Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HC-ST

Ngày: 11-02-2025

V/v Khiếu kiện quyết định

xử phạt vi phạm hành chính

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thanh Huyến

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Thái Ngọc Minh

2. Ông Đoàn Văn Tâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Danh Quàng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:

Ông Lê Quốc Thắng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý: 42/2024/HC-ST ngày 06 tháng 3 năm 2024 về “Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 163/2024/QĐXXST-HC ngày 19 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Người khởi kiện: Ông Lê Trọng Đ, sinh năm 1982. (có mặt)

Địa chỉ: Số A, đường T, phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bị kiện: Chủ tịch UBND thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Lê Quốc T - Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND thành phố P . (vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Nguyễn Văn H - Chức vụ: Phó Trưởng Phòng Tư pháp – UBND thành phố P. (có mặt)

Cùng địa chỉ: Số D, đường C, phường D, thành phố P tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ kiện, người khởi kiện ông Lê Trọng Đ trình bày:

Ông có các thửa đất số 422, 427, 423, 424, 426 và nhiều thửa khác, loại đất trồng cây lâu năm, tại tờ bản đồ số 122, tại phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Nguồn gốc nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Mai Văn S, bà Trần Thanh T1. Ngày 01/02/2024, ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DM 244270 với diện tích 6.515m², loại đất trồng câu lâu năm, tại thửa 598 (trước đây là thửa 423, 424, 426). Ngày 06/02/2024 ông được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P đánh biến động quyền sử dụng đất như sau: Chuyển mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm thời hạn sử dụng tháng 7/2064 thành đất ở đô thị, thời hạn sử dụng lâu dài, đối với diện tích 300m² theo Quyết định số 475/QĐ-UBND ngày 05/02/2024 của UBND thành phố P.

Đầu tháng 01/2024, ông đào móng và xây dựng móng công trình trên đất chưa chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Tại thời điểm ông làm móng và cột bê tông là trước ngày 08/01/2024, ông tiếp tục xây dựng công trình nhà ở riêng lẻ trên các thửa đất nêu trên khi chưa có quyết định của UBND thành phố P cho phép chuyển đổi mục đích thành đất ở. Vào ngày 08/01/2024, Công chức Địa chính phường D có đến khu đất của ông để kiểm tra việc ông xây dựng, ông xây dựng được khoảng ½ công trình trên các thửa đất diện tích khoản 500m². Thời điểm này Công chức Địa chính không lập biên bản đo đạc, biên bản vi phạm hành chính và cũng không yêu cầu ông ngừng thi công công trình xây dựng. Từ ngày 08/01/2024 đến ngày 22/01/2024 ông đã tiếp tục xây dựng phần còn lại của công trình tổng diện tích xây dựng khoảng 800m² đến 1.300m².

Sáng ngày 22/01/2024, Công chức Địa chính phường D có điện thoại mời ông lên UBND phường D, ông có mặt theo yêu cầu là 8 giờ 30 phút. Tại đây Công chức Địa chính phường yêu cầu ông ký Biên bản đo đạc hiện trạng, Biên bản làm việc và Biên bản vi phạm hành chính về việc xây dựng của ông, ông đồng ý ký biên bản. Thực tế ngày này, Công chức Địa chính phường không trực tiếp đến nơi đất ông xây dựng để kiểm tra đo đạc diện tích và công trình xây dựng của ông mà chỉ lập biên bản sẵn tại UBND phường và yêu cầu ông ký tên. Thời điểm này ông đã hoàn thành việc đổ móng, cột công trình và ông đã đổ bê tông các tầng lầu xong.

Căn cứ vào Biên bản vi phạm hành chính ngày 22/01/2024 của UBND phường D, đến ngày 31/01/2024 Chủ tịch UBND thành phố P ra Quyết định xử phạt ông về hành vi “chuyển đổi đất trồng cây lâu năm sang đất phi nông nghiệp với diện tích 461,3m² không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép tại thửa đất số 423, 424, 426."

Ngày 27/02/2024, Công chức Địa chính phường D tiếp tục lập Biên bản vi phạm hành chính đối với ông về 02 hành vi vi phạm hành chính:

Hành vi thứ nhất: Sử dụng đất không đúng mục đích với diện tích 369,3m². Trong đó, có 212,7m² là đất trồng cây lâu năm nằm trong diện tích 6.515m² tại thửa 598, tờ bản đồ số 22 và diện tích 156 nằm trong diện tích 501,7m² loại đất trồng cây lâu năm, tại thửa 427, tờ bản đồ 122 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông S, bà T1 ngày 18/5/2018, đã được đánh biến động sang ông Lê Trọng Đ ngày 11/01/2024.

Hành vi thứ hai: Công trình xây dựng không có giấy phép xây dựng, qua đo đạc kiểm tra hiện trạng thực tế tổng diện tích xây dựng là 108,6m². Hiện trạng đã xây dựng gồm 01 tầng trệt, 02 tầng lầu. Công trình xây dựng nằm trong diện tích đất ở tại đô thị 108,6m² tại thửa 598.

