Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ TIÊN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 17-02-2025

V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mạc Văn Hên.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Đình Chiến.
  2. Bà Lâm Lệ Oanh.

Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Như Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên tham gia phiên toà:

Bà Lâm Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 133/2024/TLST- HNGĐ, ngày 15 tháng 7 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 30 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Tạ Kim H, sinh năm 1993. Địa chỉ: Tổ H, khu phố B, phường P, thành phố H, tỉnh Kiên Giang, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Ông Lý Văn D, sinh năm 1974. Địa chỉ: Tổ H, khu phố B, phường P, thành phố H, tỉnh Kiên Giang, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 19/6/2024 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Tạ Kim H trình bày: Bà và ông Lý Văn D chung sống với nhau và được Ủy ban nhân dân phường P, thị xã H cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 27/02/2012. Trong quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc, thời gian sau vợ chồng thường xảy ra nhiều mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, mỗi lần cự cãi thì ông D có đánh bà, vợ chồng đã ly thân khoảng 4 năm. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Lý Văn D.

Về con chung: Có hai đứa con tên Lý Kim T, sinh ngày 14/10/2012, giới tính nữ và Lý Văn D1, sinh ngày 25/5/2018, giới tính nam, hiện nay đang sống cùng ông D. Ly hôn bà đồng ý giao các con cho ông D tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và cấp dưỡng nuôi con chung mỗi đứa là 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi các con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung và về nợ chung: Không có.

Tại bản tự khai ngày 20/7/2024 và Biên bản hòa giải ngày 02/8/2024, bị đơn ông Lý Văn D trình bày: Ông và bà H chung sống với nhau và được UBND phường P, thị xã H cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 27/02/2012. Trong quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, ông thừa nhận lúc đó quá tức giận nên có đánh trúng mặt bà H, vợ chồng đã ly thân được 04 năm, hiện nay vợ chồng không còn tình cảm, bà H bỏ nhà đi đã lâu nay trở về xin ly hôn ông không đồng ý, ông muốn kéo dài thời gian.

Về con chung: Có hai đứa con như bà H trình bày. Trường hợp vợ chồng ly hôn ông xin được tiếp tục nuôi các con đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu bà H cấp dưỡng.

Về tài sản chung và về nợ chung: Không có.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên phát biểu về việc tuân theo tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về việc tuân theo tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Bà H và ông D chung sống với nhau có đăng ký kết hôn, trong quá trình chung sống ông bà phát sinh mâu thuẫn, ông bà đã ly thân không còn yêu thương chăm sóc nhau nữa, xét thấy hôn nhân của ông bà đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H. Về con chung ông bà có hai đứa con tên Lý Kim T, sinh ngày 14/10/2012, giới tính nữ và Lý Văn D1, sinh ngày 25/5/2018, giới tính nam đang sống cùng với ông D, ly hôn ông D xin được tiếp tục nuôi dưỡng và bà H cũng đồng ý nên đề nghị Hội đồng xét xử giao con cho ông D tiếp tục được nuôi dưỡng, ghi nhận ý kiến của ông D không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung ông bà trình bày không có nên không xem xét; Về án phí bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, lời trình bày của bị đơn và căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp ly hôn. Trong vụ án này bị đơn ông Lý Văn D cư trú tại khu phố B, phường P, thành phố H, tỉnh Kiên Giang nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Tạ Kim H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và bị đơn ông Lý Văn D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.

[3] Về hôn nhân: Bà H và ông D chung sống với nhau và được Ủy ban nhân dân phường P, thị xã H (nay là thành phố H), tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 16/2012, quyển số I/2012, ngày 27/02/2012, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn ông bà chung sống với nhau được một khoảng thời gian thì ly thân cho đến nay. Phía bà H xin ly hôn nhưng ông D không đồng ý ly hôn, ông D cho rằng vợ chồng chung sống với nhau thường xảy mâu thuẫn là chuyện bình thường, mục đích của ông D không đồng ý ly hôn là để kéo dài thời gian nhằm ràng buộc sự tự do của bà H, không phải muốn vợ chồng trở về đoàn tụ. Mặt khác, tại biên bản hòa giải ngày 02/8/2024 (BL 31) ông D thừa nhận quá trình chung sống có đánh đập bà H dẫn đến vợ chồng ly thân khoảng 03 năm. Xét thấy, ông bà đã ly thân không còn yêu thương chăm sóc cho nhau nữa, đã bỏ mặc nhau muốn sống ra sao thì sống, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về nuôi con chung: Hai đứa con tên Lý Kim T và Lý Văn D1 đang sống cùng ông D, phía bà H cũng đồng ý giao các con cho ông D nuôi dưỡng. Do đó, cần giao các con cho ông D tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp với nguyện vọng của con, ghi nhận ý kiến của ông D không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Ông bà trình bày không có nên không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí: Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho bà Tạ Kim H được ly hôn với ông Lý Văn D.
  2. Về nuôi con chung: Giao các con tên Lý Kim T, sinh ngày 14/10/2012, giới tính nữ và Lý Văn D1, sinh ngày 25/5/2018, giới tính nam cho ông Lý Văn D nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, ghi nhận sự tự nguyện của ông D không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung. Ông D cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở bà H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí: Bà Tạ Kim H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002071 ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang nên bà không phải nộp thêm.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND thành phố Hà Tiên;
  • - Chi cục THADS thành phố Hà Tiên;
  • - UBND phường Pháo Đài, Tp. Hà Tiên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Mạc Văn Hên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HNGĐ-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 05/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger