TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST Ngày: 08-4-2025 V/v Tranh chấp Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Lan.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Lê Thị Kim Ngàn;
- Bà Hồ Bích Ngọc.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Phương Thảo, là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Trâm Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1 đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân sơ thẩm thụ lý số: 269/2024/TLST-HNGĐ ngày 15/10/2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HN ngày 10/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10/3/2025, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Thạch Thị Bích T, sinh năm 1991.
Địa chỉ thường trú: 2 N, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên hệ: A T, Phường D, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
- Bị đơn: Ông Trần Quốc H, sinh năm 1985.
Địa chỉ thường trú: 2 N, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên hệ: 2 N, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ly hôn, ý kiến trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa nguyên đơn bà Thạch Thị Bích T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Thị Bích T (Gọi tắt là nguyên đơn) và ông Trần Quốc H (Gọi tắt là bị đơn) tự nguyện chung sống vợ chồng và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 51KH, quyển số 01/2009 vào ngày 17/8/2009 tại Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng thời gian đầu, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung dù cả hai đã nhiều lần nỗ lực hàn gắn nhưng tình cảm ngày càng rạn nứt. Đến nay, bà T và ông H không còn quan tâm chăm sóc nhau và đã ly thân được hơn hai năm. Nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, hôn nhân không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông H để ổn định cuộc sống riêng.
Về con chung: Có 03 con chung tên Trần Thị Hải Y (Nữ, sinh ngày 15/12/2008); Trần Minh H1 (N, sinh ngày 01/6/2011); Trần Thị Yến V (Nữ, sinh ngày 17/02/2013). Bà T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà T khai vợ chồng không có tài sản chung.
Về nợ chung: Bà T khai vợ chồng không có nợ chung.
Ông Trần Quốc H là bị đơn, trong quá trình chuẩn bị xét xử đã được Toà án tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng, triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, triệu tập tham gia phiên toà đến lần thứ hai nhưng đều vắng mặt không rõ lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các thủ tục, trình tự tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ xác định bà Thạch Thị Bích T và ông Trần Quốc H tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn ngày 17/8/2009 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 51KH, quyển số 01/2009 do Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận D, Tp . cấp nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Bà T trình bày giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nhiều bất đồng về quan điểm sống, thực tế vợ chồng đã sống ly thân 02 năm. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông H cố tình vắng mặt dù đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, thể hiện ông H không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình.
Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông H ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T được ly hôn với ông H theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu bà Thạch Thị Bích T được ly hôn với ông Trần Quốc H; giao 03 trẻ tên Trần Thị Hải Y; Trần Minh H1 và Trần Thị Yến V cho bà T nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con; về tài sản, nợ chung không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về pháp luật tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Xét nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn có địa chỉ cư trú tại Quận A, Tp . nên đây là quan hệ tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1 theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự:
Căn cứ kết quả cung cấp chứng cứ của Công an Phường N, Quận A, có cơ sở xác định bị đơn có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ 2 N, Phường N, Quận A, Tp . nhưng thực tế cư trú tại địa chỉ 2 N, Phường N, Quận A, Tp .. Toà án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung, tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập bị đơn tham gia phiên toà đến lần thứ hai nhưng bị đơn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành phiên toà xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về pháp luật nội dung:
[2.1] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Xét bà T và ông H chung sống vợ chồng được Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận D cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 51KH, quyển số 01/2009 ngày 17/8/2009 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Bà T yêu cầu được ly hôn với ông H vì vợ chồng chung sống không hạnh phúc, nhiều mâu thuẫn và bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung; vợ chồng đã nhiều lần cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả, thực tế vợ chồng sống ly thân đã hơn 02 (Hai) năm, vợ chồng không còn liên hệ, không còn tình cảm dành cho nhau. Xét, bị đơn đã được Toà án thông báo và triệu tập đến toà để giải quyết đối với yêu cầu ly hôn của nguyên đơn nhưng đều vắng mặt, thể hiện bị đơn không còn quan tâm và mong muốn hàn gắn đoàn tụ với nguyên đơn. Việc duy trì quan hệ hôn nhân sẽ không đảm bảo cuộc sống hạnh phúc khi cả hai không còn tình cảm, mục đích của hôn nhân về xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc, bền vững không đạt được. Do đó, nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn để ổn định cuộc sống là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Xét theo Giấy khai sinh số 113 KSQH, quyển số 01/2009 do Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận D cấp ngày 19/8/2009; Giấy khai sinh số 117, quyển số 01/2011 do Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận D cấp ngày 02/8/2011; Giấy khai sinh số 77, quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận D cấp ngày 01/7/2014 có cơ sở xác định lần lượt trẻ Trần Thị Hải Y (Nữ, sinh ngày 15/12/2008), trẻ Trần Minh H1 (N1, sinh ngày 01/6/2011), trẻ Trần Thị Yến V (Nữ, sinh ngày 17/2/2013) là con chung của bà T và ông H. Bà T yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Xét, lời khai của trẻ Trần Thị Hải Y, Trần Minh H1, Trần Thị Yến V xác nhận đang ở với mẹ và có nguyện vọng được ở với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử xét nên giao 03 (Ba) trẻ Trần Thị Hải Y, Trần Minh H1, Trần Thị Yến V cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng để bảo đảm cuộc sống ổn định cho trẻ là phù hợp. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà T khai hiện không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp phát sinh tranh chấp liên quan đến tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân thì các bên có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.
[2.2] Xét đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề nghị giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nêu trên phù hợp với những đánh giá, nhận định của Hội đồng xét xử.
Do vậy, Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện về ly hôn và nuôi con chung của nguyên đơn.
[3] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí về Hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 82, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án;
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Thạch Thị Bích T:
- Bà Thạch Thị Bích T được ly hôn với ông Trần Quốc H.
Quan hệ hôn nhân giữa bà Thạch Thị Bích T với ông Trần Quốc H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 51KH, quyển số 01/2009 ngày 17/8/2009 tại Ủy ban nhân dân Phường A2, Quận D, Tp . chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Giao 03 (Ba) trẻ tên Trần Thị Hải Y (Nữ, sinh ngày 15/12/2008); Trần Minh H1 (N, sinh ngày 01/6/2011); Trần Thị Yến V (Nữ, sinh ngày 17/02/2013) cho bà Thạch Thị Bích T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông Trần Quốc H cấp dưỡng nuôi con.
Ông Trần Quốc H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở nhưng phải tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con. Nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con.
Vì lợi ích của con, cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom, thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Bà Thạch Thị Bích T phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0046094 ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1. Bà T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày. Đối với ông D kể từ ngày tuyên án; Đối với bà Tuyết A kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
Lê Thị Lan |
Bản án số 05/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 05/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn
