Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG HÀ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST

Ngày 21-02-2025

V/v: Ly hôn, nuôi con chung

giữa chị Ly và anh Luân.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Lương Văn Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Đinh Trọng Thanh và bà Đào Thị Thu Hằng.

- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Mai - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà tham gia phiên tòa: bà Hoàng Thị Hoài Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 21-02-2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 264/2024/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03-02-2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Hà L, sinh năm 1993.
  2. Nơi thường trú: tổ dân phố N, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình.

  3. Bị đơn: Anh Vũ Thành L1, sinh năm 1989.
  4. Nơi thường trú: tổ dân phố N, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình.

    (chị L có mặt, anh L1 có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa Ngô Thị Hà L trình bày:

Chị và anh L1 kết hôn với nhau là do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND xã H, huyện H, tỉnh Nam Định vào ngày 22-11-2019. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hòa thuận, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung. Vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng từ tháng 7 năm 2023 và đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2023 đến nay. Nay chị xác định tình cảm không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L1; về nuôi con chung: chị và anh L1 có 01 con chung là cháu Vũ Phương T, sinh ngày 07-7-2020. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con chung và

không yêu cầu anh L1 phải góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị; về chia tài sản và nợ chung: chị và anh L1 tự thỏa thuận, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai và biên bản hòa giải anh Vũ Thành L1 trình bày: Về điều kiện, thời gian, địa điểm kết hôn như chị L trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, tuy có xảy ra mâu thuẫn cãi vã nhưng chưa đến mức trầm trọng nhưng vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 9-2023 đến nay. Trong thời gian sống ly thân thỉnh thoảng anh có nhắn tin cho chị L với mong muốn vợ chồng quay lại đoàn tụ nhưng chị L không cho anh gặp. Nay chị L xin ly hôn anh cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ nhưng anh không đồng ý ly hôn với chị L, còn chị L cố tình muốn giải quyết ly hôn thì do chị L tự giải quyết; về nuôi con chung: anh và chị L có 01 con chung là Vũ Phương T, sinh ngày 07-7-2020. Trường hợp vợ chồng phải ly hôn thì anh cũng đồng ý để chị L trực tiếp nuôi con, chị L không yêu cầu anh góp cấp dưỡng nuôi con nhưng anh vẫn sẽ có trách với con chung; về chia tài sản và nợ chung: anh và chị L tự thỏa thuận, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản xác minh đại diện tổ dân phố N, thị trấn H, huyện H cung cấp như sau: vợ chồng anh L1, chị L mâu thuẫn như thế nào thì tổ dân phố cũng không nắm bắt được, chỉ biết vợ chồng chị L và anh L1 không chung sống cùng nhau từ tháng 9 năm 2023 cho đến nay.

Tại phiên tòa, trước khi Hội đồng xét xử nghị án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử, xử cho ly hôn giữa chị L và anh L1; về nuôi con chung: xử giao cho chị L trực tiếp nuôi con cháu Vũ Phương T, sinh ngày 07-7-2020, anh L1 không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị L, anh L1 được quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở; về chia tài sản chung: chị L và anh L1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về án phí: chị L phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

2

  1. Về tố tụng: chị L khởi kiện yêu cầu được ly hôn anh L1, anh L1 trú tại tổ dân phố N, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình; Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Anh L1 có đơn xin xử vắng mặt, vì vậy Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt anh L1 theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về hôn nhân: Chị L và anh L1 kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND xã H, huyện H, tỉnh Nam Định vào ngày 22-11-2019, là hôn nhân hợp pháp. Chị L xác định sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận đến tháng 7 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng và sống ly thân từ tháng 9-2023 đến nay. Anh L1 cũng xác định tuy có xảy ra mâu thuẫn cãi vã nhưng chưa đến mức trầm trọng, nhưng vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 9/2023 đến nay. Mặc dù anh L1 không đồng ý ly hôn với chị L nhưng xét thấy vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 9-2023 cho đến nay anh L1 cũng không có biện pháp khắc phục để vợ chồng đoàn tụ và chị L cũng kiên quyết xin ly hôn nên Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng chị L, anh L1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, vì vậy cần xử cho ly hôn giữa chị L và anh L1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
  3. Về nuôi con chung: chị L và anh L1 có 01 con chung là cháu Vũ Phương T, sinh ngày 07-7-2020, chị L xin được trực tiếp nuôi con chung, và không yêu cầu anh L1 phải cấp dưỡng nuôi con, anh L1 cũng đồng ý để chị L trực tiếp nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy đây là sự thỏa thuận, tự nguyện của chị L, anh L1 không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định của pháp luật, cần chấp nhận.
  4. Về chia tài sản chung: chị L và anh L1 không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết.
  5. Về án phí: chị Ngô Thị Hà L phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: chị L và anh L1 có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều

3

84 của Luật Hôn nhân và gia đình. Các Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Ngô Thị Hà L và anh Vũ Thành L1.
  2. Về nuôi con chung: Giao cho cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng con chung Vũ Phương T, sinh ngày 07-7-2020. Anh L1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị L, anh L1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Chị Ngô Thị Hà L và anh Vũ Thành L1 có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.
  3. Về chia tài sản chung: không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: chị Ngô Thị Hà L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003947 ngày 31-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (chị L đã nộp đủ tiền án phí).
  5. Về quyền kháng cáo: Chị L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 21-02-2025), anh L1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Đương sự
  • - VKSND huyện Hưng Hà;
  • - Chi cục THA huyện Hưng Hà;
  • - UBND xã Hải Bắc, huyện Hải
  • Hậu, tỉnh Nam Định;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lương Văn Tuấn

4

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Văn Tuấn

5

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trần Thị N

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - Đương sự
  • - VKSND huyện Hưng Hà;
  • - Chi cục THA huyện Hưng Hà;
  • - UBND xã Tân Lễ;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trần Thị Nhàn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG HÀ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 08 giờ 00 ngày 06 tháng 6 năm 2023

Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Với Hội đồng xét xử gồm có:

6

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Văn Luân

2. Ông Nguyễn Văn Thực

Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý 54/2023/TLST-HNGĐ ngày 17-3-2023 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Bùi Thị Thơi, sinh năm 1983.

ĐKHK: thôn Quan Khê, xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Tạm trú: Tổ dân phố Vân Đông, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Bị đơn: anh Vương Đình Trung, sinh năm 1978.

Địa chỉ: thôn Quan Khê, xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

(chị Thơi, anh Trung đều có đơn xin xử vắng mặt).

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU

Căn cứ Điều 147 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Bùi Thị Thơi và anh Vương Đình Trung.
  2. Về nuôi con chung: Chị Thơi, anh Trung có 02 con chung, cháu Vương Thị Thanh Thủy, sinh năm 2003 đã trưởng thành và tự lập về kinh tế, nên không xem xét giải quyết. Giao cho chị Thơi nuôi cháu Vương Đình Long, sinh ngày 16/11/2005, anh Trung không phải cấp dưỡng nuôi con, anh Trung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về chia tài sản chung: Không xem xét giải quyết.

7

  1. Về án phí: Chị Thơi phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Thơi đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004062 ngày 17-3-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (chị Thơi đã nộp đủ tiền án phí).
  2. Về quyền kháng cáo: Chị Thơi, anh Trung vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Biểu quyết nhất trí: 3/3.

Nghị án kết thúc vào hồi 08 giờ 15 phút ngày 06-6-2023.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HNGĐ-ST ngày 21/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 05/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án LH giữa chị L và anh L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger