Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 - LAI CHÂU

Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST

Ngày 16-12-2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đèo Văn Vĩnh
2. Ông Lò Văn Chiên
- Thư ký phiên toà: Bà Lù Thị Xuân -Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lai Châu xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự thụ lý số: 34/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hạng Thị T, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Bản S, xã D, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.

2. Bị đơn: Anh Ma A S, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Bản S, xã D, tỉnh Lai Châu. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam T1 - Cục C1 - Bộ C2. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” cùng các lời khai có trong hồ sơ nguyên đơn chị Hạng Thị T trình bày:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Ma A S đăng ký kết hôn 11/4/2016 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện P cũ nay là xã D, tỉnh Lai Châu. Khi kết hôn, chị và anh S hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc. Trước khi kết hôn anh S đã từng kết hôn với người khác và đã ly hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến năm 2021

anh S phải đi chấp hành án vì phạm tội tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài, anh S phải đi chấp hành án 07 năm 06 tháng tù. Hiện nay anh S đang chấp hành án tại Trại giam T1 – Cục C1 – Bộ C2. Trong thời gian anh S đi chấp hành án cuộc sống của chị rất khó khăn, anh S đã chấp hành án được khoảng 04 năm. Đến nay chị xét thấy tình cảm giữa chị và anh S không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh S.

2. Về con chung: Chị và anh S có 01 con chung là Ma A C, sinh ngày 12/11/2016. Hiện tại, con chung do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi con chung trưởng thành và không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con vì hiện nay anh S đang đi chấp hành án, không có điều kiện để nuôi dưỡng và chăm sóc con.

3. Về chia tài sản: Tài sản chung, nợ chung, cho vay chung chị T không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Ý kiến của của bị đơn anh Ma A S: Anh và chị T kết hôn vào ngày 11/4/2016 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện P cũ nay là xã D, tỉnh Lai Châu. Khi kết hôn anh chị hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn anh và chị T chung sống hạnh phúc, không mâu thuẫn gì. Anh bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xét xử về tội Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài và bị xử phạt 07 năm 06 tháng tù. Anh đi chấp án tại Trại giam T1 - Cục C1 - Bộ C2 từ ngày 02/8/2021. Trước khi đi chấp hành án vợ chồng anh vẫn chung sống hạnh phúc, trong thời gian anh đi chấp hành án chị T thi thoảng có đến thăm và động viên anh. Đến tháng 4 năm 2025 chị T có thông tin với anh về việc sẽ ly hôn anh không nhất trí và đến nay chị T vẫn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh cũng không nhất trí vì anh vẫn còn yêu thương vợ và mong muốn sau khi chấp hành án xong sẽ tiếp tục chung sống cùng chị T để nuôi dạy con.

Về con chung: Anh xác nhận có 01 con chung như chị T trình bày, hiện nay con chung do chị T trực nuôi dưỡng chăm sóc. Nếu phải ly hôn, anh cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con và yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con theo quy định.Về tài sản chung, nợ chung anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Lai Châu phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền thụ lý vụ án; thụ lý đơn yêu cầu ly hôn; việc xác định quan hệ tranh chấp và tư cách của đương sự trong vụ án; việc ra và gửi thông báo thụ lý cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử cùng hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định. Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký: Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng

xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 5 Nghị quyết số 01/2025/ NQ- HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hạng Thị T: cho chị Hạng Thị T được ly hôn với anh Ma A S; giao con chung Ma A C, sinh ngày 12/11/2016 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh S có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con chung do nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét; trong trường hợp vì quyền lợi chính đáng của con chưa thành niên, các bên đều có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định. Về tài sản chung, nợ chung nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; miễn án phí cho nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Ma A S có nơi cư trú tại bản S, xã D, tỉnh Lai Châu. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lai Châu. Anh S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng có đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án không tiến hành hòa giải và Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Phiên tòa hôm nay, nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hạng Thị T và anh Ma A S đăng ký kết hôn ngày 11/4/2016 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu nay là xã D, tỉnh Lai Châu. Việc kết hôn giữa chị T và anh S hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh S là hợp pháp. Quá trình chung sống cùng nhau giữa chị T và anh S không có mâu thuẫn gì nhưng do anh S vi phạm pháp luật, phải đi chấp hành án tại Trại giam T1 - Cục C1 - Bộ C2 từ ngày 21/8/2021, thời gian chấp hành án 07 năm 06 tháng. Chị T xét thấy tình cảm không còn, không mong muốn tiếp tục chung sống với anh S sau khi anh S chấp hành án xong và đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn nhưng anh S không nhất trí, mong muốn được tiếp tục chung sống với chị T để nuôi dậy con sau khi chấp hành án xong. Xét thấy, hiện nay anh S đang phải đi chấp hành án hình phạt tù giam do vi phạm pháp luật nên nên giữa chị T và anh S không có điều kiện quan tâm, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau, không có điều kiện cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc của gia đình và không thể sống chung cùng nhau nên đã ảnh hưởng đến tình nghĩa vợ chồng, chị T kiên quyết xin ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu khởi kiện của chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh S là hoàn toàn có căn cứ theo quy định tại Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung: Chị T, anh S đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Ma A C, sinh ngày 12/11/2016 cho đến khi con chung trưởng thành. Xét thấy, con chung hiện đang do chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, anh S đang đi chấp hành án hình phạt tù giam nên không thể có điều kiện để trực tiếp chăm sóc con, con chung có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy, Tòa án thấy rằng cần giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị T không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về chia tài sản chung: Chị T và anh S đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Chị Hạng Thị T là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và xin miễn án phí nên theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn.

Quan điểm giải quyết vụ án của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lai Châu tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hạng Thị T được ly hôn với anh Ma A S.
  2. Về con chung: Giao con chung Ma A C, sinh ngày 12/11/2016 cho chị Hạng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi.

    Anh Ma A S có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Hạng Thị T không yêu cầu anh Ma A S phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về chia tài sản chung: Chị Hạng Thị T và anh Ma A S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn Hạng Thị T.
  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND khu vực 3 - Lai Châu;
  • - Phòng THADS khu vực 3 - Lai Châu;
  • - UBND xã Dào San, tỉnh Lai Châu;
  • - Nguyên đơn;
  • - Bị đơn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Tuyết Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HNGĐ-ST ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 05/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Hạng Thị Tầu xin ly hôn anh Ma A Sài
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger