|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH Bản án số: 05/2025/HNGĐ - ST Ngày: 25/11/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoài Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Nhụ và bà Nguyễn Thị Chung.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đỗ Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 84/2025/TLST-HNGĐ ngày 16/10/2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST - HNGĐ, ngày 06/11/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 22/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Minh T, sinh năm 1989 – vắng mặt;
Căn cước công dân số: [...]
- Bị đơn: Anh Vũ Văn T1, sinh năm 1991 – vắng mặt;
Căn cước công dân số: [...]
Cùng địa chỉ: Khu phố D, phường Q, tỉnh Bắc Ninh.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Chi nhánh công ty L1 tại Bắc Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Hồng N – Trưởng chi nhánh; địa chỉ: Số E Hồ N, khu Y, phường K, tỉnh Bắc Ninh – Vắng mặt;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Thị Thanh H – thuộc Chi nhánh công ty L1 tại Bắc Ninh, Đoàn luật sư thành phố H; địa chỉ: Số E Hồ N, khu Y, phường K, tỉnh Bắc Ninh – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình làm việc tại Tòa án nguyên đơn trình bày như sau: Ngày 04/01/2016, tôi và anh Vũ Văn T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh (nay là UBND phường Q, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh) sau đó được gia đình hai bên tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống cùng nhau. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng một thời gian sau, tôi phát hiện anh T1 có quan hệ tình cảm với một người phụ nữ khác là bà Đ (trú tại thành phố T cũ), vốn là người yêu cũ của anh T1. Mặc dù tôi đã nhiều lần tha thứ và tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn nhưng anh T1 không thay đổi, thường xuyên cáu gắt, xúc phạm tôi, thậm chí “chat sex” với người khác để rồi những người đó liên hệ, xúc phạm tôi, gây áp lực nặng nề.
Công việc của anh T1 không ổn định, anh thường mang bực dọc về nhà, chửi bới khiến không khí gia đình căng thẳng. Khoảng tháng 7/2022, khi tôi đang đi qua khu vực Khu công nghiệp Q, anh T1 đã dùng mũ bảo hiểm đánh tôi giữa đường, có nhiều người chứng kiến. Tôi đã trình báo Công an thị xã Q. Khi biết tôi mang thai cháu thứ hai, anh T1 còn phủ nhận con. Đặc biệt, khoảng tháng 4-5/2025, trong lúc mâu thuẫn, anh T1 bẻ nắp bình xăng xe máy, đổ xăng và dọa đốt nhà, đồng thời đánh tôi. Từ khoảng tháng 9–10/2023 đến nay, vợ chồng đã sống ly thân, tình cảm không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Vũ Văn T1.
Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là cháu Vũ Tâm Tuệ A, sinh ngày 15/03/2018 và cháu Vũ Tâm Thái A1, sinh ngày 25/04/2023. Hiện hai cháu đang ở với tôi, khi ly hôn tôi đề nghị được nuôi cả 02 cháu, cấp dưỡng nuôi con tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ, đất ruộng: Vợ chồng tôi không có. Tôi không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí: Tôi tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Bị đơn:
Trong quá trình chuẩn bị xét xử, Toà án đã tiến hành triệu tập các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án, các Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập phiên toà hợp lệ nhiều lần cho anh Vũ Văn T1 nhưng anh T1 vẫn vắng mặt không làm việc tại Tòa án, và chỉ có một văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa án có nội dung như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Đến nay vợ chồng tôi không thể tìm được tiếng nói chung, tình trạng mâu thuẫn trầm trọng không thể thay đổi, hòa giải được. Tôi xác định vợ chồng tôi không còn tình cảm yêu thương nhau nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, gia đình không thể đoàn tụ. Nếu tiếp tục kéo dài cuộc sống như vậy, không chỉ ảnh hưởng đến hạnh phúc của hai vợ chồng, toàn thể hai bên gia đình mà còn ảnh hưởng đến tâm sinh lý của các con và ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân tôi. Vì vậy, tôi đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Minh T.
Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là cháu Vũ Tâm Tuệ A, sinh ngày 15/03/2018 và cháu Vũ Tâm Thái A1, sinh ngày 25/04/2023. Do hai cháu vẫn còn nhỏ nên khi ly hôn, tôi đồng ý để chị Nguyễn Minh T được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 cháu và bà T không được cản trở quyền thăm nom con cái của tôi.
Về tài sản chung, công nợ, đất ruộng: Vợ chồng tôi không có. Tôi không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án tôi đã nhận được các văn bản, thông báo mà Tòa án tống đạt cho tôi, tuy nhiên do điều kiện không cho phép nên tôi không thể đến Tòa làm việc cũng như tham gia tại phiên tòa, chính vì vậy, tôi kính đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật và tôi xin phép được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc cũng như các phiên xét xử.
Quá trình giải quyết, Toà án tiến hành xác minh với ông Nguyễn Minh K là bố đẻ của chị Nguyễn Minh T trình bày: Về mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Minh T và anh Vũ Văn T1 thi khoảng 2 năm đến 3 năm gần đây, ông thấy hai vợ chồng thường xuyên đánh cãi chửi nhau. Có lần ông thấy anh T1 dọa tẩm xăng đốt nhà khi hai vợ chồng xảy ra cãi cọ. Ông đề nghị Tòa án tiến hành hòa giải để hai vợ chồng anh tâm chị T về ở với nhau, nếu hòa giải không thành thì ông đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng quy định pháp luật. Trong trường hợp chị T và anh T1 ly hôn, ông đề nghị Toà án giao cả 02 con chung cho chị T nuôi dưỡng vì chị T có công việc ổn định, hiện đang kinh doanh hiệu thuốc đông y tại khu D, phường Q, còn anh T1 thì hiện không có công việc ổn định nay đây mai đó không có đủ điều kiện để nuôi dưỡng hai cháu nhỏ.
Xác minh với ông Trịnh Ngọc L – Trưởng khu phố D, phường Q, tỉnh Bắc Ninh và ông Phạm Đình T2 – Tổ trưởng tổ an ninh trật tự khu phố D, phường Q, tỉnh Bắc Ninh: Ông L và ông T2 xác nhận chị Nguyễn Minh T và anh Vũ Văn T1 là vợ chồng và đang sinh sống ổn định tại khu phố D, phường Q, tỉnh Bắc Ninh khoảng 4 năm nay. Về quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T1, thời gian đầu khi anh chị mới chung sống với nhau thì không có mâu thuẫn gì, vợ chồng có mở một phòng khám đông y tại khu phố D và kinh doanh ổn định. Tuy nhiên khoảng 2 năm gần đây vợ chồng anh chị bắt đầu xảy ra những cãi vã thậm chí là đánh chửi nhau. Đỉnh điểm vào khoảng 2 tháng đến 3 tháng trước, các ông không nhớ rõ ngày, khi đang đêm thì chị T có báo cáo gấp với ông Phạm Đình T2 là an ninh của khu phố về việc anh T1 có ngả xe máy của chị T ra cho xăng chảy xuống và dọa đốt, hai bên có lời qua tiếng lại ảnh hưởng để cả khu phố. Cùng tối đó anh T1 dẫn hai đứa con nhỏ ra khỏi nhà, chị T có nhờ khu phố và an ninh cơ sở đi tìm con thì được biết anh T1 và các cháu đang ở một nhà trọ ở khu phố C gần nhà. Đến gần trưa ngày hôm sau thì anh T1 đưa hai cháu bé về nhà. Các ông được biết vợ chồng anh T1 chị T đã có mâu thuẫn từ lâu, thỉnh thoảng lại cãi chửi nhau. Về yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Minh T, các ông đề nghị Tòa án tiến hành hòa giải để hai vợ chồng chung sống hòa thuận, nuôi dưỡng con cái, xây dựng kinh tế. Nếu trong trường hợp hòa giải không thành, đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng quy định pháp luật.
Toà án đã lấy lời khai của cháu Vũ Tâm Tuệ A, sinh ngày 15/03/2018. Sau khi được hỏi, cháu Tuệ A có nguyên vọng được ở với mẹ.
Đại diện VKSND khu vực 8 – Bắc Ninh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, xác định tư cách pháp lý người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, tư cách pháp lý và thẩm quyền theo quy định của BLTTDS; Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa sơ thẩm dân sự. Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi mở phiên tòa Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại các Điều 70, 71 BLTTDS. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của bản thân theo quy định tại Điều 70 và 72 BLTTDS.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 39, 146, 147, 227, 228, 271, 273, 278 và 280 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Minh T. Chị Nguyễn Minh T được ly hôn anh Vũ Văn T1.
- Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Vũ Tâm Tuệ A, sinh ngày 15/03/2018 và cháu Vũ Tâm Thái A1, sinh ngày 25/04/2023 cho chị Nguyễn Minh T nuôi cả 02 cháu. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết. Anh tâm được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở, ngăn cấm.
- Về tài sản chung, công nợ, công sức: Không;
- Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Minh T có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Vũ Văn T1, cả nguyên đơn và bị đơn đều đang sinh sống tại khu phố D, phường Q, tỉnh Bắc Ninh. Do vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án này là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 BLTTDS năm 2025.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn – anh Vũ Văn T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Nguyên đơn, người đại diện theo uỷ quyền và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đều xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227 và 228 BLTTDS năm 2025.
[3] Về nội dung: Chị Nguyễn Minh T và anh Vũ Văn T1 kết hôn ngày 04/01/2016 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND thị trấn P, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh; do đó, hôn nhân của chị T và anh T1 là hợp pháp theo Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng. Căn cứ lời khai của nguyên đơn, văn bản trình bày của bị đơn và kết quả xác minh tại địa phương cho thấy: Vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, xô xát, xúc phạm lẫn nhau trong thời gian dài; Bị đơn có hành vi bạo lực gia đình như: đánh nguyên đơn, đổ xăng dọa đốt nhà, chửi bới, đe dọa gây mất an toàn cho gia đình; Hai bên đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc nhau; Cả chị T và anh T1 đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và cùng thừa nhận mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Những tình tiết trên chứng minh tình trạng hôn nhân của các đương sự đã mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn. Vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ. Những chứng cứ trên đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Minh T.
Về con chung: Vợ chồng chị Nguyễn Minh T và anh Vũ Văn T1 có 02 con chung là cháu Vũ Tâm Tuệ A, sinh ngày 15/03/2018 và cháu Vũ Tâm Thái A1, sinh ngày 25/04/2023. Hiện cả hai cháu đang do chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét yêu cầu của nguyên đơn và ý kiến đồng ý của bị đơn, Hội đồng xét xử thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị T chứng minh được mình có nghề nghiệp ổn định (kinh doanh, mở phòng khám Đ1), có thu nhập và điều kiện chỗ ở bảo đảm cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng các con. Ngược lại, bị đơn – anh T1 – có công việc không ổn định, nay đây mai đó, không bảo đảm được điều kiện để chăm sóc hai con nhỏ. Đối với cháu Thái A1 sinh năm 2023, cháu hiện dưới 36 tháng tuổi. Theo khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện, nhưng trong vụ án này chị T có đủ khả năng chăm sóc cháu nên việc giao cháu cho mẹ là phù hợp quy định pháp luật. Đối với cháu T3 An sinh năm 2018, mặc dù cháu đã trên 36 tháng tuổi nhưng xét toàn diện về điều kiện vật chất, tinh thần, sự ổn định môi trường sống, cũng như việc cháu đang ở cùng mẹ từ trước đến nay, việc giao cháu cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là bảo đảm tốt nhất quyền lợi của cháu theo nguyên tắc bảo vệ quyền lợi mọi mặt của con được quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Bị đơn không có ý kiến phản đối và thống nhất để chị T nuôi cả 02 con. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cả hai cháu cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng, chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con, nên Tòa án không đặt ra xem xét. Tuy nhiên, anh T1 vẫn có quyền và nghĩa vụ thăm nom con theo Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, không ai được quyền cản trở việc này.
- Về tài sản và công nợ, đất ruộng: Không yêu cầu giải quyết.
- Án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 186, 227, 228, 271, 273, 278 và 280 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Minh T.
- Về quan hệ vợ chồng: Chị Nguyễn Minh T được ly hôn anh Vũ Văn T1.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Minh T nuôi dưỡng và chăm sóc 02 con chung là cháu Vũ Tâm Tuệ A, sinh ngày 15/03/2018 và cháu Vũ Tâm Thái A1, sinh ngày 25/04/2023. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết. Anh T1 được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở, ngăn cấm.
- Về tài sản chung, công nợ, ruộng đất: Không đặt ra giải quyết
2. Án phí: Chị Nguyễn Minh T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị T đã nộp 300.000đ tạm ứng án phí tại biên lai số BLTU/25E/0001914 ngày 16/10/2025 của THA dân sự tỉnh Bắc Ninh.
3. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thị Hoài Phương |
6
Bản án số 05/2025/HNGĐ - ST ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 05/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
