|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST Ngày 11 tháng 02 năm 2025 “V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Doanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Đinh Thế Cần;
- 2. Bà Nguyễn Thị Hường.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Vũ Minh Thành - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 208/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXX-ST ngày 13/01/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QÐST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hoàng Thúy V, sinh năm 1999
- Nơi cư trú: Tổ dân phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn: Anh Trịnh Công Q, sinh năm 1993
- Nơi cư trú: Thôn H, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
- (Chị V có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Q vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ đã xuất trình thì nguyên đơn chị Nguyễn Hoàng Thúy V có yêu cầu khởi kiện và trình bày tại đơn xin xét xử vắng mặt như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trịnh Công Q tự do, tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 26/3/2018 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xã A và lao động tự do. Quá trình chung sống đến tháng 9/2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng ly thân từ tháng 9/2018 đến nay mỗi người sống một nơi. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn mục đích hôn nhân không đạt được chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ giải quyết cho chị được ly hôn anh Q.
Về con chung: Chị V và anh Q có 01 con chung là Trịnh Hoàng Bảo C, sinh ngày 18/9/2018 hiện đang ở cùng chị V. Ly hôn chị V đề nghị được nuôi con chung và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện tại chị V không có thai nghén gì. Chị V đang làm nhân viên tại Công ty cổ phần E chi nhánh tại Buôn M, thu nhập 01 tháng là 6.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung: Chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Trịnh Công Q vắng mặt không có ý kiến trình bày.
Tại biên bản xác minh với bà Trần Thị L, sinh năm 1959 là mẹ đẻ của anh Q thể hiện: Chị Nguyễn Hoàng Thúy V và anh Trịnh Công Q là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A vào ngày 26/3/2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại gia đình anh Q và lao động tự do. Quá trình chung sống đến tháng 9/2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, hiện chị V và anh Q đã sống ly thân từ tháng 09/2018 cho đến nay mỗi người sống một nơi. Nay chị V có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị V và anh Q có 01 con chung là Trịnh Hoàng Bảo C, sinh ngày 18/9/2018 hiện đang ở cùng chị V, ly hôn đề nghị giao con chung cho chị V nuôi dưỡng. Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung.
Hiện anh Q đi lao động tự do không cố định địa chỉ, anh Q thường xuyên liên lạc với bà L và gia đình. Gia đình đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án gửi cho anh Q và đã giao lại, thông báo cho anh Q biết việc chị V xin ly hôn. Quan điểm của anh Q là muốn vợ chồng đoàn tụ nếu chị V kiên quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý ly hôn. Anh Q đề nghị giao con chung cho chị V nuôi dưỡng, anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung, vợ chồng không có tài sản chung.
- Tại biên bản xác minh với cơ sở thôn H, xã A; cán bộ tư pháp xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình thể hiện:
Chị Nguyễn Hoàng Thúy V và anh Trịnh Công Q là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A vào ngày 26/3/2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại xã A và lao động tự do. Quá trình chung sống có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay mỗi người sống một nơi. Nay chị V có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị V và anh Q có 01 con chung là Trịnh Hoàng Bảo C, sinh ngày 18/9/2018 hiện đang ở cùng chị V, ly hôn đề nghị giao con chung cho chị V nuôi dưỡng. Về tài sản chung: Cơ sở không nắm rõ.
- Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng. Bị đơn không tham gia tố tụng là thể hiện chấp hành chưa tốt pháp luật tố tụng dân sự. Về ý kiến giải quyết vụ án, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án giải quyết theo hướng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Hoàng Thúy V: Xử cho chị V được ly hôn anh Q; giao con chung Trịnh Hoàng Bảo C, sinh ngày 18/9/2018 cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung 18 tuổi, anh Q không phải góp cấp dưỡng nuôi con chung do chị V không yêu cầu. Anh Q có quyền đi lại thăm nom con chung; Chị V phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung giữa chị Nguyễn Hoàng Thúy V và anh Trịnh Công Q là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có địa chỉ thường trú tại xã A, huyện Q nên Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Q như: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa... nhưng anh Q vắng mặt không có lý do, chị V có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc thu thập chứng cứ, xác minh về tình trạng hôn nhân, điều kiện nuôi dưỡng con chung và địa chỉ của bị đơn, vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng theo Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, quan hệ hôn nhân của chị V, anh Q được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình vào ngày 26/3/2018 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn và chung sống được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 9/2018 đến nay không quan tâm đến nhau. Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, mặc dù biết được việc chị V đề nghị ly hôn anh Q không đồng ý ly hôn nhưng anh Q cũng không có biện pháp nào để hàn gắn quan hệ hôn nhân, mỗi người sống một nơi. Như vậy, có cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị V, anh Q đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị V, xử cho chị được ly hôn anh Q là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Hoàng Thúy V và anh Trịnh Công Q có 01 con chung là Trịnh Hoàng Bảo C, sinh ngày 18/9/2018 hiện đang ở cùng chị V. Ly hôn Chị V, anh Q đều đề nghị giao con chung cho chị V nuôi dưỡng, anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, nguyện vọng nuôi con chung của chị V là chính đáng, chị V có công việc, thu nhập ổn định. Do đó, để đảm bảo quyền lợi tốt nhất của con chung, Hội đồng xét xử cần giao cho chị Nguyễn Hoàng Thúy V trực tiếp nuôi con Trịnh Hoàng Bảo C, sinh ngày 18/9/2018; anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Q có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Hoàng Thúy V, anh Trịnh Công Q không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Hoàng Thúy V phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật; các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Hoàng Thúy V được ly hôn anh Trịnh Công Q.
- Về quan hệ con chung: Xử giao cho chị Nguyễn Hoàng Thúy V trực tiếp nuôi con Trịnh Hoàng Bảo C, sinh ngày 18/9/2018; anh Trịnh Công Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Q có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu thay đổi về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Hoàng Thúy V phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị V đã nộp theo Biên lai thu số 0004885 ngày 18/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình được chuyển thành tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Hoàng Thúy V, anh Trịnh Công Q có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Quốc Doanh |
Bản án số 05/2025/HNGĐ-ST ngày 11/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 05/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa chị V và anh Q
