Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST

Ngày 13/02/2025

“V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hải

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Hoàng Thanh Tâm

2/ Ông Nguyễn Thế Nam

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tham gia

phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 706/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Ngô Đắc Q, sinh năm: 1966.
  • - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm: 1962.
  • Cùng địa chỉ: 1, tổ F, khu phố T, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
  • (Ông Q, bà V có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 13/12/2024 và các lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn ông Ngô Đắc Q trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị V chung sống với nhau từ năm 1991, hai bên gia đình tổ chức đám cưới tại xã X (nay là phường X). Vợ chồng có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại xã X vào năm 1992 và được cấp một giấy chứng nhận kết hôn. Tuy nhiên do không để ý nên ông bà không biết giấy kết hôn không có chữ ký xác nhận và dấu mộc của xã.

Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông Q, bà V luôn bất đồng quan điểm, lối sống dẫn đến vợ chồng không có tiếng nói chung, không tôn trọng nhau, thường xuyên chửi bới nhau. Ông bà vẫn sống chung nhà nhưng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên ông Q yêu cầu được ly hôn với bà V.

Về con chung: Ông bà có 02 con chung là cháu Ngô Đắc M, sinh ngày: 06/11/1992 và Ngô Thị Kim Y, sinh ngày 23/9/2002. Hiện 02 cháu đã trưởng thành và có khả năng lao động nên ông Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

- Bị đơn bà Nguyễn Thị V trình bày: bà V xác nhận lời trình bày của ông Q về thời điểm chung sống, diễn biến quan hệ hôn nhân, mâu thuẫn vợ chồng như bà ông Q trình bày là đúng. Do khi đăng ký kết hôn, vợ chồng không để ý nên giấy chứng nhận kết hôn không có chữ ký xác nhận và dấu mộc của xã. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện.

Về con chung: Ông bà có 02 con chung là cháu Ngô Đắc M, sinh ngày: 06/11/1992 và Ngô Thị Kim Y, sinh ngày 23/9/2002. Hiện 02 cháu đã trưởng thành và có khả năng lao động nên ông Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

- Ý kiến của kiểm sát viên:

  • + Về việc tuân theo pháp luật của Tòa án và đương sự trong việc giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đều thực hiện đúng theo quy định của BLTTDS. Những người tham gia tố tụng cũng chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS.
  • + Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Đắc Q. Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Ngô Đắc Q và bà Nguyễn Thị V; Về con chung: Đã thành niên nên không xem xét; Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết; Về nợ chung: không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Ông Ngô Đắc Q có đơn yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị V. Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu khởi kiện thuộc những trường hợp tranh chấp về Hôn nhân và gia đình với vụ việc được xác định là “ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[2] Về thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị V có địa chỉ cư trú tại 1, tổ F, khu phố T, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai là người bị nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[4] Về quan hệ hôn nhân: Ông Ngô Đắc Q và bà Nguyễn Thị V cùng thừa nhận chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1991, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X (nay là phường X) vào năm 1992. Tuy nhiên, giấy chứng nhận kết hôn do ông bà cung cấp không có chữ ký xác nhận và dấu mộc của Ủy ban nhân dân xã. Tại biên bản xác minh ngày 15/01/2025, Ủy ban nhân dân phường X cho biết qua kiểm tra xác định không có thông tin về việc ông Ngô Đắc Q và bà Nguyễn Thị V có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường X. Ngoài ra, ông Quảng bà V1 đã thống nhất với kết quả xác minh và không cung cấp thêm chứng cứ nào khác chứng minh việc đã hoàn tất thủ tục đăng ký kết hôn. Do đó, đủ cơ sở xác định ông Q, bà V1 chưa thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.

Xét quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên gây gỗ, cãi vã, hiện hai bên đã bỏ mặc, không còn quan tâm nhau nữa. Điều này được ông Q, bà V1 xác nhận nên đủ cơ sở cho rằng ông bà đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của ông Q là có cơ sở. Tuy nhiên việc ông Q, bà V1 chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn theo đúng quy định tại cơ quan chức năng có thẩm quyền là vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình nên căn cứ quy định tại Điều 9, Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết 35/2000/ QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, không công nhận ông bà là vợ chồng.

[5] Về con chung: Đã thành niên, có khả năng lao động nên không xem xét.

[6] Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[7] Về nợ chung: Đương sự khai không có nên không xem xét.

[8] Về án phí: Ông Q phải nộp theo quy định của pháp luật.

[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố L phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Các Điều 9, 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 về việc thi hành Luật hôn nhân và Gia đình năm 2000; Các Điều 147, 227, 228, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/016 quy định về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Đắc Q. Tuyên bố không công nhận ông Ngô Đắc Q và bà Nguyễn Thị V là vợ chồng.
  2. Về con chung: Đã thành niên, có khả năng lao động nên không xem xét.
  3. Tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
  4. Về nợ chung: Đương sự khai không có nên không xem xét.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Q phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ông Q đã nộp tại biên lai thu tiền số 0006060 ngày 13/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh. Ông Q đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh ĐN;
  • - VKS cùng cấp;
  • - THADS TP.LK;
  • - UBND phường Xuân Tân;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HNGĐ-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn

  • Số bản án: 05/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không công nhận vợ chồng giữa ông Q, bà V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger