Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HOA LƯ

TỈNH NINH BÌNH

Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 25 - 3 - 2025

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về

nuôi con khi ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Ngọc Lợi
  2. Bà Nguyễn Thị Tươi

- Thư ký phiên tòa: Bà Tống Thị Huê - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hảo - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 74/2024/TLST - HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐST- HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị N sinh năm 1997; nơi thường trú: Số nhà C, ngõ I, đường T, phố B, phường N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình; địa chỉ: Số nhà H, đường H, phố V, phường V, thành phố H, tỉnh Ninh Bình.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thành T sinh năm 1991; địa chỉ: số nhà C, ngõ I, đường T, phố B, phường N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên tòa có mặt chị N, vắng mặt anh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 01/10/2024, bản tự khai, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Lê Thị N trình bày: Chị và anh Nguyễn Thành T được tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn ngày 05/6/2019 tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố N (nay là thành phố H, tỉnh Ninh Bình). Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được hai năm thì phát sinh mâu thuẫn do anh T chơi bời, cờ bạc dẫn đến nợ nần. Chị và bố mẹ anh T cũng đã trả nợ cho anh T và khuyên can anh T từ bỏ cờ bạc nhưng anh T không thay đổi nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Đến tháng 8 năm 2024 chị phát hiện anh T tiếp tục chơi bời nên chị đã cho con về nhà mẹ đẻ ở cho đến nay. Trong thời gian này chị và anh T sống ly thân và không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Thành T.

Về con chung: Chị và anh Nguyễn Thành T có 01 con chung là cháu Nguyễn Nhật D sinh ngày 28/11/2019. Toà án giải quyết ly hôn, chị đề nghị Toà án giao cho chị trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu D cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Trong quá trình Tòa án giải quyết chị và anh T đều có ý kiến giao cho chị nuôi cháu D cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, anh chị tự thỏa thuận về nghĩa vụ cấp dưỡng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên xét về điều kiện nuôi con thì chị đảm bảo được điều kiện nuôi con nên tại phiên tòa chị không yêu cầu anh Trung cấp D1 nuôi con.

Về tài sản chung: Chị và anh T không có tài sản chung và công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản hòa giải ngày 12/02/2025, bị đơn là anh Nguyễn Thành T trình bày: Anh nhất trí với lời trình bày của chị N về việc đăng ký kết hôn cũng như quá trình chung sống của vợ chồng anh. Sau hai năm vợ chồng chung sống hạnh phúc thì phát sinh mâu thuẫn do anh nợ nần dẫn đến thất thoát tài sản và ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình. Từ tháng 8 năm 2024 chị N đã cho con về nhà mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân từ thời gian này và chị N xin ly hôn anh. Thời gian đầu khi sống ly thân anh chị không liên lạc với nhau, gần Tết Nguyên Đán anh đã xin lỗi và tìm chị N về ăn Tết để vợ chồng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng chị N không về. Anh cần phải có thời gian để có biện pháp khắc phục mâu thuẫn. Nay anh xác định tình cảm vẫn còn và vì con nên anh không nhất trí ly hôn với chị N.

Anh và chị N có 01 con chung cháu Nguyễn Nhật D sinh ngày 28/11/2019. Nếu Toà án giải quyết ly hôn anh nhất trí để chị N là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu D cho đến khi cháu D đủ 18 tuổi. Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Anh và chị N tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh nhất trí với ý kiến của chị N về việc anh chị không có tài sản chung và công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư phát biểu ý kiến:

1. Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định. Các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

2. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử

Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị N về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” đối với anh Nguyễn Thành T.
  • - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Thành T;
  • - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Nhật D sinh ngày 28/11/2019 cho chị Lê Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu đủ 18 tuổi.
  • - Anh T không phải cấp dưỡng cho con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
  • - Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị N phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002332 ngày 09/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (nay là Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Lê Thị N có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết về việc ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn với anh Nguyễn Thành T có nơi cư trú tại phường N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình. Đây là vụ án về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình (nay là thành phố H) theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về tố tụng: Bị đơn là anh Nguyễn Thành T đã được Toà án triệu tập hợp lệ mà vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Do vậy để đảm bảo quyền lợi của các đương sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị N và anh Nguyễn Thành T là hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Quá trình chung sống giữa chị N và anh T xảy ra mâu thuẫn trầm trọng do anh T vướng vào nợ nần, chị N và gia đình đã nhiều lần phải trả nợ cho anh T dẫn đến phá tán tài sản gia đình. Ang Trung đã vi phạm quy định của Luật hôn nhân và gia đình về quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người khác. Anh chị đã sống ly thân, mỗi người ở một nơi; không có sự quan tâm, chia sẻ, yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Chị N xin ly hôn, anh T anh không nhất trí ly hôn vì tình cảm vợ chồng vẫn còn và vì con. Tuy nhiên anh T không đưa ra được biện pháp khắc phục mâu thuẫn. Từ những cơ sở trên Hội đồng xét xử nhận thấy tình trạng vợ chồng giữa chị N và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị N có yêu cầu ly hôn với anh T là có căn cứ, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.2] Về con chung: Chị N và anh T có 01 con chung cháu Nguyễn Nhật D sinh ngày 28/11/2019. Khi ly hôn chị N và anh T đều đề nghị Tòa án giao cháu D cho chị N nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử thấy rằng hiện nay chị N là người trực tiếp nuôi con, chị N có đủ điều kiện nuôi con và anh T đồng ý. Do đó để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu thì giao cho chị Lê Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Nhật D sinh ngày 28/11/2019 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Tòa án đã giải thích việc yêu cầu cấp dưỡng cho con là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con. Tuy nhiên chị N vẫn giữ quan điểm không yêu cầu anh Trung cấp D1 nuôi con. Xét thấy chị N có đủ điều kiện nuôi con và việc không yêu cầu anh Trung cấp D1 cho con là tự nguyện nên anh T không có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con là phù hợp.

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3.3] Về tài sản chung và công nợ chung: chị N và anh T không có tài sản chung và công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[4] Án phí và quyền kháng cáo:

  • - Án phí: Chị Lê Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • - Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: chị Lê Thị N và anh Nguyễn Thành T được ly hôn. Quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị N và anh Nguyễn Thành T chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao cho chị Lê Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Nhật D sinh ngày 28/11/2019 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Anh Nguyễn Thành T không có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con

3. Án phí: chị Lê Thị N nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002332 ngày 09 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình nay là Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

4. Quyền kháng cáo: nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND thành phố Hoa Lư;
  • - Chi cục THADS thành phố Hoa Lư;
  • - UBND phường Ninh Sơn, thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thanh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HNGĐ-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 05/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Lê Thị Ng xin Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Nguyễn Thành Tr
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger