Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HOÀNG SU PHÌ

TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 05/2025/HNGĐ-ST

Ngày 12-6-2025

V/v tranh chấp ly hôn,

nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀNG SU PHÌ, TỈNH HÀ GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khuyên.

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Nguyễn Thị Bích Hà

Ông Cao Xuân Tú

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Diệu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoàng Su Phì, tỉnh H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoàng Su Phì, tỉnh H tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trần Kha - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoàng Su Phì xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 67/2024/TLST- HNGĐ, ngày 05 tháng 12 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXX-ST, ngày 09 tháng 5 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/QĐXX-ST, ngày 27 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lý Thị T, sinh năm 2003; địa chỉ: Thôn C H, xã N, huyện H, tỉnh H.Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Anh Hoàng Seo C, sinh năm 2002; địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện H, tỉnh H. Vắng mặt sau khi đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện cùng các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án. Nguyên đơn là chị Lý Thị T trình bày như sau:

Chị Lý Thị T và anh Hoàng Seo C tự tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 23/6/2022 tại ủy ban nhân dân xã S, huyện H, tỉnh H. Sau khi đăng ký kết hôn vợ chồng anh C, chị T chung sống với nhau được một thời gian thì vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn và cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Nay chị T xin ly hôn anh C. Nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến việc yêu cầu ly hôn là trong thời gian chung sống thì anh C không chịu tập trung làm ăn mà ham chơi các trò trên mạng và làm mất tiền nên không đưa tiền cho chị T để vợ chồng cùng nhau chăm lo cho con và phát triển kinh tế gia đình. Vợ chồng mỗi người tự kiếm tiền, tự tiêu riêng nên vợ chồng không thống nhất với nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được mọi người hòa giải gồm có bố mẹ hai bên và trưởng thôn Hoàng N xã N, huyện H. Vì đã hòa giải rồi mà anh C vẫn lại chơi bời không tu chí làm ăn nên tôi không thể chung sống nữa. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2024 đến nay. Vợ chồng cứ nói chuyện là chửi nhau nên không thể bàn bạc hay nói được gì giữa hai vợ chồng và không thể hòa hợp, hạnh phúc. Gia đình đã hòa giải và thấy vợ chồng không thể hàn gắn nên cũng thống nhất để chị T và anh C ly hôn.

Về nuôi con chung: Vợ chồng chị T và anh C có một đứa con chung tên là Hoàng Minh K; sinh ngày 06/7/2022. Chị T đi làm công nhân xa nhà không cố định chỗ làm việc và ít có thời gian chăm con. Từ tháng 9 năm 2024 đến nay, chị T cho con ở với ông bà nội để con đi học tại xã S, huyện H. Ông bà có sức khỏe tốt và rất yêu thương chăm sóc cháu. Anh C không chịu thống nhất kinh tế với vợ nhưng vẫn quan tâm lo cho con. Nay chị T đề nghị Tòa án quyết định cho anh C là người trực tiếp nuôi con chung để con được tiếp tục ở với bố và ông bà nội cho con chung ổn định cuộc sống. Chị T không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Hoàng Seo C: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập anh C đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng anh C đều vắng mặt nên Tòa án đã xác minh sự vắng mặt của đương sự và được Công an xã S, huyện H cho biết anh C có hộ khẩu thường trú ở xã S, huyện H. Tuy nhiên thỉnh thoảng anh C lại vắng mặt tại địa phương để đi làm thuê nhưng không báo cho địa phương biết địa chỉ cụ thể đi làm ở đâu. Hiện nay anh C vẫn đi làm thỉnh thoảng anh C có về thăm gia đình một vài ngày xong lại đi, không biết cụ thể lúc nào anh C sẽ về nhà. Tòa án đã thực hiện tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng anh C không đến Tòa án làm việc. Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng mâu thuẫn giữa vợ chồng anh C, chị T từ mẹ đẻ của anh C và chính quyền địa phương được biết: Anh C và chị T đã đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện H và chung sống cùng nhau tại thôn T, xã S, huyện H, tỉnh H. Quá trình chung sống với nhau ban đầu thì cuộc sống vợ chồng bình thường sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng có cãi vã nhau nhiều lần và đã được gia đình hòa giải cho nhưng vợ chồng vẫn không thể hòa hợp nên chị T và anh C đã sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoàng Su Phì phát biểu ý kiến về thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi nghị án và nội dung vụ án như sau: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tham gia tố tụng. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 56, 57, Điều 81, 82, 83,84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016//UBTVQH ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Lý Thị T được ly hôn anh Hoàng Seo C. Về con chung: Giao con chung cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung, công nợ chung: Không xem xét do đương sự không yêu cầu giải quyết; Về án phí: giải quyết theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Lý Thị T khởi kiện yêu cầu tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung với anh Hoàng Seo C. Đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh C đều vắng mặt. Sau khi có quyết định đưa vụ án xét xử, Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt theo quy định. Anh C vắng mặt tại phiên tòa ngày 27/5/2025 nên Tòa án hoãn phiên tòa và tiếp tục niêm yết quyết định hoãn phiên tòa đến nay anh C đã được niêm yết văn bản hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án, các lời khai của nguyên đơn là chị Lý Thị T và các biên bản xác minh tại xã S, huyện H thấy rằng: chị T và anh C có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện H vào năm 2022. Sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng có chung sống cùng nhau sau đó có phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Giữa anh C và chị T có xảy ra hành vi bạo lực gia đình cụ thể là vợ chồng có xảy ra cãi nhau, mắng chửi, xúc phạm nhau dẫn đến không thể chung sống cùng nhau và không quan tâm, chăm sóc nhau từ tháng 7 năm 2024 đến nay. Giữa vợ chồng anh C, chị T đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến anh C, chị T không quan tâm chăm sóc nhau, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được. Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.” Hội đồng xét xử thấy rằng có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lý Thị T theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Vợ chồng chị T và anh C có một đứa con chung tên là Hoàng Minh K; sinh ngày 06/7/2022. Con chung hiện nay đang ổn định cuộc sống và được trông nom chăm sóc, đi học ở xã S, huyện H. Chị T đề nghị giao con cho anh C nuôi để con chung ổn định cuộc sống. Qua các biên bản xác minh cho thấy anh C vẫn quan tâm con và bố mẹ đẻ anh C đều cùng nhau chăm sóc tốt cho cháu K khi chị T và anh C ly thân và đi làm xa. Bản thân mẹ anh C cũng có nguyện vọng tiếp tục được giúp anh C nuôi con chung khi anh C và chị T ly hôn. Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “ 2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con...” Hội đồng xét xử xét thấy hoàn cảnh chị T và anh C đi làm công nhân xa nhà thỉnh thoảng mới về thăm con và con chung đã được sống cùng bố mẹ đẻ anh C ổn định, được chăm sóc tốt. Nguyện vọng giao con cho anh C nuôi dưỡng của chị T là có căn cứ chấp nhận.Do đó cần chấp nhận yêu cầu của chị T về con chung. Giao cho anh Hoàng Seo C trực tiếp nuôi con chung đến khi trưởng thành, chị Lý Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về tài sản chung, công nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Lý Thị T có đơn xin miễn án phí. Xét thấy chị T là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp được miễn án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 238; Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  • * Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lý Thị T . Tuyên xử cho chị Lý Thị T được ly hôn anh Hoàng Seo C.
  • * Về con chung: Giao cháu Hoàng Minh K, sinh ngày 06/07/2022 cho anh Hoàng Seo C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Hoàng Minh K trưởng thành đủ 18 tuổi, chị Lý Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  • Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm non con mà không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, vì quyền lợi của con chung sau này một hoặc hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
  • * Về tài sản chung, công nợ chung: Không có yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án không xem xét giải quyết.
  • * Về án phí: Miễn toàn bộ án phí sơ thẩm cho chị Lý Thị T
  • * Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự. Ngoài ra, người có quyền lợi có liên quan trong quá trình thi hành án có các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 7b của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh HG;
  • - VKSND huyện HSP;
  • - THADS huyện HSP;
  • - UBND xã Sán Sả Hồ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

đã ký

Nguyễn Thị Khuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HNGĐ-ST ngày 12/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀNG SU PHÌ, TỈNH HÀ GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 05/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀNG SU PHÌ, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lý Thị T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger