|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST Ngày 18/11/2025 V/v: “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con". |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Minh Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Phú Hoà
Ông Nguyễn Bá Viện.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Phú - Thẩm tra viên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa:
Ông Phùng Đức Dũng - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 18 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 06/2025/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXX-ST ngày 31 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thanh T, sinh ngày 01/9/1992; HKTT: Thôn Đ, xã G, tỉnh Bắc Ninh; Địa chỉ: Số C, đường F, thành phố M, huyện M, Đài Loan - Trung Quốc (vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1992; Địa chỉ: Số H tổ C, phường H, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân G, sinh ngày 16/7/1989; Địa chỉ: Thôn Đ, xã G, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Hoàng Thanh T và anh Nguyễn Xuân G thống nhất trình bày:
Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị T1 và anh Nguyễn Xuân G kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn theo qui định của pháp luật vào ngày 19 tháng 4 năm 2013 tại UBND xã Q, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn và tổ chức lễ cưới theo phong tục tại địa phương, chị T1 về làm dâu và sinh sống cùng gia đình anh G ở thôn Đ, xã Q, huyện G, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn Đ, xã G, tỉnh Bắc Ninh).
Mâu thuẫn vợ chồng theo chị T1 trình bày: Chị và anh Nguyễn Xuân G thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc. Mặc dù các bên đã hòa giải nhiều lần, nhưng tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể hàn gắn, sống chung với nhau. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn đã trầm trọng kéo dài, nên chị T1 yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Xuân G.
Mâu thuẫn vợ chồng theo anh G trình bày: Trong cuộc sống hàng ngày do không hợp nhau về tính cách, bất đồng về quan điểm sống. Mặc dù không xảy cãi nhau nhiều, nhưng vợ chồng không có tiếng nói chung, do vậy mà vợ chồng không có hạnh phúc. Hiện tại chị T1 đang lao động và sống tại Đài Loan - Trung Quốc. Anh G xác định vợ chồng không còn tình cảm, sống ly thân từ 2021 đến nay. Hai bên gia đình cũng hoà giải tác động nhưng cuộc sống hôn nhân không được cải thiện theo hướng tích cực. Nay anh G nhận thấy vợ chồng sống không có hạnh phúc, tình trạng hôn nhân đã trầm trọng kéo dài. Chị T1 xin ly hôn với anh thì anh đồng ý ly hôn.
Về con chung: Chị Hoàng Thanh T và anh Nguyễn Xuân G cùng thống nhất trình bày có 02 con chung là Nguyễn Xuân C, sinh ngày 03/7/2015; Nguyễn Xuân D, sinh ngày 08/01/2014. Hiện nay cháu Nguyễn Xuân C đang ở bên nhà chị T và sống cùng ông bà ngoại, cháu Nguyễn Xuân D đang do anh G trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu C, còn anh G sẽ sẽ trực tiếp nuôi dưỡng cháu D. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh G nhất trí với quan điểm của chị T về con chung.
Về tài sản chung và công nợ: Chị Hoàng Thanh T và anh Nguyễn Xuân G cùng xác định không có gì đề nghị Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án tới khi nghị án là đảm bảo đúng theo trình tự thủ tục tố tụng.
Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Luật số: 85/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải đối thoại tại Toà án: Xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thanh T.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thanh T được ly hôn anh Nguyễn Xuân G.
- Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Xuân D, sinh ngày 08 tháng 01 năm 2014 cho anh G trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung là cháu Nguyễn Xuân C sinh ngày 03 tháng 7 năm 2015 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh G và chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Cấp dưỡng nuôi con chung do hai bên đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và công nợ: Chị T và anh G không đề nghị Toà án giải quyết, do vậy không đề cập giải quyết
- Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn chị Hoàng Thanh T khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp về ly hôn, nuôi con với anh Nguyễn Xuân G. Căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết trong vụ án này thuộc thẩm quyền của Tòa án.
[1.2 ] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Nguyễn Xuân G có địa chỉ tại Thôn Đ, xã G, tỉnh Bắc Ninh; Chị Hoàng Thanh T có địa chỉ: Số C, đường F, thành phố M, huyện M, Đài Loan - Trung Quốc. Nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và Luật số: 85/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 25/6/2025 và có hiệu lực ngày 01/7/2025 thì thẩm quyền thuộc Toà án nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh giải quyết.
[1.3] Trong quá trình giải quyết vụ án, do chị T đang ở nước ngoài, xin được vắng mặt tại các buổi làm việc và phiên toà sơ thẩm. Quá trình giải quyết vụ án chị Hoàng Thị T1 ủy quyền cho anh Phạm Tuấn A1 đại diện cho chị T1 nộp hồ sơ, tài liệu, nộp tạm ứng án phí lệ phí, nhận thay các văn bản tố tụng của tòa án và giải quyết các vấn đề về con chung, tài sản chung, công nợ. Người đại diện theo ủy quyền cho chị T1 xin vắng mặt tại phiên tòa; Anh G cũng có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa nên việc Tòa án đưa vụ án ra xét xử là phù hợp với quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thanh T với anh Nguyễn Xuân G thấy: Chị Hoàng Thanh T và anh Nguyễn Xuân G được Ủy ban nhân dân xã Q, huyện G, tỉnh Bắc Ninh đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 19 tháng 4 năm 2013 trên cơ sở tự nguyện, như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh G là hợp pháp.
Sau khi kết hôn anh G và chị T sống hạnh phúc được thời gian ngắn, sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh G và chị T có sự khác nhau về quan điểm sống, không hợp nhau về tính cách, mặc dù không xảy ra xô xát, nhưng vợ chồng không quan tâm đến nhau, không có tiếng nói chung nên vợ chồng sống không có hạnh phúc. Nay chị T xác định mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ và xin được ly hôn anh G. Những sự việc và mâu thuẫn trên anh G cũng thừa nhận và anh G đồng ý ly hôn. Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng chị T vắng mặt, anh G cũng không xin đoàn tụ. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng giữa anh G, chị T không còn, mẫu thuẫn đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình xử cho chị Hoàng Thanh T được ly hôn với anh Nguyễn Xuân G là phù hợp.
[2.2] Về con chung: Qua xem xét, Hội đồng xét xử nhận thấy trong thời gian chung sống vợ chồng chị T, anh G sinh được 02 con chung: Nguyễn Xuân D, sinh ngày 08 tháng 01 năm 2014 và Nguyễn Xuân C sinh ngày 03 tháng 7 năm 2015. Hiện nay cháu D đang sống cùng anh G, cháu C sống tại gia đình chị T. Chị T đề nghị trực tiếp nuôi dưỡng cháu C, anh G có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu D. Cấp dưỡng nuôi con chị T và anh G đều không đề nghị tòa án giải quyết. Các con chung đều nhất trí với yêu cầu của chị T và anh G. Do vậy, để đảm bảo điều kiện chăm sóc tốt nhất và đảm bảo sự ổn định về tâm sinh lý cũng như việc học tập của các cháu, căn cứ các điều 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao cháu Nguyễn Xuân D cho anh G trực tiếp nuôi dưỡng; Giao cháu Nguyễn Xuân C cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh G và chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Cấp dưỡng nuôi con: Anh G và chị T không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung và công nợ: Chị Hoàng Thanh T và anh Nguyễn Xuân G không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Chị Hoàng Thanh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Luật số: 85/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải đối thoại tại Toà án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thanh T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thanh T được ly hôn anh Nguyễn Xuân G.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Xuân D, sinh ngày 08/01/2014 cho anh Nguyễn Xuân G trực tiếp nuôi dưỡng; Giao con chung là cháu Nguyễn Xuân C, sinh ngày 03/7/2015 cho chị Hoàng Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh G và chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con không xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung và công nợ: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Hoàng Thanh T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ số tiền tạm ứng an phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số: 0001411 ngày 09 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh. Chị Hoàng Thanh T đã nộp đủ tiền án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lương Minh Phương |
Bản án số 05/2025/HNGĐ-ST ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH về tranh chấp về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 05/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị T và Nguyễn Xuân G ly hôn