Ngày 27/3/2024, Chủ tịch UBND thành phố P ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông về hành vi “Chủ đầu tư tổ chức thi công xây dựng công trình không có giấy phép xây dựng mà theo quy định phải có giấy phép xây dựng đối với diện tích 108,6m².

Đối với hành vi thứ nhất UBND phường D, thành phố P chuyển qua Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để xử lý theo quy định. Qua quá trình làm việc, xác minh đến ngày 15/7/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự đối với vụ việc “Vi phạm quy định về sử dụng đất đai xảy ra ngày 27/02/2024” tại khu phố A, phường D, thành phố P.

Từ nội dung trên, ông làm đơn khởi kiện và khởi kiện bổ sung yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang giải quyết hủy Quyết định số 353/QĐ-XPHC ngày 31/01/2024 và Quyết định số 1170/QĐ - XPHC ngày 27/3/2024 của Chủ tịch UBND thành phố P về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với ông.

*Tại Văn bản số 1173/UBND-NCPC ngày 18 tháng 6 năm 2024 Chủ tịch UBND thành phố P có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện như sau:

  1. Trong quá trình lập Biên bản, Công chức Địa chính - Xây dựng không tiến hành đo, vẽ diện tích vi phạm làm căn cứ xác định phần diện tích đã xây dựng. Điều này dẫn đến việc xác định vi phạm không đúng với thực tế, gây bất lợi cho cá nhân tôi.

Ông Lê Trọng Đ trình bày như trên là không đúng, mâu thuẫn nhau và không có cơ sở chấp nhận, cụ thể:

Vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 22 tháng 01 năm 2024. Tại vị trí đất thuộc tổ C khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Công chức Địa chính - Xây dựng Ủy ban nhân dân phường D về việc đo đạc, kiểm tra hiện trạng đất và công trình xây dựng do ông Lê Trọng Đ đang quản lý sử dụng. Ý kiến của ông Lê Trọng Đ: Tôi hoàn toàn thống nhất với nội dung và số liệu thể hiện trong biên bản này và đã ký tên vào biên bản.

  1. Ủy ban nhân dân thành phố P ban hành Quyết định số 353/QĐ-XPHC ngày 31/01/2024 căn cứ vào Biên bản vi phạm trên là không đúng thực tế, dẫn đến việc vi phạm hành chính bị phản ánh sai sự thật; gây hiểu lầm là tôi vi phạm nhiều lần khác nhau trong khi thực tế tôi chỉ có một lần vi phạm.

Ông Lê Trọng Đ trình bày như trên là không đúng, mâu thuẫn nhau và không có cơ sở chấp nhận, cụ thể:

Công chức Địa chính - Xây dựng Ủy ban nhân dân phường D Biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực đất đai số 02/BB-VPHC ngày 22/01/2024 xác định, vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 22 tháng 01 năm 2024, tại vị trí đất thuộc tổ C khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang phát hiện ông Lê Trọng Đ có hành vi chuyển đất trồng cây lâu năm với diện tích 461,3m² sang đất phi nông nghiệp (đất sản xuất kinh doanh) tại khu vực đô thị không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép. Hiện trạng trên đất đã xây 18 nền móng cột, sàn bê tông cốt thép với diện tích đất xây dựng 461,3m² và đã yêu cầu ông Lê Trọng Đ chấm dứt ngay hành vi vi phạm.

Tuy nhiên, vào lúc 16 giờ 30 phút, ngày 23 tháng 01 năm 2024, Công chức Địa chính - Xây dựng Ủy ban nhân dân phường D tiến hành kiểm tra và ghi nhận hiện trạng công trình xây dựng do ông Lê Trọng Đ làm chủ đầu tư đã bị lập Biên bản vi phạm hành chính. Phát hiện tiếp tục có hành vi bô thép, đổ cột trên diện tích công trình xây dựng đã bị lập Biên bản vi phạm hành chính vào ngày 22/01/2024. Diện tích không thay đổi so với biên bản đo đạc ngày 22/01/2024.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 12 Nghị định số 118/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ, quy định “một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị lập một biên bản và ra quyết định xử phạt một lần. Trường hợp hành vi vi phạm đã bị lập biên bản nhưng chưa ra quyết định xử phạt mà cá nhân, tổ chức không thực hiện yêu cầu, mệnh lệnh của người có thẩm quyền, vẫn cố ý thực hiện hành vi vi phạm đó, thì người có thẩm quyền phải áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính phù hợp để chấm dứt hành vi vi phạm. Khi ra quyết định xử phạt đối với hành vi đó, người có thẩm quyền xử phạt có thể áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính hoặc xử phạt đối với hành vi không thực hiện yêu cầu, mệnh lệnh của người có thẩm quyền trong trường hợp nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước tương ứng có quy định và xử phạt đối với hành vi vi phạm đã lập biên bản nhưng chưa ra quyết định xử phạt”.

Tại điểm i khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) quy định tình tiết tăng nặng “Tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm hành chính mặc dù người có thẩm quyền đã yêu cầu chấm dứt hành vi đó”. Ngày 22/01/2024 Công chức Địa chính - Xây dựng Ủy ban nhân dân phường D đã lập Biên bản vi phạm hành chính đối với ông Lê Trọng Đ và yêu cầu ông Lê Trọng Đ chấm dứt hành vi vi phạm nhưng đến ngày 23/01/2024 ông Lê Trọng Đ tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm.

  1. Tại Biên bản vi phạm do Công chức Địa chính - Xây dựng Ủy ban nhân dân phường D và Quyết định số 353/QĐ-XPHC ngày 31/01/2024 xác định tôi có hành vi chuyển đổi mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm sang đất phi nông nghiệp là không đúng thực tế. Thực tế, tôi xây dựng nhà ở riêng lẻ để sử dụng vào mục đích ở kết hợp kinh doanh của hộ gia đình nên việc xác định tôi chuyển sang đất kinh doanh, thương mại dịch vụ là không đúng thực tế.

Ông Lê Trọng Đ trình bày như trên là không đúng, mâu thuẫn nhau và không có cơ sở chấp nhận, cụ thể:

Biên bản vi phạm hành chính số 02/BB-VPHC ngày 22/01/2024 xác định ông Lê Trọng Đ có hành vi chuyển đất trồng cây lâu năm với diện tích 461,3m² sang đất phi nông nghiệp (đất sản xuất kinh doanh) tại khu vực đô thị không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép. Ông Lê Trọng Đ đã thừa nhận hành vi vi phạm được thể hiện trong biên bản này và đã ký và nhận biên bản.

  1. Trong đơn khởi kiện bổ sung ngày 12/03/2024 ông Lê Trọng Đ trình bày: Ngày 08/01/2024 Ủy ban phường D đã cử cán bộ xuống hiện trường khu đất để kiểm tra việc sử dụng đất của tôi. Đến ngày 22/01/2024 Công chức Địa chính-Xây dựng phường D mời tôi lên Ủy ban nhân dân phường và ký biên bản đo đạc, Biên bản vi phạm hành chính ngày 08/014/2024 là không đúng, mâu thuẫn nhau và không có cơ sở chấp nhận, cụ thể:

Vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 22 tháng 01 năm 2024. Tại vị trí đất thuộc tổ C khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Công chức Địa chính - Xây dựng Ủy ban nhân dân phường D về việc đo đạc, kiểm tra hiện trạng đất và công trình xây dựng do ông Lê Trọng Đ đang quản lý sử dụng. Ý kiến của ông Lê Trọng Đ: Tôi hoàn toàn thống nhất với nội dung và số liệu thể hiện trong biên bản này và đã ký tên vào biên bản.

Vào lúc 10 giờ 00 phút, ngày 22 tháng 01 năm 2024. Tại vị trí đất thuộc tổ C khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Công chức Địa chính - Xây dựng Ủy ban nhân dân phường D Biên bản vi phạm hành chính số 02/BB-VPHC ngày 22/01/2024 xác định ông Lê Trọng Đ có hành vi chuyển đất trồng cây lâu năm với diện tích 461,3m² sang đất phi nông nghiệp (đất sản xuất kinh doanh) tại khu vực đô thị không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép. Ông Lê Trọng Đ đã thừa nhận hành vi vi phạm được thể hiện trong biên bản này và đã ký và nhận biên bản.

Việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P ban hành Quyết định số 353/QĐ-XPHC ngày 31/01/2024: Về thẩm quyền ban hành là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020); về trình tự thủ tục ban hành là phù hợp theo quy định tại Điều 57, Điều 66, Điều 68 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020); về nội dung là phù hợp theo quy định tại khoản 4 Điều 23 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020); điểm b khoản 2 và khoản 3 Điều 11 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.

Từ những nội dung nêu trên, việc ông Lê Trọng Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang hủy Quyết định số 353/QĐ-XPHC ngày 31/01/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P về xử phạt vi phạm hành chính là không có cơ sở. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang bác yêu cầu khởi kiện của ông Lê Trọng Đ.

*Tại Văn bản số 1649/UBND-NCPC ngày 20 tháng 8 năm 2024 Chủ tịch UBND thành phố P có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện bổ sung của người khởi kiện như sau:

Chủ tịch UBND thành phố P ban hành Quyết định số 1170/QĐ-XPHC ngày 27/3/2024 về việc xử phạt vi phạm hành chính là hoàn toà có cơ sở và đúng quy định của pháp luật, cụ thể:

Trong đơn khởi kiện bổ sung ngày 27/5/2024 ông Lê Trọng Đ trình bày:

  1. Quyết định xử phạt hành chính số 1170/QĐ-UBND không khách quan, không đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Quyết định xử phạt hành chính được ban hành dựa trên căn cứ là Biên bản vi phạm được lập không đúng pháp luật.

Cụ thể, Quyết định hành chính số 1170/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND thành phố P căn cứ vào Biên bản vi phạm hành chính ngày 27/2/2023 do Công chức Địa chính Ủy ban nhân dân phường D thực hiện và Biên bản xác minh tính tiết vi phạm do Công chức Địa chính Ủy ban nhân dân phường D ngày 25/3/2024. Tuy nhiên, cả Biên bản vi phạm hành chính lập ngày 27/2/2024 và Biên bản xác minh lập ngày 25/3/2024 không đúng trình tự, thủ tục, thành phần và diễn biến của sự việc nêu trong Biên bản.

Cụ thể, tôi là người sử dụng đất đối với các thửa đất số 422, 427 và thửa đất số 598 (trước đây là các thửa đất 423, 424 và 426), tờ bản đồ số 122, thị trấn D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Đầu tháng 01/2024 tôi có xây dựng phần móng công trình xây dựng nhà ở riêng lẻ kết hợp kinh doanh dịch vụ tại các thửa đất số 422, 423, 424, 246 và 427. Ngày 08/01/2024, Ủy ban nhân dân phường đã tiến hành kiểm tra việc xây dựng của tôi. Công chức Địa chính có tiến hành đo đạc phần diện tích xây dựng nhưng không lập Biên bản vi phạm; không yêu cầu dừng thực hiện xây dựng. Từ ngày 08/01/2024 đến ngày 22/01/2024 tôi tiếp tục xây dựng và hoàn thành toàn bộ phần móng công trình xây dựng trên các thửa đất nêu trên, với diện tích khoảng từ 800 - 1000m² đất.

Đến ngày 22/01/2024, Công chức Địa chính phường D mời tôi lên Ủy ban nhân dân phường và ký Biên bản đo đạc, Biên bản vi phạm hành chính theo kết quả đo đạc ngày 08/01/2024. Như vậy, việc lập biên bản này không đúng quy định, dẫn đến ban hành Quyết định xử phạt hành chính số 353/QĐ-XPHC sai quy định (đang được Tòa án xem xét trong vụ kiện này).

Thực tế, tại thời điểm lập Biên bản đo đạc và Biên bản vi phạm hành chính, diện tích xây dựng của tôi khoảng 800m² đến 1000m², trên các thửa đất số 422, 423, 424, 246 và 427. Tuy nhiên, công chức địa chính phường D không đo đạc thực tế diện tích xây dựng vào ngày 22/01/2024 mà lấy kết quả đo đạc ngày 08/01/2024 và yêu cầu tôi ký Biên bản đo đạc, Biên bản vi phạm hành chính.

Ông Lê Trọng Đ trình bày như trên là không đúng, mâu thuẫn nhau và không có cơ sở chấp nhận, cụ thể:

Vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 22 tháng 01 năm 2024. Tại vị trí đất thuộc tổ C khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Công chức Địa chính - Xây dựng Ủy ban nhân dân phường D về việc đo đạc, kiểm tra hiện trạng đất và công trình xây dựng do ông Lê Trọng Đ đang quản lý sử dụng. Ý kiến của ông Lê Trọng Đ: Tôi hoàn toàn thống nhất với nội dung và số liệu thể hiện trong biên bản này và đã ký tên vào biên bản.

  1. Sau khi tôi bị xử phạt vi phạm hành chính, ngày 06/3/2024, tôi đã có đơn đề nghị tự tháo dỡ phần công trình vi phạm. Ngày 08/4/2024, tôi làm việc với Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P về việc tháo dỡ công trình vi phạm. Ngay sau đó, tôi đã thực hiện ngay việc tháo dỡ công trình vi phạm mà tôi xây dựng trước ngày 22/01/2024.

Tuy nhiên, ngày 27/02/2024, Công chức Địa chính Ủy ban nhân dân phường D không kiểm tra thực tế việc xây dựng tiếp tục tạo ra một “Biên bản vi phạm hành chính” không đúng với thực tế tại các thửa đất mà tôi đang sử dụng. Toàn bộ nội dung biên bản vi phạm ngày 27/2/2024 không đúng với thực tế xây dựng, bao gồm diện tích đất xây dựng và diện tích công trình xây dựng.

Biên bản vi phạm ngày 27/02/2024 cũng không được lập tại hiện trường khu đất, không có sự tham gia chứng kiến và ký biên bản của tôi.

Ngoài ra, ngày 25/3/2024, Công chức địa chính UBND phường D thiết lập một “Biên bản xác minh tình tiết vi phạm” để xác minh việc xây dựng không phép trên khu đất của tôi. Biên bản xác minh này hoàn toàn sai sự thật và được lập không đúng trình tự, thủ tục.

Cụ thể, tại thời điểm lập Biên bản xác minh, tôi đã thực hiện việc tháo dỡ công trình vi phạm và phục hồi nguyên trạng khu đất nhưng nội dung biên bản xác minh tình tiết vi phạm không thể hiện đúng thực tế khu đất đã từng có công trình xây dựng. Thực tế, khu đất đã không tồn tại công trình xây dựng nào nhưng Biên bản xác minh vẫn ghi nhận có công trình xây dựng vi phạm.

Tuy nhiên, căn cứ Biên bản vi phạm và Biên bản xác minh tình tiết vi phạm được lập không khách quan, không đúng trình tự, thủ tục lập Biên bản vi phạm, ngày 27/3/2024, Ủy ban nhân dân thành phố P ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1170/QĐ-XPHC để xử phạt hành chính đổi với tôi về hành vi xây dựng không phép, với mức phạt 45.000.000 đồng.

Ông Lê Trọng Đ trình bày như trên là không đúng, mâu thuẫn nhau và không có cơ sở chấp nhận, cụ thể:

Công trình vi phạm của ông Lê Trọng Đ đến nay vẫn còn tồn tại.

Về tình hình lập biên bản xử lý vi phạm hành chính đối với ông Lê Trọng Đ.

Công chức Địa chính - Xây dựng Ủy ban nhân dân phường D biên bản về việc đo đạc, kiểm tra hiện trạng đất và công trình xây dựng do ông Lê Trọng Đ đang quản lý sử dụng ngày 27/02/2024; lập Biên bản vi phạm hành chính số 05/BB-VPHC ngày 27/02/2024 và Biên bản xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính số 08/BB-XM ngày 25/3/2024 thể hiện ông Lê Trọng Đ thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 2 và khoản 3 Điều 11 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai và vi phạm quy định tại điểm b khoản 7 Điều 16 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP28 tháng 01 năm 2022 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng, cụ thể như sau:

- Hành vi thứ nhất: Chuyển đất nông nghiệp (là đất trồng cây lâu năm) với diện tích 369,3m² sang đất phi nông nghiệp là đất thương mại dịch vụ tại khu vực đô thị không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép. Hiện trạng công trình đang xây dựng với diện tích 369,3m² gồm 01 tầng trệt, 02 tầng lầu (kết cấu bê tông cốt thép). Công trình chưa hoàn thiện. Trong đó:

  • + Diện tích 212,7m² là đất trồng cây lâu năm nằm trong diện tích đất 6515m² (loại đất: 300m² đất ở đô thị, còn lại đất trồng cây lâu năm) được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DM 244270 ngày 01/02/2024 tại thửa đất số 598, tờ bản đồ số 122, khu phố A, phường D, thành phố P do ông Lê Trọng Đ đứng tên chủ sử dụng đất.
  • + Diện tích còn lại 156,6m² nằm trong diện tích đất 501,7m² (loại đất trồng cây lâu năm) được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 626809 ngày 18/5/2018 tại thửa đất số 427, tờ bản đồ số 122, khu phố A, phường D, thành phố P do ông Mai Văn S đứng tên, sau đó chỉnh lý chuyển nhượng cho ông Lê Trọng Đ ngày 11/01/2024.

- Hành vi thứ hai: Tổ chức thi công xây dựng công trình không có giấy phép xây dựng mà theo quy định phải có giấy phép xây dựng đối với công trình xây dựng khác (công trình nhằm mục đích kinh doanh) với diện tích xây dựng là 108,6m². Hiện trạng công trình đang xây dựng gồm 01 tầng trệt, 02 tầng lầu (kết cấu bê tông cốt thép), công trình xây dựng chưa hoàn thiện. Công trình xây dựng nằm trong diện tích đất ở đô thị thuộc thửa đất số 598, tờ bản đồ số 122, diện tích đất 6515m² (loại đất: 300m² đất ở đô thị, còn lại đất trồng cây lâu năm) được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DM 244270 ngày 01/02/2024 do ông Lê Trọng Đ đứng tên chủ sử dụng đất.

Biên bản vi phạm hành chính, Biên bản xác minh tình tiết được lập đúng mẫu quy định; căn cứ lập Biên bản, người có thẩm quyền lập Biên bản thể hiện tính đầy đủ và rõ ràng; nội dung xác lập hành vi vi phạm hành chính đầy đủ, chính xác đúng quy định của pháp luật. Trong Biên bản vi phạm hành chính, Biên bản xác minh tình tiết đầy đủ, chính xác đúng quy định của pháp luật.

Hành vi thứ nhất: Chưa xử phạt lý do:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) quy định “Tái phạm là việc cá nhân, tổ chức đã bị ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà lại thực hiện hành vi vi phạm hành chính đã bị xử phạt”; trên cơ sở đó trường hợp vi phạm lần thứ hai của ông Lê Trọng Đ là tái phạm.

Điều 228 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định người nào lấn chiếm đất, chuyển quyền sử dụng đất hoặc sử dụng đất trái với các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Theo đó, ông Lê Trọng Đ đã bị xử phạt lần thứ nhất bằng Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 353/QĐ-XPHC ngày 31/01/2024 về hành vi chuyển đất nông nghiệp (đất trồng cây lâu năm) sang đất phi nông nghiệp (đất thương mại dịch vụ), Quyết định còn thời hạn thi hành; lần thứ hai ông Lê Trọng Đ tiếp tục bị phát hiện hành vi chuyển đất nông nghiệp (đất trồng cây lâu năm) sang đất phi nông nghiệp (đất thương mại dịch vụ) và bị lập biên bản vi phạm hành chính, trường hợp này theo quy định tại khoản 1 Điều 62 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) xử lý như sau “Khi xem xét vụ vi phạm để quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nếu xét thấy hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm, thì người có thẩm quyền xử phạt phải chuyển ngay hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự”.

Vì vậy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P ban hành Quyết định số 687/QĐ-CHS ngày 11/3/2024 về việc chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực đất đai đối với ông Lê Trọng Đ.

Hành vi thứ hai: Tổ chức thi công xây dựng công trình không có giấy phép xây dựng mà theo quy định phải có giấy phép xây dựng đối với công trình xây dựng khác (công trình nhằm mục đích kinh doanh) với diện tích xây dựng là 108,6m² phạt từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (điểm b khoản 7 Điều 16 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP).

Vì vậy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P ban hành Quyết định số 1170/QĐ-XPHC ngày 27/3/2024 về xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Lê Trọng Đ.

Việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1170/QĐ-XPHC ngày 27/3/2024: Về thẩm quyền ban hành là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020); về trình tự thủ tục ban hành là phù hợp theo quy định tại Điều 57, Điều 66, Điều 68 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020); về nội dung là phù hợp theo quy định tại khoản 4 Điều 23 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020); điểm b khoản 7 Điều 16 Nghị định số 16/2022/NĐ-CPngày 28/01/2022 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng.

Từ những nội dung nêu trên, việc ông Lê Trọng Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang hủy Quyết định số 1170/QĐ-XPHC ngày 27/3/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P về xử phạt vi phạm hành chính là không có cơ sở. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang bác yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông Lê Trọng Đ.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Ông Lê Trọng Đ giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu hủy Quyết định số 353/QĐ-XPHC ngày 31/01/2024 và hủy Quyết định số 1170/QĐ-XPHC ngày 27/3/2024 của Chủ tịch UBND thành phố P về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với ông.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện xác định việc Công chức Địa chính UBND phường D biên bản đo đạc hiện trạng, biên bản làm việc, biên bản vi phạm hành chính đối với ông Lê Trọng Đ tại UBND phường nhưng thể hiện lập các biên bản tại vị trí đất vi phạm và ngày 22/01/2024 không đến nơi vi phạm để đo đạc lập biên bản vi phạm đối với ông Đ là có sai sót. Tuy nhiên, ông Đ có hành vi vi phạm hành chính là sự thật nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bác yêu cầu khơi kiện của ông Đ.

- Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân nhân, Thư ký Tòa án:

Thẩm phán: Thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, thu thập chứng cứ theo đúng quy định. Tuy nhiên, Thẩm phán còn vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét theo Điều 130 Luật tố tụng hành chính.

Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính.

Đối với người khởi kiện, người bị kiện có ý kiến trình bày và gửi văn bản cho Tòa án đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 55, 56, 57 của Luật tố tụng hành chính 2015.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như diễn biến tại phiên tòa, xét thấy yêu cầu khởi kiện của ông Lê Trọng Đ là có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Trọng Đ về việc yêu cầu hủy các Quyết định số 353/QĐ-XPHC ngày 31/01/2024 và Quyết định số 1170/QĐ-XPHC ngày 27/3/2024 của Chủ tịch UBND thành phố P về xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Lê Trọng Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử (HĐXX) sơ thẩm vụ án hành chính thấy:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện:

[1.1] Người khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định của Chủ tịch UBND thành phố P về xử phạt vi phạm hành chính là khiếu kiện quyết định hành chính nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang theo quy định tại Điều 30, Điều 32 của Luật tố tụng hành chính.

[1.2] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 19/02/2024 ông Lê Trọng Đ khởi kiện khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 353/QĐ-XPHC ngày 31/01/2024 của Chủ tịch UBND thành phố P và khởi kiện bổ sung đối với Quyết định số 1170/QĐ-XPHC ngày 27/3/2024 của Chủ tịch UBND thành phố P là chưa hết 01 năm nên còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 116 Luật tố tụng hành chính.

[2] Về thủ tục tố tụng: Đại diện theo ủy quyền người bị kiện có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 158 Luật tố tụng hành chính xử vắng mặt người bị kiện.

[3] Xét tính hợp pháp của Quyết định số 353/QĐ-XPHC ngày 31/01/2024 và Quyết định số 1170/QĐ-XPHC ngày 27/3/2204 của Chủ tịch UBND thành phố P về xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Lê Trọng Đ.

[3.1] Về thẩm quyền và trình tự, thủ tục lập Biên bản vi phạm hành chính:

[3.1.1] Về thẩm quyền lập biên bản:

Xét thấy ngày 22/01/2024 Công chức Địa chính – Xây dựng UBND phường D Biên bản đo đạc, kiểm tra hiện trạng đất và công trình xây dựng do ông Lê Trọng Đ đang quản lý, sử dụng; Biên bản làm việc và Biên bản vi phạm hành chính đối với ông Lê Trọng Đ là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 40 Nghị định số 91/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai.

[3.1.2] Về trình tự, thủ tục lập biên bản:

Theo các biên bản thể hiện việc lập Biên bản đo đạc, Biên bản làm việc, Biên bản vi phạm hành chính ngày 22/01/2024 đều xác định tại vị trí đất thuộc tổ C, khu phố A, phường D, thành phố P. Tuy nhiên, ngày 22/01/2024 Công chức Địa chính phường D không đến vị trí khu đất ông Đ vi phạm nói trên để đo đạc thực tế mà lấy số liệu do Công chức Địa chính – Xây dựng tự kiểm tra ngày 08/01/2024 (không có biên bản) để làm cơ sở cho biên bản đo đạc diện tích đất và công trình vi phạm ngày 22/01/2024 và lập Biên bản vi phạm hành chính ngày 22/01/2024 đối với ông Lê Trọng Đ là không phù hợp với thực tế khách quan đối với diện tích đất và công trình vi phạm và không phù hợp với khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Tại biên bản ghi lời khai ông Lê Minh N (Công chức Địa chính – Xây dựng UBND phường D) ngày 28/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố P, ông Lê Minh N trình bày: Tôi là Công chức địa chính phường D, ngày 08/01/2024 tôi cùng ông Đỗ Quốc Quý nhân V Địa chính phường, ông Võ Thành A (Phòng T2) có đến thửa đất thuộc tổ C, khu phố A, phường D để kiểm tra thì phát hiện ông Lê Trọng Đ cho người bo sắt đổ bê tông 18 móng cột sàn bê tông nên ông có đo đạc xác định vị trí mà không lập biên bản. Do ông Đ cung cấp giấy chứng nhận QSD đất (bản phôtô) đứng tên Mai Văn S. Ngày 09/01/2024 làm việc với ông S xác định đã bán đất cho ông Đ, công trình xây dựng trên đất là của ông Đ. Ông N xác định ngày 22/01/2024 tôi lập Biên bản vi phạm hành chính đối với ông Lê Trọng Đ tại UBND phường D chứ không có đến hiện trạng công trình (lấy số liệu ngày 08/01/2024) nên tiến độ xây dựng công trình như thế nào tôi không nắm.

Lẽ ra, ngày 08/01/2024 khi Công chức Địa chính – Xây dựng UBND phường D đã phát hiện hành vi vi phạm hành chính của ông Đ thuộc lĩnh vực mình quản lý thì phải tiến hành đo đạc, kiểm tra diện tích vi phạm và lập biên bản đo đạc, biên bản làm việc, biên bản vi phạm hành chính đối với ông Đ. Tuy nhiên, ngày 08/01/2024 Công chức Địa chính – Xây dựng UBND phường D không lập biên bản mà đến ngày 22/01/2024 mới lập các biên bản đo đạc, Biên bản làm việc và lập Biên bản vi phạm hành chính là không kịp thời và không đúng với hiện trạng thực tế về hành vi vi phạm của ông Đ.

Theo ông Đ trình bày và xác định vào ngày 22/01/2024 ông đã hoàn thành công trình về chân cột và mặt sàn tổng diện tích gần 1000m² (trước khi bị lập Biên bản vi phạm hành chính), sau này chỉ còn đổ bê tông các tầng sàn chứ không xây dựng gì thêm.

Theo Biên bản vi phạm hành chính ngày 22/01/2024 thể hiện diện tích ông Đ vi phạm chuyển đổi đất trồng cây lâu năm sang đất phi nông nghiệp với diện tích 461,3m² tại thửa 423,424,426. Tuy nhiên thời điểm này ông Đ đã xây dựng công trình chuyển đổi đất trồng cây lâu năm sang đất phi nông nghiệp khoảng gần 1000m². Như vậy biên bản vi phạm hành chính ngày 22/01/2024 thể hiện diện tích đất ông Đ vi phạm còn thiếu so với thực tế.

Ngày 27/02/2024, Công chức Địa chính – Xây dựng UBND phường D tiếp tục lập Biên bản vi phạm hành chính đối với ông Đ về hai hành vi vi phạm hành chính:

Hành vi thứ nhất: Sử dụng đất không đúng mục đích với diện tích 369,3m². Trong đó, có 212,7m² là đất trồng cây lâu năm nằm trong diện tích 6.515m² tại thửa 598, tờ bản đồ số 22 và diện tích 156 nằm trong diện tích 501,7m² loại đất trồng cây lâu năm, tại thửa 427, tờ bản đồ 122 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông S, bà T1 ngày 18/5/2018, đã được đánh biến động sang ông Lê Trọng Đ ngày 11/01/2024.

Hành vi thứ hai: Công trình xây dựng không có giấy phép xây dựng, qua đo đạc kiểm tra hiện trạng thực tế tổng diện tích xây dựng là 108,6m². Hiện trạng đã xây dựng gồm 01 tầng trệt, 02 tầng lầu. Công trình xây dựng nằm trong diện tích đất ở tại đô thị 108,6m² tại thửa 598.

Thực tế đối với hai hành vi vi phạm của ông Đ theo Biên bản vi phạm hành chính ngày 27/02/2024 nói trên là ông Đ đã thực hiện trước ngày 22/01/2024 (trước ngày lập Biên bản vi phạm hành chính ngày 22/01/2024).

[3.2] Về nội dung quyết định xử phạt:

Như đã phân tích phần [3.1] về trình tự thủ tục lập Biên bản vi phạm hành chính chưa phù hợp với Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Từ đó, ông Đ thực hiện có 01 hành vi vi phạm hành chính chuyển đổi đất trồng cây lâu năm sang đất phi nông nghiệp (đất thương mại dịch vụ) với diện tích 461,3m² + 108,6m2m² + 396,3m² = 939,2m² nhưng Công chức Địa chính – Xây dựng UBND phường D 02 biên bản vi phạm hành chính: Biên bản ngày 22/01/2024, ông Đ vi phạm 461,6m²; Biên bản ngày 27/02/2024 ông Đ vi phạm hai hành vi (hành vi thứ nhất sử dụng đất không đúng mục đích với diện tích 369,3m², hành vi thứ 2 là xây dựng công trình xây dựng không có giấy phép xây dựng với diện tích 108,6m²).

Từ hai Biên bản vi phạm hành chính nói trên, Chủ tịch UBND thành phố P đã ra quyết định xử phạt ông Lê Trọng Đ về hành vi chuyển đổi đất trồng cây lâu năm sang đất phi nông nghiệp với diện tích 461,6m² theo Quyết số 353/QĐ-XPHC ngày 31/01/2024 và Quyết định xử phạt số 1170/QĐ-XPHC ngày 27/3/2024 về hành vi xây dựng công trình không có giấy phép là chưa phù hợp pháp luật. Bởi, ông Đ chỉ thực hiện 01 hành vi hành chính là chuyển đổi đất trồng cây lâu năm sang đất phi nông nghiệp. Vì thời điểm ông Đ hoàn thành công trình móng và sàn bê tông trước ngày 22/01/2024 và thời điểm này đất ông Đ tại thửa 423, 424, 426, tờ bản đồ 122 là loại đất trồng cây lâu năm chưa được chuyển sang đất ở tại đô thị (được chuyển sang 300m² đất ở đô thị ngày ngày 06/02/2024).

Như vậy ông Đ chỉ thực hiện một hành vi mà bị lập hai Biên bản vi phạm hành chính và bị xử phạt hai lần là chưa phù hợp với điểm d khoản 1 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính “Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần”.

[4] Như phân tích phần [3.1], [3.2] nêu trên, sau khi thảo luận Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Trọng Đ về việc yêu cầu hủy Quyết định số 353/QĐ-XPHC ngày 31/01/2024 và Quyết định số 1170/QĐ-XPHC ngày 27/3/2024 của Chủ tịch UBND thành phố P về xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Lê Trọng Đ. Không chấp nhận đề nghị của người bị kiện và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện.

[5] Án phí hành chính sơ thẩm: Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án. Yêu cầu khởi kiện của ông Đ được chấp nhận nên ông Đ không phải chịu án phí. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp cho ông Đ theo quy định của pháp luật. Buộc Chủ tịch UBND thành phố P phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 30, 32, 116, 158, 164, 193, 194 của Luật tố tụng hành chính;

- Căn cứ Điều 32 của Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

- Căn cứ Điều 3, Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Trọng Đ.
    • Hủy Quyết định số 353/QĐ-XPHC ngày 31/01/2024 của Chủ tịch UBND thành phố P về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Lê Trọng Đ.
    • Huỷ Quyết định số 1170/QĐ-XPHC ngày 27/3/2024 của Chủ tịch UBND thành phố P về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Lê Trọng Đ.
  2. Về án phí hành chính sơ thẩm:
  3. Buộc Chủ tịch UBND thành phố P phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

    Trả lại cho ông Lê Trọng Đ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0007771 ngày 01/3/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.

  4. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

- VKSND tỉnh Kiên Giang;

- Các đương sự;

- UBND tỉnh Kiên Giang;

- Cục THADS tỉnh Kiên Giang;

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Võ Thanh Huyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HC-ST ngày 11/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính

  • Số bản án: 05/2025/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Người khởi kiện Lê Trọng Đ khởi kiện Quyết định xử phạt vi phạm hành chính
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger