Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÈO VẠC

TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HNGĐ – ST

Ngày: 24/6/2025

V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÈO VẠC, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Củng Trần Lương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Sùng Thị Máy

2. Bà Nguyễn Thị Chanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thúy An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mèo Vạc tham gia phiên tòa: Ông Lưu Viết Ngà – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mèo Vạc xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 04/2025/TLST – HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lưu Hồng V, sinh năm 1974, địa chỉ: thôn X, xã X, huyện M, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1973, địa chỉ: Số nhà B, thôn P, xã P, huyện M, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Lưu Hồng V trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị Thúy H kết hôn năm 1997 tại UBND xã M (nay là thị trấn M), kết hôn trên cơ sở tự nguyện không ai bị ép buộc, ban đầu cuộc sống vợ chồng bình thường sau khoảng hai năm thì vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên cãi nhau, càng ngày tình cảm vợ chồng càng ít, vợ chồng không thể ngồi nói chuyện được với nhau, mặc dù ông đã cố gắng để cuộc sống vợ chồng có chiều hướng tích cực hơn, để con cái có cả bố và mẹ tuy nhiên mâu thuẫn vợ chồng càng ngày càng trở nên trầm trọng. Đến tháng 6/2024 vợ chồng ông đã sống ly thân và ông đã gửi đơn xin ly hôn ra Tòa án huyện M để bà H có thể ít nhiều nhận ra được lỗi lầm của mình, sau nhiều lần Tòa án gọi đến làm việc ông đã quay về nhà để vợ chồng có thêm cơ hội hiểu nhau hơn. Tuy nhiên, sau khi quay về thì vợ chồng vẫn không có chuyển biến tích cực mà có phần tồi tệ hơn, bà H thường xuyên chửi bới, dùng lời lẽ tục tĩu xúc phạm đến ông và gia đình ông. Đến nay ông cảm thấy tình cảm vợ chồng đã không thể hàn gắn được, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do vậy đề nghị Tòa án nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thúy H.

Về con chung: Vợ chồng ông bà có hai con chung là cháu Lưu Thái V1, sinh ngày 07/8/1997 và cháu Lưu Vinh Q, sinh ngày 13/5/2006. Hiện tại các cháu đã trưởng thành không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Ông khẳng định vợ chồng ông tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Ông khẳng định không có không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại các biên bản lấy lời khai bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H1 trình bày:

Bà và ông V kết hôn với nhau từ năm 1997 tại UBND xã M, huyện M, tỉnh Hà Giang (nay là UBND thị trấn M), vợ chồng kết hôn trên cơ sở tự nguyện, sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc, đến tháng 8/2024 bà thấy ông V có những biểu hiện lạ, thái độ khác thường nên bà đã tìm hiểu thì được biết ông V có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác là bà Nguyễn Thị Thu N, sinh ngày 10/3/1982 có địa chỉ tại tổ dân phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, chị N hiện cũng đã có chồng là Dương Văn B, sinh ngày 01/8/1979 hiện đang cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện xã K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, bà được biết trong tháng 11/2024 ông V nộp đơn xin ly hôn với bà thì bà N cũng nộp đơn ly hôn với ông B. Bà H1 cũng nắm được thông tin ông V đưa cô N về nhà tại thôn B H, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội sống chung như vợ chồng, ngoài ra trước đây ông V cũng có quan hệ tình cảm với ba người phụ nữ khác, bà đã phát hiện và gọi trực tiếp nói chuyện điện thoại với người phụ nữ đó. Nay ông V có đơn xin ly hôn bà không nhất trí vì đến nay vợ chồng vẫn chưa thỏa thuận được việc chia tài sản chung.

Về con chung vợ chồng bà có hai người con chung là cháu cháu Lưu Thái V1, sinh ngày 07/8/1997 và cháu Lưu Vinh Q, sinh ngày 13/5/2006. Bà đề nghị ông V cùng có trách nhiệm đối với các con.

Về tài sản chung: Bà đề nghị vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Bà khẳng định không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa ông Lưu Hồng V giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với bà Nguyễn Thị Thúy H, do vợ chồng không còn tình cảm gì với nhau, đến nay ông cảm thấy cuộc sống chung vợ chồng không thể tiếp tục; về con chung do các con đã đủ tuổi trưởng thành không đề nghị giải quyết; về tài sản chung vợ chồng ông tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết; về công nợ ông nợ ngân hàng N1 chi nhánh huyện M, tỉnh Hà Giang số tiền 400.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 8203LAV202300091 ký ngày 13/02/2023, dư nợ đến ngày 19/6/2025 là 210.238.419 đồng, đây là khoản nợ riêng của ông và thực hiện trả nợ trừ qua tiền lương hàng tháng với số tiền 15.000.000 đồng. Do vậy ông có nghĩa vụ thanh toán số nợ trên với Ngân hàng không yêu cầu bà H phải trả nợ cùng.

Bà Nguyễn Thị Thúy H xác định thời gian đăng kí kết hôn, con chung, công nợ chung như ông Lưu Hồng V trình bày là đúng, tuy nhiên nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn như ông V trình bày là chưa đúng sự thật, vì nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn giữa vợ chồng ông bà bắt đầu từ năm 2024 do bà phát hiện ông V có quan hệ ngoài luồng với người phụ nữ khác. Hiện tại bà vẫn còn tình cảm với ông V bà không nhất trí ly hôn, về tài sản chung gồm 01 ngôi nhà tại địa chỉ số D, tổ C, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; 02 ngôi nhà số B, 27 tại thôn P, xã P, huyện M, tỉnh Hà Giang; 01 mảnh đất tại thôn P, xã P, huyện M, tỉnh Hà Giang, 01 một mảnh đất khoảng 10 thước bắc bộ và 01 ngôi nhà hai tầng tại thôn B H, H, M, Hà Nội, 01 xe ô tô loại Tucson, đến nay vợ chồng bà vẫn chưa thỏa thuận được việc chia tài sản nên đề nghị Tòa án giải quyết phần tài sản cho vợ chồng bà.

Ngày 19/6/2025 Ngân hàng N1 Chi nhánh huyện M có Văn bản số 346/TB-NHN0MV về việc ông Lưu Hồng V đứng tên Hợp đồng tín dụng số 8203LAV202300091 ký ngày 13/02/2023, số tiền vay 400.000.000 đồng, dư nợ đến ngày 19/6/2025 là 210.238.419 đồng Ngân hàng nhất trí đề ông Lưu Hồng V hàng tháng trích số tiền lương 15.000.000 đồng/tháng để trả nợ cho A Mèo Vạc đến khi hết nợ gốc và lãi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang trình bày:

Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ trong việc xác định quan hệ tranh chấp, thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền. Việc xác minh, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án: Việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thư ký theo đúng quy định tại BLTTDS.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của BLTTDS.

Về việc giải quyết vụ án:

Quan hệ hôn nhân: Xét thấy việc ông Lưu Hồng V có đơn xin ly hôn với bà Nguyễn Thị Thúy H là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên có lời lẽ xúc phạm nhau. Như vậy, theo đơn khởi kiện cùng những tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn tại phiên tòa hôm nay đã đủ căn cứ để xem xét giải quyết vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lưu Hồng V, cho ông V được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thúy H.

Về con chung: Vợ chồng ông bà có 02 con chung, là cháu Lưu Thái V1, sinh ngày 07/8/1997 và cháu Lưu Vinh Q, sinh ngày 13/5/2006. Hiện nay các cháu đã đủ tuổi trưởng thành nên không đặt vấn đề để giải quyết.

Về tài sản chung: tại phiên tòa bị đơn đề nghị chia tài sản chung bao gồm 01 ngôi nhà tại địa chỉ số D, tổ C, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; 02 ngôi nhà số B, 27 tại thôn P, xã P, huyện M, tỉnh Hà Giang; 01 mảnh đất tại thôn P, xã P, huyện M, tỉnh Hà Giang, 01 một mảnh đất khoảng 10 thước bắc bộ và 01 ngôi nhà hai tầng tại thôn B H, H, M, Hà Nội, 01 xe ô tô loại Tucson, xét đề nghị của bà H không thể giải quyết ngay tại vụ này, cần tách ra giải quyết bằng một vụ án dân sự khác, nên khi các đương sự có yêu cầu sẽ khởi kiện giải quyết chia tài sản chung sau khi ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 28 của BLTTDS

Về công nợ chung: không có không đề nghị giải quyết.

Án phí: Căn cứ vào Điều 147 của BLTTDS 2015, điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ông V phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án do các bên cung cấp, qua kết quả thẩm tra các tài liệu chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền của Tòa án: Nguyên đơn ông Lưu Hồng V yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy H có hộ khẩu thường trú tại thôn X, xã X, huyện M tỉnh Hà Giang, nơi ở hiện nay thôn P, xã P, huyện M, tỉnh Hà Giang, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang theo quy định tại các Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: ông Lưu Hồng V và bà Nguyễn Thị Thúy H có đăng ký kết hôn năm 1997 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Hà Giang (nay là thị trấn M, huyện M) nên quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét thấy ông V và bà H bắt đầu mâu thuẫn trầm trọng từ năm 2024 nguyên nhân vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, bà H có lời lẽ xúc phạm đến ông V và gia đình ông V, đã nhiều năm không quan tâm đến gia đình chồng. Hiện tại vợ chồng cùng sinh sống trong một nhà nhưng vợ chồng mỗi người ở một khu vực khác nhau, không quan tâm, thăm hỏi, chăm sóc lẫn nhau, vợ chồng không thể ngồi với nhau để nói chuyện. Qua đó cho thấy ông V, bà H đã có mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, không có khả năng đoàn tụ nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu của ông Lưu Hồng V và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mèo Vạc, cho ông V được ly hôn với bà H.

Đối với ý kiến của bà Nguyễn Thị Thúy H cho rằng ông V có quan hệ ngoài luồng với người phụ nữ khác tên là Nguyễn Thị Thu N, tuy nhiên bà H không cung cấp được tài liệu, chứng cứ cụ thể để chứng minh quan hệ bất chính giữa ông Lưu Hồng V và người phụ nữ tên là N do vậy Tòa án không có căn cứ để xem xét.

[3] Về con chung: Vợ chồng ông bà có 02 con chung, là cháu Lưu Thái V1, sinh ngày 07/8/1997 và Lưu Vinh Q, sinh ngày 13/5/2006. Hiện nay các cháu đã đủ tuổi trưởng thành nên không đặt vấn đề để giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Tại phiên toà ngoài việc yêu cầu chia tài sản chung gồm 01 ngôi nhà tại địa chỉ số D, tổ C, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; 02 ngôi nhà số B, 27 tại thôn P, xã P, huyện M, tỉnh Hà Giang; 01 mảnh đất tại thôn P, xã P, huyện M, tỉnh Hà Giang, 01 một mảnh đất khoảng 10 thước bắc bộ và 01 ngôi nhà hai tầng tại thôn B H, H, M, Hà Nội, 01 xe ô tô loại Tucson nêu trên, bà H không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ nào khác có liên quan đến tài sản để làm căn cứ xem xét, giải quyết. Do đó, không có căn cứ để xem xét, giải quyết yêu cầu chia tài sản chung của ông V, bà H ngay trong vụ án này. Ông V, bà H hoàn toàn có quyền khởi kiện chia tài sản chung sau khi ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 28 của BLTTDS 2015 khi có yêu cầu. Đồng thời, việc Toà án không giải quyết ngay đối với yêu cầu chia tài sản chung của bà H trong vụ án này cũng không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

[5] Về công nợ chung: ông bà đều khẳng định không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với khoản nợ ông Lưu Hồng V đứng tên Hợp đồng tín dụng số 8203LAV202300091 ký ngày 13/02/2023, số tiền vay 400.000.000 đồng, dư nợ đến ngày 19/6/2025 là 210.238.419 đồng Ngân hàng nhất trí đề ông Lưu Hồng V hàng tháng trích số tiền lương 15.000.000 đồng/tháng để trả nợ cho A1 đến khi hết nợ gốc và lãi nên HĐXX không đề cập xem xét.

[6] Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ông Lưu Hồng V phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lưu Hồng V đối với bà Nguyễn Thị Thúy H. Cho ông Lưu Hồng V được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thúy H.
  2. Về tài sản chung: Không xem xét chia tài sản chung trong vụ án này. Ông V, bà H có quyền khởi kiện vụ án khác về chia tài sản chung sau khi ly hôn khi có yêu cầu theo quy định tại khoản 2 Điều 28 của BLTTDS 2015.
  3. Về án phí: Ông Lưu Hồng V phải chịu án phí HNGĐ-ST số tiền 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí ông V đã nộp theo Biên lai số 0003771 ngày 05/03/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang.

Đương sự có quyền kháng cáo lên cấp phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/6/2025).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND tỉnh Hà Giang
  • - VKSND huyện Mèo Vạc;
  • - THADS huyện Mèo Vạc;
  • - Các đương sự;
  • - UBND thị trấn Mèo Vạc;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Củng Trần Lương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HNGĐ – ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÈO VẠC, TỈNH HÀ GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 05/2025/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÈO VẠC, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Lưu Hồng L có đơn đề nghị xin ly hôn với chị Nguyễn Thị Thúy H, chị H không nhất trí ly hôn vi lý do vợ chồng chưa thỏa thuận được việc chia tài sản chung vợ chồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger