lời khai của mình. Do vậy không đủ căn cứ để xử lý đối với ông N10 và ông K5.

Bản cáo trạng số: 91/CT-VKSVL ngày 19/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên đã truy tố các bị cáo về tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ” theo quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 282 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 132/2024/HSST ngày 14/10/2024, Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Đàm Đăng H, Đàm Văn Thắng Đàm Văn M1, Đàm Văn N1 phạm tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”.

Áp dụng: các điểm b, c khoản 2 Điều 282 Bộ luật hình sự năm 1999; Điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 17; Khoản 1 Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Đàm Đăng H 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 11/11/2023.

Áp dụng: điểm b, c khoản 2 Điều 282 Bộ luật hình sự năm 1999; Điểm s, v, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 17; Khoản 1 Điều 38; Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Các bị cáo Đàm Văn T1, Đàm Văn M1 mỗi bị cáo 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày các bị cáo đi thi hành án.

Áp dụng: điểm b, c khoản 2 Điều 282 Bộ luật hình sự năm 1999; Điểm s, v,o khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 17; Khoản 1 Điều 38; Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Đàm Văn N1 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày các bị cáo đi thi hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 24/10/2024, bị cáo Đàm Văn T1 kháng cáo xin hưởng án treo. Ngày 24/10/2024, bị cáo Đàm Văn M1, Đàm Văn N1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Ngày 28/10/2024, bị cáo Đàm Đăng H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Đàm Đăng Huỳnh giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Các bị cáo Đàm Văn T1, Đàm Văn M1, Đàm Văn N1 đều giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được giảm nhẹ hình phạt được hưởng án treo.

Người bào chữa cho bị cáo Đàm Văn T1 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt với mức án 2 năm 6 tháng tù và cho bị cáo T1 được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa xác định: Về tội danh và hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo thành khẩn khai báo và xuất trình đơn xin giảm nhẹ hình phạt có xác nhận của chính quyền địa phương (đối với T1, N, M1) là các tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51, Nho được áp dụng thêm điểm o khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo H được áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự nên có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho cả 4 bị cáo, đề nghị HĐXX giảm cho mỗi bị cáo từ 3 tháng đến 6 tháng tù; không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của ba bị cáo T1, N1, M1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo Đàm Đăng H, Đàm Văn T1, Đàm Văn M1, Đàm Văn N1 đảm bảo về hình thức và trong thời hạn luật định, là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
  2. Về nội dung:

    Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Đàm Đăng H, Đàm Văn T1, Đàm Văn M1 và Đàm Văn N1 thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và lời khai trước cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng; phù hợp khách quan với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã đủ căn cứ xác định:

    “Để có tiền chi xây dựng các công trình phúc lợi của thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Cấp ủy, Chi bộ và chính quyền thôn H giai đoạn năm 2008 - 2010 gồm Đàm Văn T1 - Bí thư Chi bộ, Đàm Văn M1 - Phó bí thư Chi bộ, Đàm Văn N1 - Chi ủy viên, Phó trưởng thôn kiêm Thủ quỹ thôn, Đàm Đăng H- Trưởng thôn H đã nhiều lần tổ chức họp cấp ủy bàn về nội dung tìm nguồn kinh phí kiến thiết xây dựng này. Được sự thống nhất trong cấp ủy, Đàm Văn T1 đã triệu tập và chủ trì các cuộc họp Chi bộ thôn H vào các ngày 30/11/2008, 19/01/2009, 08/02/2009, 15/4/2009, 05/5/2009, 15/7/2009, 20/11/2009, 10/3/2010, 08/4/2010 để lấy ý kiến của tập thể về việc tận dụng đất ao, thùng vũng tại các khu vực gồm: Ao B, ao Ông T5, ao C, ao C, ao ông C, ao Ngõ Bốn con, ao Ngõ B, thùng lò sườn đê Đồng Dẫn để giao đất (thực chất là bán đất) cho các hộ dân có nhu cầu mua, sử dụng lâu dài, lấy kinh phí xây dựng, kiến thiết địa phương. Chi bộ thôn H đã thống nhất ra Nghị quyết về việc bán đất, giao cấp ủy cùng chính quyền tổ chức họp quân dân chính Đảng, họp lấy ý kiến các trưởng ngành, đoàn thể, nhân dân và thông báo trên loa truyền thanh của thôn để nhân dân trong thôn biết tham gia mua đất. Sau đó, từ năm 2009 đến năm 2010, cán bộ thôn H đã tổ chức, triển khai bán 73 suất đất trái thẩm quyền cho 70 hộ dân có tổng diện tích 14.596,94m² thu tổng số tiền 9.604.222.000 đồng.”

    Bởi hành vi nêu trên nên Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Đàm Đăng H, Đàm Văn T1, Đàm Văn M1 và Đàm Văn N1 về tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”, theo điểm b, c khoản 2 Điều 282 Bộ luật hình sự năm 1999 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

  3. Xét kháng cáo của các bị cáo thì thấy:

    Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức. Do vậy, cần có hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.

    3.1. Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đàm Đăng H:

    Khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội; vị trí vai trò, nhân thân của bị cáo; áp dụng đầy đủ, chính xác tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự gồm: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo trong quá trình công tác có nhiều thành tích và đóng góp nhất định cho địa phương, bị cáo đã có thời gian làm nhiệm vụ Quốc Tế giúp nước bạn Campuchia trong khoảng thời gian từ tháng 4/1979 đến tháng 8/1981; ngày 11/11/1987, được Chủ tịch N11 tặng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặc dù bị cáo H thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là đầu vụ, là người có nhân thân xấu đã từng bị xét xử về 02 tội “Đánh bạc” và “Lạm dụng chức vụ chiếm đoạt tài sản” và bị xử phạt hành chính về hành vi Đánh bạc. Nhưng nhận thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo không có động cơ vụ lợi cá nhân, bị cáo là người cao tuổi và sức khỏe yếu đồng thời có nhiều cống hiến cho đất nước. Để tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập xã hội và thể hiện tính nhân văn của pháp luật. Cần áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

    3.2. Xét kháng cáo của các bị cáo Đàm Văn T1, Đàm Văn M1 và Đàm Văn N1:

    3.2.1. Về kháng cáo xin hưởng án treo:

    Do các bị cáo Đàm Văn T1, Đàm Văn M1 và Đàm Văn N1 là người nhiều lần thực hiện hành vi “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ, các lần phạm tội đều là tội phạm rất nghiêm trọng nên không đủ điều kiện cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và điểm c khoản 2 Điều 1 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Cho nên kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Đàm Văn T1, Đàm Văn M1 và Đàm Văn N1 là không được chấp nhận.

    3.2.2. Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt:

    Cả ba bị cáo Đàm Văn T1, Đàm Văn M1 và Đàm Văn N1 có vai trò thấp hơn bị cáo H. Khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội; vị trí vai trò, nhân thân của từng bị cáo; áp dụng đầy đủ, chính xác tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự gồm:

    Đối với bị cáo T1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, quá trình công tác bị cáo có nhiều thành tích và đóng góp nhất định cho địa phương, bị cáo là người trên 70 tuổi, đã từng tham gia kháng chiến chống Mỹ tại địa bàn tỉnh Quảng Trị; được Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh H Quyết định về việc trợ cấp đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; được Chủ tịch nước C9 tặng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhì; được Trung đoàn 249 tặng Giấy khen vì đã có thành tích học tập, công tác trong đợt ra quân tháng 10/1975; được Hội nông dân huyện V tặng Giấy khen vì đã có nhiều thành tích trong phong trào thi đua yêu nước giai đoạn 2006 - 2010. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm o, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo tiếp tục thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình đồng thời có đơn trình bày xin giảm nhẹ hình phạt có xác nhận của chính quyền địa phương. Nhận thấy bị cáo phạm tội không có động cơ vụ lợi cá nhân, số tiền thu được do hành vi bán đất trái thẩm quyền đều được dùng vào việc xây dựng hạ tầng, kiến thiết nông thôn mới, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và cống hiến cho đất nước trong cả thời chiến và thời bình; có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, sức khỏe yếu.

    Đối với bị cáo Đàm Văn M1: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quá trình công tác bị cáo có nhiều thành tích và đóng góp nhất định cho địa phương, bị cáo được Chủ tịch Nước CHXHCN Việt Nam tặng Huy chương chiến sỹ vẻ vang ngày 11/02/2004. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nhận thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có vai trò thứ yếu trong vụ án, hành vi phạm tội không có động cơ vụ lợi cá nhân, tại giai đoạn phúc thẩm có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo có xác nhận của chính quyền địa phương.

    Đối với bị cáo Đàm Văn N1: Bị cáo Nho thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, quá trình công tác bị cáo có nhiều thành tích và đóng góp cho địa phương. Bị cáo Đàm Văn N1 được Ban tặng Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng; được Chủ tịch Nước CHXHCN Việt Nam tặng Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng 3; được Bộ trưởng Bộ C10 tặng Kỷ niệm chương “Bảo vệ an ninh Tổ Quốc”; được Bộ trưởng Bộ Q3 tặng bằng khen; có bố đẻ là ông Đàm Văn Đ được Hội đồng chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng hai. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo có đơn xin giảm nhẹ hình phạt có xác nhận của chính quyền địa phương; đồng thời bị cáo hiện đã trên 70 tuổi nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm o khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Vì vậy để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho các bị cáo sớm hòa nhập với xã hội, Hội đồng xét xử có căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho ba bị cáo.

    Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa có căn cứ chấp nhận. Quan điểm của người bào chữa đề nghị cho cho bị cáo Đàm Văn T1 được hưởng án treo là không được chấp nhận.

  4. Án phí: Do kháng cáo của bị cáo H được chấp nhận; kháng cáo của các bị cáo Đàm Văn T1, Đàm Văn M1 và Đàm Văn N1 được chấp nhận một phần nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 343; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đàm Đăng H; chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Đàm Văn T1, Đàm Văn M1 và Đàm Văn N1. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 132/2024/HS-ST ngày 14/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên như sau:

    Tuyên bố: Các bị cáo Đàm Đăng H, Đàm Văn Thắng Đàm Văn M1, Đàm Văn N1 phạm tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”.

    * Áp dụng: điểm b, c khoản 2 Điều 282 Bộ luật hình sự năm 1999; Điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 17; Khoản 1 Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đàm Đăng H;

    Xử phạt: Đàm Đăng H 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 11/11/2023.

    * Áp dụng: Điểm b, c khoản 2 Điều 282 Bộ luật hình sự năm 1999; Điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 17; Khoản 1 Điều 38; Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với Đàm Văn T1, Đàm Văn M1 và Đàm Văn N1. Riêng bị cáo T1 và N1 được áp dụng thêm điểm o khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Các bị cáo Đàm Văn T1, Đàm Văn M1, Đàm Văn N1 mỗi bị cáo 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày các bị cáo đi thi hành án.

  2. Án phí: Các bị cáo Đàm Đăng H, Đàm Văn T1, Đàm Văn M1 và Đàm Văn N1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I - TAND tối cao;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng HSNVCS-CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Cục THADS tỉnh Hưng Yên;
  • - Chi cục THADS huyện Văn Lâm;
  • - TAND huyện Văn Lâm;
  • - VKSND huyện Văn Lâm;
  • - Công an huyện Văn Lâm;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP, Tòa HC.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Trung Thực

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HS-PT ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về lạm quyền trong khi thi hành công vụ

  • Số bản án: 05/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lạm quyền trong khi thi hành công vụ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đàm Đăng H phạm tội "Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger