Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚC YÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

Số: 05/2025/HNGĐ - ST

Ngày 14 tháng 02 năm 2025

“V/v: Ly hôn"

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đường Ngọc Đại và bà Phan Thị Nhung.

Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Xuân Tú là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 183/2024/TLST - HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2024, về việc: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1943; nơi cư trú: Xóm T, K, xã V, huyện M, thành phố Hà Nội, (có mặt).

Bị đơn: Bà Đỗ Thị Minh H, sinh năm 1945; nơi cư trú: Ngõ H, đường L, tổ D, phường H, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 9 năm 2024 và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn, ông Nguyễn Ngọc N trình bày:

Ông và bà Đỗ Thị Minh H tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau tại Uỷ ban hành chính thị xã P, huyện M (cũ) nay là thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc vào ngày 22/11/1978. Cuối năm 1978, ông và bà H được Nhà nước giao cho thửa đất hiện nay bà H đang sử dụng. Sau ngày cưới, ông và bà H về sinh sống tại khu tập thể Uỷ ban thị xã P. Sau khi được Nhà nước giao đất, ông và bà H làm nhà và chuyển về sinh sống tại phường H, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc (nơi thửa đất hiện nay bà H đang sử dụng cùng với chị M là con gái của ông bà). Quá trình chung sống, ban đầu tình cảm vợ chồng hạnh phúc. Đến năm 1985, ông và bà H xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do, trước khi ông kết hôn với bà H, ông đã có một vợ và 3 con cùng với người vợ đầu. Do ông và người vợ đầu sống không hạnh phúc nên ông bà ly hôn, sau khi ông ly hôn với người vợ đầu thì ông kết hôn với bà H (bà H là người vợ thứ hai) của ông.

Sau khi kết hôn với bà H, bà H cản trở việc ông thăm nom chăm sóc 03 người con riêng của ông với người vợ đầu nên ông và bà H đã xảy ra mâu thuẫn. Thời điểm đó, hoàn cảnh gia đình ông rất éo le, vất vả. Ông còn bố mẹ già, con thơ nhỏ nên ông phải về quê là xã K huyện M sinh sống để chăm sóc bố mẹ già và nuôi dạy các con riêng. Trong thời gian sống ở quê, tình cảnh của ông và bà H dạn nứt nên ông đã nảy sinh tình cảm và sống chung với bà Nguyễn Thị V như vợ chồng từ năm 1990, từ đó đến nay, ông và bà H sống ly thân với nhau. Trong thời gian sống chung với bà V, ông và bà V đã sinh được 03 người con. Hiện tại ông đang sống một mình, trong người đang mang căn bệnh hiểm nghèo (ung thư trực tràng). Từ năm 1990 đến nay, bà H bỏ bê không hỏi han hay chăm sóc gì đến ông. Bà H còn chửi bới, đe doạ giết ông nên ông thấy tình cảm vợ chồng không còn nên ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà H để ông sống nốt quãng thời gian còn lại được vui vẻ.

Bị đơn, bà Đỗ Thị Minh H trình bày:

Về thời gian đăng ký kết hôn, thời gian chung sống, bà H thừa nhận đúng như lời trình bày ở trên của ông N.

Về nguyên nhân mẫu thuẫn và lý do ông N đưa ra để xin ly hôn với bà, bà H xác định là không đúng. Theo bà H thì nguyên nhân chính bà và ông N xảy ra mâu thuẫn, ông N xin ly hôn bà là do ông N nghe người ngoài xúi dục. Bản thân bà vẫn còn tình nghĩa đối với ông N, mặc dù ông N là người phản bội bà, sống chung như vợ chồng với bà V, sinh 03 người con riêng với bà V. Ở độ tuổi ông N và bà bây giờ, tình cảm nam nữ không còn quan trọng bằng tình nghĩa vợ chồng. Hiện tại ông N đang bị bệnh hiểm nghèo, sống một mình không có người thân chăm sóc nên bà không đồng ý lý hôn, bà đề nghị Toà án cho bà được đoàn tụ để bà có cơ hội chăm sóc ông N thời gian cuối đời chọn đạo nghĩa vợ chồng. Tuy ông N và bà sống ly thân với nhau nhưng bà vẫn thường xuyên về thăm hỏi, động viên ông N. Mỗi khi thấy bà về, ông N đều chủ động chửi bới, xua đuổi không cho bà về rồi nói xúc phạm bà, thậm trí còn đuổi đánh bà. Mặc dù hiện tại, tình cảm vợ chồng giữa bà và ông N không còn như trước nhưng vì danh dự gia đình, hơn nữa lúc này bà thấy cần thiết phải chăm sóc ông N do vậy bà không đồng ý ly hôn với ông N. Bà đề nghị Tòa án vẫn chỉ cho ông bà sống ly thân như hiện tại mà không cho ông bà ly hôn để các con, các cháu của ông bà có đủ tình cảm của cả ông N và bà. Ngoài ra, bà và các con, các cháu cũng có cớ để về chăm sóc cho ông N. Nếu giờ mà đồng ý cho ông N ly hôn với bà thì ông N sẽ không cho bà và các con, các cháu về chăm sóc ông N lúc bệnh tật.

Về con chung: Ông N và bà H đều xác định, vợ chồng có 01 con chung là chị Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 1979. Hiện tại, bà H đang sống cùng với vợ chồng chị M. Nếu ly hôn, ông N và bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng, đất ở, đất canh tác, công nợ và công sức: Ông N và bà H thống nhất nếu ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, chị Nguyễn Thị Ngọc M là con chung của ông N, bà H và 03 người con riêng của ông N với người vợ đầu gồm bà Nguyễn Thị Đ, bà Nguyễn Thị B và bà Nguyễn Thị L đều thống nhất xác định, lời trình bày của ông N về mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông N là không đúng. Thực tế hiện tại ông N tuổi cao, bệnh tật nên tinh thần không tỉnh táo, lúc nhớ lúc quên dẫn đến trình bày lung tung. Bà H thường xuyên được các chị đưa về nhà thăm ông N nhưng mỗi lần bà H về thăm ông N đều bị ông N chửi bới, xua đuổi không cho vào nhà. Hiện tại ông N đang sống một mình, không người chăm sóc nên bà H không đồng ý, xin đoàn tụ để chăm sóc ông N thời gian cuối đời, các chị đồng ý và tha thiết đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin đoàn tụ của bà H.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến tại phiên tòa:

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Đối với nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử nên Viện kiểm sát không có kiến nghị, khắc phục gì.

- Về đường lối giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/6/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí. Xử:

Không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Ngọc N đối với bà Đỗ Thị Minh H.

Về con chung, tài sản chung, tài sản riêng, đất ở, đất canh tác; công nợ và công sức: Ông N và bà H không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Ông N được miễn toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Ông Nguyễn Ngọc N là nguyên đơn, yêu cầu xin ly hôn đối với bị đơn là bà Đỗ Thị Minh H. Bà H đang có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại phường H, thành phố P nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về ly hôn theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Vì vậy, Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã thụ lý và giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng trình tự tố tụng dân sự.

[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:

Ông Nguyễn Ngọc N xác định, tình cảm vợ chồng giữa ông và bà H không còn và không thể hàn gắn lại được với nhau nên ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà H. Bà H xác định, tuy ông N và bà hiện tại đang sống ly thân với nhau nhưng nguyên nhân dẫn đến việc ông N và bà sống ly thân là do ông N phản bội bà. Ông N sống chung với bà Nguyễn Thị V như vợ chồng từ năm 1990, giờ ông N già yếu, bệnh tật thì sống một mình, không người thân chăm sóc bà nên bà không đồng ý ly hôn mà xin được đoàn tụ để có điều kiện chăm sóc ông N thời gian cuối đời cho chọn vẹn.

Căn cứ vào lời trình bày của ông N, bà H trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Ông N, bà H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban hành chính thị xã P, huyện M (cũ) nay là thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc nên cần xác định đây là cuộc hôn nhân hợp pháp và được pháp luật công nhận.

Quá trình chung sống, từ năm 1990 ông N đã có quan mối quan hệ ngoài hôn nhân với bà Nguyễn Thị V và sinh cùng với bà V được 03 người con. Trong thời gian ông V chung sống với bà V, Hội đồng xét xử khẳng định ông N không quan tâm chăm sóc bà H và chị M như những gia đình khác là có thật. Việc ông N công khai sống chung như vợ chồng với bà V một thời gian dài từ năm 1990 trong khi ông N, bà H vẫn đang tồn tại hôn nhân, chưa ly hôn. Do vậy, ông N là người có lỗi với bà H đồng thời vi phạm chế độ một vợ, một chồng. Ngoài ra, ông N trình bày ông và bà H sống không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tuy nhiên ông N chính là nguyên nhân dẫn đến việc ông và bà H sống ly thân với nhau thời gian kéo dài xuyên suốt từ những năm 1990 trở lại đây. Tuy trên thực tế bà H là vợ hợp pháp của ông N nhưng bà H lại phải sống cảnh chung tình cảm vợ chồng với bà V điều này trái với đạo đức xã hội và vi phạm quy định của pháp luật. Hiện tại, ông N không còn chung sống với bà V, bản thân bà H cũng không có yêu cầu gì rộng lượng tha thứ và chấp nhận cuộc hôn nhân sống chung vợ, chung chồng nhiều năm. Ngoài ra, trong người ông N hiện tại cũng đang mắc bệnh hiểm nghèo rất cần có người thân bên cạnh chăm sóc, động viên cho nên khi ông N xin ly hôn, bà H nhất quyết không đồng ý và xin được đoàn tụ để chăm sóc ông N lúc xế chiều là có căn cứ, phù hợp với đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của Điều 51 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điều này đồng nghĩa với việc, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông N đối với bà H.

Về con chung; tài sản chung, tài sản riêng, đất ở, đất canh tác; công nợ và công sức: Do không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông N nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[4]. Về án phí:

Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.

Do ông Nguyễn Ngọc N là người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm nên ông N không phải chịu án phí.

[5]. Quan điểm đề xuất của Kiểm sát viên đối với vụ án này là phù hợp có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên./.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông Nguyễn Ngọc N đối với bà Đỗ Thị Minh H.
  2. Về án phí: Nguyễn Ngọc N được miễn toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
  3. Quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Bích Hạnh

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HNGĐ - ST ngày 14/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về ly hôn

  • Số bản án: 05/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger