|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH Bản án số: 05/2025/DS-ST Ngày: 28/11/2025 V/v: “ T/C Hợp đồng tín dụng; Kiện đòi tài sản” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Chu Minh Nam.
Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nghiêm Đình Chế .
- Ông Nguyễn Thế Long.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh.
Đại diện VKSND khu vực 7 – Bắc Ninh tham gia phiên tòa:
Ông Dương Minh Q - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2024/TLST-DS, ngày 16 tháng 4 năm 2024 về việc “ Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-DS, ngày 09 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ1 (S).
Địa chỉ: Số A T, phường H, Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn T – Chức vụ: Chủ tịch HĐQT.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Tạ Duy T1 – Chức vụ: Giám đốc S Chi nhánh H7.
Ông Tạ Duy T1 ủy quyền lại cho:
Bà Nguyễn Thị B – Chuyên viên cao cấp XLN – Khối xử lý nợ.
Bà Nguyễn Thị T2 – Chuyên viên chính XLN – Khối xử lý nợ.
Địa chỉ: A N, phường T, Hà Nội.
(bà Nguyễn Thị B có mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn Như C, sinh 1976; Bà Nguyễn Thị H, sinh 1976.
Trú tại: thôn P, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn P, xã Y, tỉnh Bắc Ninh).
(bà H ủy quyền cho chồng là ông Nguyễn Như C xin vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Bà Nguyễn Thị L, sinh 1971; Ông Nguyễn Bá B1, sinh 1969; Anh Vương Văn T3, sinh 1991; Đều trú tại: thôn T, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn T, phường M, tỉnh Bắc Ninh, bà L, ông B1 có mặt).
- Ông Nguyễn Bá T4, sinh 1978; Bà Vũ Thị H1, sinh 1985 (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Bá V, sinh 1951; Bà Phạm Thị M, sinh 1952 (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị G, sinh 1958; Anh Nguyễn Bá H2, sinh 1993; Chị Lê Thị Y, sinh 1996 (vắng mặt).
Đều trú tại: thôn T, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn T, phường M, tỉnh Bắc Ninh).
Đại diện theo ủy quyền của bà G: Anh Nguyễn Bá H2, sinh 1993 (vắng mặt).
Đại diện theo ủy quyền của anh T3: Bà Nguyễn Thị L, sinh 1971 (có mặt).
- Văn phòng C3, thành phố Hà Nội.
Địa chỉ: Số A G, phường Ô, Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị H3 - Trưởng văn phòng (xin vắng mặt).
- Văn phòng C4.
Địa chỉ: Số B Phố M, xã Y, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thị T5 – Trưởng văn phòng (xin vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Luật sư Nguyễn Trung T6; Mai Thị Minh H4; Lê Quỳnh A – Công ty L1 – Đoàn Luật sư thành phố H.
Trụ sở: Số C ngách A, H, xã Đ, Hà Nội (Luật sư T6, Luật sư H4 có mặt).
- Luật sư Phạm Thành T7 – Công ty L2 – Đoàn Luật sư thành phố H.
Trụ sở: Tầng A, Nhà C1, Đền L, Phường T, Hà Nội (xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện và lời khai tại Toà án của các đương sự thì nội dung vụ kiện được tóm tắt như sau.
Đại diện nguyên đơn (nay là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) trình bày: Ngày 19/8/2022, ông Nguyễn Như C và bà Nguyễn Thị H vay vốn tại S theo Hợp đồng cho vay từng lần số REF2218100086/HĐTD/HN3-NNC, hợp đồng có nội dung cụ thể như sau:
- Số tiền vay: 7.350.000.000 đồng.
- Thời hạn cho vay: từ ngày 13/10/2022 đến ngày 13/02/2046.
- Mục đích sử dụng hạn mức tín dụng: Vay bù đắp Thanh toán tiền mua bất động sản.
Lãi suất cho vay:
Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 10,19%/năm, mức lãi suất này sẽ được cố định trong 12 tháng kể từ ngày giải ngân. Hết thời hạn trên, lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh định kỳ vào ngày làm việc đầu tiên của mỗi quý khi có sự thay đổi của Lãi suất cơ sở do S ban hành từng thời kỳ. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 13/10/2023, điều chỉnh sau đó vào ngày làm việc đầu tiên của quý liền kề tiếp theo. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng (=) Lãi suất cơ sở của S đang áp dụng tại thời điểm điều chỉnh cộng với (+) biên độ 4,19%/năm.
Lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn (lãi suất quá hạn): Bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả: Bằng 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Thực hiện Hợp đồng nêu trên, ngày 13/10/2022, S đã giải ngân cho ông Nguyễn Như C và bà Nguyễn Thị H số tiền nhận nợ là 7.350.000.000 đồng (Bằng chữ: Bảy tỉ ba trăm năm mươi triệu đồng).
1.2 Tài sản bảo đảm cho các khoản vay là:
Tài sản số 01:
Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 145, tờ bản đồ số 12P, có diện tích 470,2 m2, tại địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 028751, số vào sổ cấp GCN: CS00700 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 30/6/2017; Sang tên chuyển nhượng cho ông Nguyễn Như C và bà Nguyễn Thị H ngày 8/8/2022. Chi tiết về việc thế chấp quy định tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 1337, quyển số: 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/8/2022 ký tại Phòng C5, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Tài sản được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Tài sản số 02:
Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 295 tờ bản đồ số 12p, có diện tích 151,4 m2, tại địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU 601026, số vào sổ cấp GCN: CH00438/QĐ722 do UBND huyện T, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 08/8/2014; Sang tên chuyển nhượng cho ông Nguyễn Như C và bà Nguyễn Thị H ngày 8/8/2022.
Tài sản số 03:
Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 128 tờ bản đồ số 12p, có diện tích 101,9 m2, tại địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU 601027, số vào sổ cấp GCN: CH00439/QĐ722 do UBND huyện T, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 08/8/2014; Sang tên chuyển nhượng cho ông Nguyễn Như C và bà Nguyễn Thị H ngày 8/8/2022.
Tài sản số 04:
Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 116 tờ bản đồ số 12P, có diện tích 811,5 m2, tại địa chỉ: xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DG 822064, số vào sổ cấp GCN: CS 01541 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 11/8/2022 cho ông Nguyễn Như C và bà Nguyễn Thị H.
Chi tiết về việc thế chấp các tài sản số 02,03,04 quy định tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 1336, quyển số: 01/2022TP/CC-SCC/HĐGC ngày 19/8/2022 ký tại Phòng C5, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Tài sản được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Quá trình đôn đốc thu hồi nợ và xử lý tài sản bảo đảm tiền vay
Trong quá trình thực hiện các Hợp đồng tín dụng trên, ông Nguyễn Như C và bà Nguyễn Thị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi cho S. S đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu ông Nguyễn Như C và bà Nguyễn Thị H trả nợ nhưng ông Nguyễn Như C và bà Nguyễn Thị H vẫn không thực hiện theo yêu cầu của Ngân hàng, có biểu hiện kéo dài thời gian và cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.
Tính đến ngày 22/4/2024, ông Nguyễn Như C và bà Nguyễn Thị H đã trả cho S số tiền là:
- - Nợ gốc: 0 đồng;
- - Nợ lãi trong hạn: 586.273.336 đồng;
- - Nợ lãi quá hạn: 66.858 đồng;
- - Tổng: 586.340.194 đồng.
Tạm tính đến ngày 22/4/2024, dư nợ của ông Nguyễn Như C và bà Nguyễn Thị H tại S cụ thể như sau:
- - Nợ gốc:7.350.000.000 đồng;
- - Lãi IN: 587.289.773 đồng;
- - Lãi PE&PS: 29.763.685 đồng;
- - Tổng nợ:7.967.053.458 đồng.
Như vậy, tại thời điểm hiện nay, Bên vay đồng thời là bên Bảo đảm đã vi phạm các nghĩa vụ cam kết, thỏa thuận với S theo các Hợp đồng, văn bản đã ký với S.
Yêu cầu Tòa án giải quyết.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của S, S kính đề nghị Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh thụ lý vụ án và xem xét giải quyết các yêu cầu sau:
- Buộc ông Nguyễn Như C và bà Nguyễn Thị H thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ1 các khoản nợ theo Hợp đồng cho vay từng lần số REF2218100086 /HĐTD/HN3-NNC với tổng dư nợ tạm tính đến ngày 22/4/2024 là: 7.967.053.458 đồng (Bao gồm: 7.350.000.000 đồng tiền nợ gốc; 587.289.773 đồng tiền nợ lãi trong hạn và 29.763.685 đồng tiền nợ lãi quá hạn).
- Buộc ông Nguyễn Như C và bà Nguyễn Thị H thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ1 các khoản tiền lãi, phí... phát sinh theo thỏa thuận tại các Hợp đồng cho vay từng lần số REF2218100086 /HĐTD/HN3-NNC kể từ ngày 23/43/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
- Kể từ ngày Bản án/Quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành, nếu ông Nguyễn Như C và bà Nguyễn Thị H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì S được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự tiến hành kê biên, phát mại các tài sản bảo đảm của các khoản vay để xử lý thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP Đ1. Cụ thể các tài sản bảo đảm là:
Tài sản số 01:
Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 145, tờ bản đồ số 12P, có diện tích 470,2 m2, tại địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 028751, số vào sổ cấp GCN: CS00700 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 30/6/2017; Sang tên chuyển nhượng cho ông Nguyễn Như C và bà Nguyễn Thị H ngày 8/8/2022.
Tài sản số 02:
Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 295 tờ bản đồ số 12P, có diện tích 151,4 m2, tại địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU 601026, số vào sổ cấp GCN: CH00438/QĐ722 do UBND huyện T, tỉnh
Bắc Ninh cấp ngày 08/8/2014; Sang tên chuyển nhượng cho ông Nguyễn Như C và bà Nguyễn Thị H ngày 8/8/2022.
Tài sản số 03:
Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 128 tờ bản đồ số 12P, có diện tích 101,9 m2, tại địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU 601027, số vào sổ cấp GCN: CH00439/QĐ722 do UBND huyện T, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 08/8/2014; Sang tên chuyển nhượng cho ông Nguyễn Như C và bà Nguyễn Thị H ngày 8/8/2022.
Tài sản số 04:
Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 116 tờ bản đồ số 12P, có diện tích 811,5 m2, tại địa chỉ: xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DG 822064, số vào sổ cấp GCN: CS 01541 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 11/8/2022 cho ông Nguyễn Như C và bà Nguyễn Thị H.
Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ1, thì ông Nguyễn Như C và bà Nguyễn Thị H vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho S cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.
Bị đơn là ông Nguyễn Như C, bà Nguyễn Thị H do ông C đại diện theo ủy quyền trình bày:
Năm 2022 vợ chồng ông có vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đ1 (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng) theo Hợp đồng cấp tín dụng vay từng lần cụ thể như sau.
Hợp đồng cho vay từng lần số REF2218100086/HĐTD/HN3-NNC ngày 19/8/2022
- - Số tiền vay: 7.350.000.000 đồng.
- - Thời hạn vay từ ngày 13/10/2022 đến ngày 13/02/2046.
- - Mục đích vay: Bù đắp thanh toán tiền mua bất động sản.
- - Lãi suất: Lãi suất theo thỏa thuận và quy định trong từng kế ước nhận nợ; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; Lãi suất phạt chậm trả lãi 10%/năm.
Để đảm bảo cho các khoản vay này vợ chồng ông đã thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất cụ thể như sau.
- Quyền sử dụng và tài sản gắn liền trên đất tại đất tại thửa đất số 145, tờ bản đồ số 12P, diện tích 470,2m², tại đị chỉ: thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Theo giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất số: CK028751, số vào sổ cấp GCN: CS00700 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 30/6/2017; Sang tên chuyển nhượng cho ông Nguyễn Như C, bà Nguyễn Thị H ngày 08/8/2022. Chi tiết về thế chấp quy định tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 1337, quyển số 01/2022TP/CC-HĐGD ngày 19/8/2022 ký tại Phòng C5, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Tài sản được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắng liền trên đất tại thửa đất số 295, tờ bản đồ số 12P, diện tích 151,4m2, tại địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Theo giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất số BU
601026, số vào sổ cấp GCN: CH00438/QDD722 do UBND huyện T, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 08/8/2014; Sang tên chuyển nhượng cho ông Nguyễn Như C, bà Nguyễn Thị H ngày 08/8/2022.
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắng liền trên đất tại thửa đất số 128, tờ bản đồ số 12P, diện tích 101,9m2, tại địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Theo giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất số BU 601027, số vào sổ cấp GCN: CH00439/QDD722 do UBND huyện T, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 08/8/2014; Sang tên chuyển nhượng cho ông Nguyễn Như C, bà Nguyễn Thị H ngày 08/8/2022.
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắng liền trên đất tại thửa đất số 116, tờ bản đồ số 12P, diện tích 811,5m2, tại địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Theo giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất số DG822064, số vào sổ cấp GCN: CS01541 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 08/8/2014; Sang tên chuyển nhượng cho ông Nguyễn Như C, bà Nguyễn Thị H ngày 11/8/2022.
Hợp đồng thế chấp được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Sau khi vay vốn của Ngân hàng vợ chồng ông sử dụng vốn đúng mục đích và đã trả cho Ngân hàng được một số tiền lãi nhưng sau đó do việc kinh doanh gặp khó khăn nên đến hạn chưa trả được gốc và lãi cho Ngân hàng.
Nay vợ chồng ông được biết Ngân hàng khởi kiện tại Tòa án yêu cầu vợ chồng ông phải trả số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 22/4/2024 là 7.967.053.458đ vợ chồng ông xác nhận còn nợ Ngân hàng số tiền gốc và lãi như yêu cầu của Ngân hàng là đúng. Vợ chồng ông sẽ thu xết trả cho Ngân hàng trong thời gian sớm nhất.
Ông C khẳng định cả 04 tài sản mà vợ chồng ông dùng để thế chấp tại Ngân hàng là tài sản thuộc quyền sở hữu và sử dụng hợp pháp của riêng vợ chồng ông, các con con không có đóng góp gì. Cả 04 tài sản này vợ chồng ông nhận chuyển nhượng từ vợ chồng anh Nguyễn Bá T4 và chị Vũ Thị H1. Toàn bộ khối tài sản này tại thời điểm thế chấp đến bây giờ không có biến động gì lớn và không có tranh chấp về ranh giới, mốc giới với các hộ liền kề. Sau khi nhận chuyển nhượng các tài sản này và thế chấp tại Ngân hàng vợ chồng tôi cho vợ chồng anh T4, chị H1 thuê lại.
Vợ chồng ông khẳng định không quen biết bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1971 hiện trú tại: Thôn T, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh và không có giao dịch gì với bà L liên quan đến thửa đất số 145, tờ bản đồ số 12P, diện tích 470, 2m2.
Ông Nguyễn Như C trình bày bổ sung như sau: Ông có quen biết với anh Nguyễn Bá T4 ở thôn T, xã H, thị xã T qua anh Nguyễn Văn T8 ở thị xã Q giới thiệu để làm hạ tầng điện cho Công ty của ông. Khoảng tháng 8/2022 anh T4 có đặt vấn đề nhờ ông đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp vay vốn tại Ngân hàng cho hộ anh T4. Ông có nói với anh T4 thủ tục pháp lý như thế nào cho hợp pháp thì mang ra ông ký vì ông không có thời gian. Sau đó tại Văng phòng Có giữa vợ chồng ông và vợ chồng anh T4 có làm thủ tục chuyển nhượng 04 thửa đất tại thôn T trong đó
có 02 thửa đứng tên anh T4, 01 thửa đứng tên bà Nguyễn Thị L, 01 thửa đứng tên bà Nguyễn Thị G. Ông khẳng định không biết bà L, bà G là ai và cũng chưa hề đến nhận đất như hợp đồng chuyển nhượng.
Mọi thủ tục vay vốn tại Ngân hàng do anh T4 là người trực tiếp làm, ông chỉ ký theo yêu cầu của cán bộ Ngân hàng và anh T4.
Sau khi hoàn thiện thủ tục vay tiền thì toàn bộ số tiền vay chuyển vào tài khoản của anh T8 ở Q. Anh T4 có đưa cho ông 400.000.000đ để trả lãi hàng tháng cho Ngân hàng. Số tiền anh T4 đưa ông dùng để trả lãi hàng tháng cho Ngân hàng, đến khi hết tiền ông có bảo anh T4 đưa thêm tiền để trả nhưng anh T4 không đưa nên ông cũng không trả cho Ngân hàng nữa.
Ông khẳng định ông chỉ được anh T4 nhờ đứng tên trên 04 thửa đất để thế chấp vay vồn hộ anh T4 tại Ngân hàng chứ không nhận chuyển nhượng thật 04 thửa đất này. Toàn bộ tiền vay được từ Ngân hàng anh T4 sử dụng.
Sau khi Ngân hàng khởi kiện tại Tòa án ông cũng hiểu ông là người đứng tên vay thì phải có trách nhiệm trả Ngân hàng và ông đã đến làm việc với Ngân hàng xin trả số tiền gốc và đề nghị Ngân hàng miễn lãi cho ông nhưng phía Ngân hàng chưa đồng ý.
Ông cũng đã nhận được thông báo thụ lý số 28A và 28B và biết được yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị L. Đối với yêu cầu này của bà G, bà L ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Lý do ngày 07/6/2024 ông khai tại Tòa án như vậy là do lúc đó anh T4 có cam kết với ông là sẽ thu sếp tiền để trả Ngân hàng nên ông mới khai như vậy. Nay ông khai bổ sung lại để Tòa án làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Anh Nguyễn Bá T4 trình bày: Ngày 02/8/2022 vợ chồng anh có chuyển nhượng cho vợ chồng anh Nguyễn Như C, chị Nguyễn Thị H 04 thửa đất có thông tin như sau.
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại đất tại thửa đất số 145, tờ bản đồ số 12P, diện tích 470,2m², tại đị chỉ: thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Theo giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất số: CK028751, số vào sổ cấp GCN: CS00700 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 30/6/2017.
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 295, tờ bản đồ số 12P, diện tích 151,4m2, tại địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Theo giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất số BU 601026, số vào sổ cấp GCN: CH00438/QDD722 do UBND huyện T, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 08/8/2014.
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 128, tờ bản đồ số 12P, diện tích 101,9m2, tại địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Theo giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất số BU 601027, số vào sổ cấp GCN: CH00439/QDD722 do UBND huyện T, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 08/8/2014;
chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất số DG822064, số vào sổ cấp GCN: CS01541 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 08/8/2014;
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Công chứng theo đúng quy định của pháp luật. Sau khi hoàn tất các thủ tục anh C, chị H đã được Cơ quan có thẩm quyền công nhận và đứng tên chủ sử dụng 04 thửa đất trên.
Sau khi chuyển nhượng 04 thửa đất này cho anh C thì giữa anh và anh C có thỏa thuận và giao cho anh quản lý sử dụng cả 04 thửa đất trên.
Sau này anh được biết anh C đã thế chấp 04 thửa đất trên để vay tiền tại Ngân hàng TMCP Đ1. Do anh C không thanh toán trả nợ Ngân hàng Đ2 và đúng hạn nên Ngân hàng đã khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.
Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng với anh C, chị H anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Anh khẳng định cả 04 tài sản mà vợ chồng anh chuyển nhượng cho anh C, chị H ở thời điểm chuyển nhượng thì vợ chồng anh đầy đủ quyền chuyển nhượng.
Đối với thửa đất của bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1971 hiện trú tại: Thôn T, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh là thửa đất số 145, tờ bản đồ số 12P, diện tích 470,2m2 ở thời điểm vợ chồng anh chuyển nhượng cho anh C, chị H thì vợ chồng tôi được bà L ủy quyền hợp pháp trong đó có việc ủy quyền cho vợ chồng anh được quyền chuyển nhượng thửa đất trên. Thửa đất này hiện đang do vợ chồng bà L quản lý sử dụng.
Theo thông báo thụ lý số 11/2024/TB-TLVA ngày 21/3/2024 của TAND thị xã Thuận Thành bà Nguyễn Thị Là L nguyên đơn khởi kiện vợ chồng anh tại TAND thị xã Thuận Thành trong đó bà L yêu cầu Tòa án tuyên hủy hợp đồng ủy quyền ngày 20/7/2021 giữa bà L và vợ chồng anh; T9 hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng anh và vợ chồng anh C, chị H.
Vụ án hiện đang do TAND thị xã Thuận Thành thụ lý giải quyết.
Anh Nguyễn Bá T4 khai bổ sung như sau.
Do cần vốn làm ăn và bản thân anh đang bị nợ xấu nên không thể vay vốn tại các Ngân hàng được. Anh có nhờ anh Nguyễn Như C, chị Nguyễn Thị H đứng tên trên 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay vốn hộ anh tại Ngân hàng. Cụ thể ngày 02/8/2022 vợ chồng anh có chuyển nhượng cho vợ chồng anh Nguyễn Như C, chị Nguyễn Thị H 04 thửa đất có thông tin như sau.
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại đất tại thửa đất số 145, tờ bản đồ số 12P, diện tích 470,2m², tại đị chỉ: thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Theo giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất số: CK028751, số vào sổ cấp GCN: CS00700 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 30/6/2017.
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 295, tờ bản đồ số 12P, diện tích 151,4m2, tại địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Theo giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất số BU
601026, số vào sổ cấp GCN: CH00438/QDD722 do UBND huyện T, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 08/8/2014.
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 128, tờ bản đồ số 12P, diện tích 101,9m2, tại địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Theo giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất số BU 601027, số vào sổ cấp GCN: CH00439/QDD722 do UBND huyện T, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 08/8/2014;
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 116, tờ bản đồ số 12P, diện tích 811,5m2, tại địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Theo giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất số DG822064, số vào sổ cấp GCN: CS01541 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 08/8/2014;
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Công chứng theo đúng quy định của pháp luật. Sau khi hoàn tất các thủ tục anh C, chị H đã được Cơ quan có thẩm quyền công nhận và đứng tên chủ sử dụng 04 thửa đất trên.
Sau khi hoàn tất thủ trục chuyển nhượng thì anh C đã thế chấp 04 thửa đất trên để vay tiền tại Ngân hàng TMCP Đ1. Do anh C không thanh toán trả nợ Ngân hàng Đ2 và đúng hạn nên Ngân hàng đã khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.
Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng với anh C, chị H anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Anh khẳng định cả 04 tài sản mà vợ chồng anh chuyển nhượng cho anh C, chị H chỉ nhằm mục đích nhờ anh C, chị H đứng tên để vay tiền hộ tôi tại Ngân hàng chứ không có việc chuyển nhượng thật. Do việc kinh doanh của anh gặp khó khăn nên không thanh toán trả nợ Ngân hàng đúng hạn để rút sổ đỏ ra trả cho bà L, bà G theo thỏa thuận.
Nay Ngân hàng khởi kiện và bà L, bà G có đơn yêu cầu độc lập đối với các yêu cầu này anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Anh khẳng định việc nhờ anh C, chị H đứng tên trên 04 sổ đỏ để vay Ngân hàng tôi và anh C chỉ thỏa thuận miệng với nhau và không báo cho Ngân hàng biết khi vay tiền.
Chị Vũ Thị H1 trình bày: Ngày 02/8/2022 vợ chồng chị có chuyển nhượng cho vợ chồng anh Nguyễn Như C, chị Nguyễn Thị H 04 thửa đất có thông tin như sau.
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại đất tại thửa đất số 145, tờ bản đồ số 12P, diện tích 470,2m², tại đị chỉ: thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Theo giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất số: CK028751, số vào số cấp GCN: CS00700 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 30/6/2017.
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 295, tờ bản đồ số 12P, diện tích 151,4m2, tại địa chỉ: thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Theo giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất số BU
601026, số vào số cấp GCN: CH00438/QDD722 do UBND huyện T, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 08/8/2014.
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 128, tờ bản đồ số 12P, diện tích 101,9m2, tại địa chỉ: thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Theo giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất số BU 601027, số vào số cấp GCN: CH00439/QDD722 do UBND huyện T, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 08/8/2014;
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 116, tờ bản đồ số 12P, diện tích 811,5m2, tại địa chỉ: thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Theo giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất số DG822064, số vào số cấp GCN: CS01541 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 11/8/2022;
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Công chứng theo đúng quy định của pháp luật. Sau khi hoàn tất các thủ tục anh C, chị H đã được Cơ quan có thẩm quyền công nhận và đứng tên chủ sử dụng 04 thửa đất trên.
Trong 04 thửa đất này, chị cùng anh T4 ký chuyển nhượng cho anh C và chị H 03 thửa là các thửa: Thửa đất số 295, Thửa đất 128, Thửa đất số 145. Mục đích vợ chồng chị chuyển nhượng cho anh C, chị H để nhờ anh C vay vốn tại ngân hàng. Còn cụ thể vay tại ngân hàng nào, vay bao nhiêu tiền thì chị không nắm được. Sau khi chuyển nhượng 04 thửa đất này cho anh C thì giữa chị và anh C có thỏa thuận và giao chovợ chồng chị quản lý sử dụng cả 04 thửa đất trên. Sau này chị được biết anh C đã thế chấp 04 thửa đất trên để vay tiền tại Ngân hàng TMCP Đ1. Do anh C không thanh toán trả nợ Ngân hàng Đ2 và đúng hạn nên Ngân hàng đã khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Yên Phong. Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng với anh C, chị H chị đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Chị khẳng định cả 04 tài sản mà vợ chồng chị chuyển nhượng cho anh C, chị H ở thời điểm chuyển nhượng thì vợ chồng chị đầy đủ quyền chuyển nhượng và mục đích là để anh C và chị H vay vốn hộ tại ngân hàng. Đối với thửa đất của bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1971 hiện trú tại: Thôn T, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh là thửa đất số 145, tờ bản đồ số 12P, diện tích 470, 2m2 ở thời điểm vợ chồng chị chuyển nhượng cho anh C, chị H thì vợ chồng chị được bà L ủy quyền hợp pháp trong đó có việc ủy quyền cho vợ chồng chị được quyền chuyển nhượng thửa đất trên. Thửa đất này hiện đang do vợ chồng bà L quản lý sử dụng.
Theo thông báo thụ lý số 11/2024/TB-TLVA ngày 21/3/2024 của TAND thị xã Thuận Thành bà Nguyễn Thị Là L nguyên đơn khởi kiện vợ chồng chị tại TAND thị xã Thuận Thành trong đó bà L yêu cầu Tòa án tuyên hủy hợp đồng ủy quyền ngày 20/7/2021 giữa bà L và vợ chồng chị; T9 hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng chị và vợ chồng anh C, chị H. Vụ án hiện đang do TAND thị xã Thuận Thành thụ lý giải quyết. Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với anh C, chị H chị đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Hiện chị và anh T4 đã ly hôn với nhau.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị L (nay là nguyên đơn), ông Nguyễn Bá B1 và Luật sư Nguyễn Trung T6, Luật sư Mai Thị Minh H4 thống nhất trình bày:
- Về nguồn gốc thửa đất số 145, tờ bản đồ số 12P, diện tích 470,2m2, tại thôn T (sau đây gọi tắt là thửa đất số 145) mà anh Nguyễn Như C, chị Nguyễn Thị H thế chấp để vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đ1: Năm 2017, gia đình bà (Là) tiến hành phân chia di sản thừa kế do bố mẹ bà là ông Nguyễn Bá T10 (mất năm 2000) và bà Nguyễn Thị G1 (mất năm 2010) để lại có diện tích 470,2m2. Bốn chị em gái của bà đã đồng ý không nhận di sản thừa kế mà bố mẹ bà để lại cho bà toàn bộ tài sản của bố mẹ bà là thửa đất trên vì bà là con út trông nom bố mẹ. Ngày 30/6/2027, bà được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất số: CK028751, số vào sổ cấp GCN: CS00700 mang tên Nguyễn Thị L đối với thửa đất số 145, tờ bản đồ số 12P, diện tích 470,2m2, tại thôn T, xã H, thị xã T. Sau khi được cấp giấy chứng nhận QSDĐ vợ chồng bà xây dựng một số công trình trên đất để sử dụng và sinh sống trên thửa đất này từ thời điểm đó cho đến nay và không có tranh chấp với ai về ranh giới, mốc giới, hàng năm đóng thuế cho Nhà nước đầy đủ.
- Khoảng năm 2017 bà có sử dụng thửa đất số 145 để đảm bảo cho khoản vay của anh T4 tại Quỹ tín dụng nhân dân xã H.
- Khoảng tháng 7/2021, anh Nguyễn Bá T4 vợ là Vũ Thị H1 là hàng xóm có qua nhà bà và ngỏ ý muốn mượn GCNQSDĐ để làm ăn. Do tin tưởng ông T4 là hàng xóm và không hiểu biết về pháp luật nên bà đã đồng ý cho ông T4 mượn GCNQSDĐ để vay vốn làm ăn (theo bà hiểu là để anh T4 thế chấp để vay vốn tại Ngân hàng). Để đảm bảo anh T4 sử dụng đúng mục đích bà có yêu cầu anh T4 viết giấy cam kết và ký tên (Giấy này bà đã nộp cho Tòa án).
- Đến năm 2023 khi đi đóng thuế đất bà mới biết thửa đất số 145 đã được anh T4 chuyển nhượng cho anh C, chị H. Ngay sau đó bà có đến gặp anh T4 và anh C thì được anh C cho biết chỉ đứng tên hộ để vay vốn cho anh T4. Qua tìn hiểu, bà mới biết đã bị ông T4 lừa ký vào hợp đồng ủy quyền (được công chứng tại Văn phòng C7 ngày 20/7/2021), sau đó ông T4 dùng văn bản ủy quyền này để chuyển nhượng thửa đất số 145 cho ông Nguyễn Như C, bà Nguyễn Thị H (hợp đồng công chứng tại Văn phòng C4 ngày 02/8/2022). Sau đó ông Nguyễn Như C, bà Nguyễn Thị H đã thế chấp thửa đất số 145 của gia đình bà để vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đ1.
- Bà xác nhận có được ông T4 đưa đi ký một số giấy tờ nhưng do say xe và tin tưởng ông T4 nên bà có ký và một số giấy tờ nhưng không rõ là nội dung gì.
- Bà khẳng định từ trước đến nay gia đình vẫn sinh sống trên thửa đất số 145 và khồng hề biết việc Ngân hàng về thẩm định giá đối với thửa đất số 145 trước khi cho ông C, bà H thế chấp để vay vốn tại Ngân hàng.
- Ngay khi biết bị ông T4 lừa ký vào hợp đồng ủy quyền bà đã làm đơn khởi kiện tại TAND thị xã Thuận Thành đề nghị tuyên bố hợp đồng ủy quyền và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên là vô hiệu. TAND thị xã Thuận Thành đã
xét xử sơ thẩm và TAND tỉnh Bắc Ninh đã xét xử phúc thẩm và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà tuyên hợp đồng ủy quyền và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu.
Nay bà được biết Ngân hàng khởi kiện tại TAND huyện Yên Phong trong đó có nội dung liên quan đến phát mại tài sản thế chấp là thửa đất số 145 quan điểm của bà như sau.
Không đồng ý với yêu cầu của Ngân hàng phát mại tài sản thế chấp là thửa đất số 145 vì tại Bản án số: 26/2024/DSST ngày 06/9/2024 của TAND thị xã Thuận Thành đã xét xử sơ thẩm và Bản án phúc thẩm số: 14/2024/DSPT ngày 15/12/2024 của TAND tỉnh Bắc Ninh đã xét xử phúc thẩm và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà tuyên hợp đồng ủy quyền và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu. Như vậy thửa đất số 145 không còn là tài sản đảm bảo, không còn là đối tượng thực hiện trong hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất nữa.
Ngày 28/4/2025 bà có đơn yêu cầu độc lập gửi Tòa án nhân dân huyện Yên Phong yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu toàn bộ Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số REF2218100086/HDTC/HN3-NNC/1 ngày 19/8/2022 ký giữa Ngân hàng TMCP Đ1 và ông Nguyễn Như C, bà Nguyễn Thị H và ngày 29/4/2025 TAND huyện Yên Phong đã thụ lý yêu cầu độc lập của bà theo quy định của pháp luật.
Về giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu: Bà đề nghị Tòa án buộc anh C, chị H và Ngân hàng phải trả lại GCNQSDĐ cho bà và bà có quyền đến các Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai đăng ký lại quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khắn liên trên đất theo quy định của pháp luật.
Bà cũng được nghe Tòa án giải thích về quyền và nghĩa của mình và được Tòa án thông báo việc xem xét thẩm định tại chỗ đối với thửa đất số 145 nhưng bà không đồng ý và cũng không đề nghị Tòa án xem xét thẩm định đối với thửa đất số 145. Bà đề nghị Tòa án sử dụng kết quả xem xét thẩm định và định giá tài sản của TAND thị xã Thuận Thành đối với thửa đất số 145. Bà sẽ chịu mọi hậu quả pháp lý về việc từ chối để Tòa án xem xét thẩm định và định giá đối với đối tượng đang tranh chấp là thửa đất số 145 đang được thế chấp tại Ngân hàng.
Khoảng tháng 4/2025 vợ chồng tôi có xây dựng thêm 04 phòng trọ trên thửa đất số 145, còn các các tài sản khác không thay đổi và biến động gì.
Bà Nguyễn Thị G, anh Nguyễn Bá H2, chị Lê Thị Y1 và Luật sư Phạm Thành T7 thống nhất trình bày :
- Về nguồn gốc thửa đất số 116, tờ bản đồ số 12P, diện tích 811,5m2, tại thôn T (sau đây gọi tắt là thửa đất số 116) mà anh Nguyễn Như C, chị Nguyễn Thị H thế chấp để vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đ1: Nguồn gốc thửa đất này do cha ông để lại, thửa đất được UBND huyện T cấp GCNQSĐ lần đầu vào ngày 22/12/1998 cho hộ bà Nguyễn Thị G (thời điểm này chồng bà là ông Nguyễn Bá H5 đã chết). Ngày 18/02/2012 Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B xác nhận nội dung đăng ký biến động chủ sử dụng đất là bà Nguyễn Thị G tuy nhiên gia đình bà không hề biết mọi thủ tục do
anh T4 tự đi làm và giả mạo chữ ký của gia đình tôi, gia đình bà không biết và không có văn bản thỏa thuận để bà đứng tên chủ sử dụng thửa đất số 116.
Do thời gian đã lâu nên bà không nhớ đã cho anh Nguyễn Bá T4 là cháu họ mượn sổ đỏ bao nhiêu lần nhưng theo trang 3 của sổ đỏ bà đã 04 lần sử dụng thửa đất số 116 để đảm bảo cho khoản vay của anh T4 tại các tổ chức tín dụng để anh T4 vay vốn làm ăn. Hình thức là bà ký giấy ủy quyền cho anh T4 để anh T4 tự làm việc với các tổ chức tín dụng. Cả 04 lần này anh T4 đều trả nợ đúng hạn và đã được xóa thế chấp việc này được thể hiện tại trang 3 sổ đỏ của bà tuy nhiên sổ đỏ này anh T4 vẫn giữ và không trả lại cho bà, việc vay mượn của anh T4 như thế nào gia đình bà không biết.
Ngày 01/8/2022, anh Nguyễn Bá T4 lại nhờ bà ký giấy ủy quyền thế chấp tài sản (lần thứ 5) với lý do như những lần trước để vay vốn Ngân hàng. Cùng ngày 01/8/2022 anh T4 mang đến nhà bà 01 văn bản ủy quyền của văn phòng C3 và lừa bà ký vào văn bản này. Do tin tưởng ông T4 nên bà đã không xem kỹ nội dung ủy quyền trong đó có cả nội dung “chuyển nhượng quyền sử dụng đất” và đồng ý ký vào bản ủy quyền. Khi ký chỉ có bà và anh T4 không có mặt công chứng viên.
Đến năm 2023 khi đi đóng thuế đất bà mới biết thửa đất số 116 đã được anh T4 chuyển nhượng cho anh C, chị H. Ngay sau đó bà có đến gặp anh T4 thì được anh T4 cho biết chỉ nhờ anh C, chị H đứng tên hộ để vay vốn cho anh T4. Qua tìn hiểu, bà mới biết đã bị ông T4 lừa ký vào hợp đồng ủy quyền, sau đó ông T4 dùng văn bản ủy quyền này để chuyển nhượng thửa đất số 116 cho ông Nguyễn Như C, bà Nguyễn Thị H (hợp đồng công chứng tại Văn phòng C4 ngày 02/8/2022). Sau đó ông Nguyễn Như C, bà Nguyễn Thị H đã thế chấp thửa đất số 116 của gia đình bà để vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đ1. Ngày 12/9/2023 ông T4 có viết giấy cam kết thừa nhận đã lừa bà để ký bán cho anh C, chị H và hứa sẽ trả lại sổ đỏ cho bà trong vòng 60 ngày nhưng sau đó ông T4 không thực hiện đúng cam kết.
Bà khẳng định từ trước đến nay gia đình vẫn sinh sống trên thửa đất số 116 và khồng có việc Ngân hàng về thẩm định giá đối với thửa đất số 116 trước khi cho ông C, bà H thế chấp để vay vốn tại Ngân hàng và gia đình bà cũng không biết ông C, bà H là ai.
Nay bà được biết Ngân hàng khởi kiện tại TAND huyện Yên Phong trong đó có nội dung liên quan đến phát mại tài sản thế chấp là thửa đất số 116 quan điểm của bà như sau.
Không đồng ý với yêu cầu của Ngân hàng phát mại tài sản thế chấp là thửa đất số 116 vì bà mới là chủ sử dụng hợp pháp thửa đất số 116. Hành vi của anh T4 có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bà đã làm đơn tố cáo hành vi của ông T4 gửi Công an tỉnh B.
Ngày 16/8/2024 bà có đơn yêu cầu độc lập gửi tòa án nhân dân huyện Yên Phong yêu cầu Tòa án giải quyết những nội dung sau.
- Đề nghị Tòa án bác một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn liên quan đến kê biên, phát mại quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 116 tờ bản đồ số 12P, có diện tích 811,5m2, tại địa chỉ: xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.
- Đề nghị Tòa án tuyên hủy Hợp đồng ủy quyền ngày 01/8/2022 của Văn phòng C3 (số công chứng 11086.2022/HĐUQ; Quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD) ký giữa bà Nguyễn Thị G và ông Nguyễn Bá T4.
- Đề nghị Tòa án tuyên hủy Hợp đồng chuyển nhượng ngày 02/8/2022 của Văn phòng C4 (số công chứng 2306/2022/HĐCN; Quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD) ký giữa ông Nguyễn Bá T4 và ông Nguyễn Như C, bà Nguyễn Thị H.
- Đề nghị Tòa án tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DG 822064, số vào sổ cấp GCN: CS 01541 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 11/8/2022 cho ông Nguyễn Như C, bà Nguyễn Thị H.
- Đề nghị Tòa án tuyên hủy một phần Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số REF2218100086/HDTC/HN3-NNC/2 ngày 19/8/2022 ký giữa Ngân hàng TMCP Đ1 và ông Nguyễn Như C, bà Nguyễn Thị H liên quan đến việc thế chấp thửa đất số 116 tờ bản đồ số 12P, có diện tích 811,5m2, tại địa chỉ: xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.
- Xác định thửa đất số 116 tờ bản đồ số 12P, có diện tích 811,5m2, tại địa chỉ: xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh vẫn thuộc quyền sở hữu và sử dụng hợp pháp của bà Nguyễn Thị G và kể từ khi có Bản án/Quyết định của Tòa án thì tôi được quyền thực hiện các thủ tục cần thiết theo quy định của pháp luật để cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tôi đối với thửa đất này.
Tòa án nhân dân huyện Yên Phong đã thú lý yêu cầu độc lập này của bà theo quy định của pháp luật.
Bà cũng được nghe Tòa án giải thích về quyền và nghĩa của mình và được Tòa án thông báo việc xem xét thẩm định tại chỗ đối với thửa đất số 116. Bà đã nhận được kết quả đo đạc nhưng bà không đồng ý và không đề nghị định giá đối với thửa đất số 116 cùng tài sản trên đất vì đây là tài sản hợp pháp của gia đình bà. Bà xin chịu hậu quả pháp lý về việc không yêu cầu và không đồng ý để TAND huyện Yên Phong định giá tài sản đang tranh chấp là thửa đất số 116 và tài sản trên đất.
Quá trình sinh sống trên thửa đất số 116 khoản 15 năm trước gia đình bà và gia đình anh T4 có thỏa thuận chuyển lối đi vào thửa đất của gia đình bà nằm ở giữa hai thửa đất số 295 và 128 của gia đình anh T4 thành lối đi nằm phía ngoài thửa đất số 128 như hiện nay. Việc tự thỏa thuận này cả hai gia đình đều không làm văn bản thỏa thuận và cũng chưa đăng ký biến động với các Cơ quan có thẩm quyền.
Quá trình gia đình bà sinh sống trên thửa đất số 116 thì năm 2019 gia đình bà có xây dựng 01 ngôi nhà trần 02 tầng, tầng 1 đổ bê tông, tầng 2 lợp tôn chống nóng và một số công trình khác cùng cây cối lâm lộc trên đất như nội dung biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 15/5/2025. Các tài sản này là tài sản này là tài sản chung của gia đình. Tại thời điểm hiện nay trong sổ hộ khẩu gia đình gồm có các thành viên sau. Tôi (Gặn), con trai là Nguyễn Bá H2, sinh 1993, con dâu là Lê Thị Y, sinh 1996, 02 cháu nội là Nguyễn Bá Anh Q1, sinh năm 2014, Nguyễn Bá Hải Đ, sinh năm 2017 còn em trai của chồng tôi là Nguyễn Bá Q2, sinh 1963 có sổ hộ khẩu riêng và không có quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan gì đến thửa đất số 116 và các tài sản trên đất.
Về giải quyết hậu quả của các hợp đồng vô hiệu: Tôi yêu cầu Tòa án giải quyết như sau.
- Đề nghị Tòa án tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DG 822064, số vào sổ cấp GCN: CS 01541 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 11/8/2022 cho ông Nguyễn Như C, bà Nguyễn Thị H.
- Đề nghị Tòa án tuyên hủy một phần Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số REF2218100086/HDTC/HN3-NNC/2 ngày 19/8/2022 ký giữa Ngân hàng TMCP Đ1 và ông Nguyễn Như C, bà Nguyễn Thị H liên quan đến việc thế chấp thửa đất số 116 tờ bản đồ số 12P, có diện tích 811,5m2, tại địa chỉ: xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.
- Xác định thửa đất số 116 tờ bản đồ số 12P, có diện tích 811,5m2, tại địa chỉ: xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh vẫn thuộc quyền sở hữu và sử dụng hợp pháp của bà Nguyễn Thị G và kể từ khi có Bản án/Quyết định của Tòa án thì tôi được quyền thực hiện các thủ tục cần thiết theo quy định của pháp luật để cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tôi đối với thửa đất này.
Tại phiên tòa nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Đ1 xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện do bị đơn là ông Nguyễn Như C, bà Nguyễn Thị H đã tất toán toàn bộ khoản vay. Ngân hàng đã giải chấp 04 tài sản ông C, bà H đã thế chấp tại Ngân hàng và trả lại 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C, bà H.
Bà Nguyễn Thị G có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu độc lập do bà và ông C, bà H đã tự thoả thuận giải quyết với nhau.
Bị đơn là ông C đồng ý với việc rút đơn của nguyên đơn là Ngân hàng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà G.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị L thay đổi nội dung yêu cầu độc lập sau khi Ngân hàng rút yêu cầu khởi kiện và Ngân hàng đã giải chấp tài sản thế chấp là thửa đất số 145, tờ bản đồ số 12P, diện tích 470,2m2: Bà Nguyễn Thị L chỉ yêu cầu Toà án buộc ông C, bà H phải trả lại bà 01 bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà có quyền đến Cơ quan có thẩm quyền đến Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai đăng ký lại theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND khu vực 7 – Bắc Ninh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người tham gia tố tụng khác đã đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đại diện VKS đề nghị HĐXX.
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 244, 245 BLTTDS;
Căn cứ các Điều 166, 317, 318, 322, 327 BLDS năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án, lệ phí tòa án.
Đình chỉ giải quyết toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị G.
Về hậu quả của việc đình chỉ:
Ngân hàng TMCP Đ1 phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
Ngân hàng và bà G không phải chịu án phí. Hoàn trả Ngân hàng tạm ứng án phí đã nộp.
Thay đổi địa vị tố tụng trong vụ án như sau: Bà Nguyễn Thị L trở thành nguyên đơn và ông Nguyễn Như C, bà Nguyễn Thị H là bị đơn. Ngân hàng và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác trở thành người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L.
Buộc ông Nguyễn Như C, bà Nguyễn Thị H phải trả lại bà Nguyễn Thị L 01 bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và các tài sản gắn liền trên đất số CK 028751, số vào sổ cấp GCN: CS00700 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 30/6/2017 cho bà Nguyễn Thị L; Sang tên chuyển nhượng cho ông Nguyễn Như C và bà Nguyễn Thị H ngày 8/8/2022
Xác nhận bà Nguyễn Thị L đã nhận lại 01 bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại phiên toà ngày 28/11/2025.
Bà Nguyễn Thị L có quyền đến các Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai đăng ký lại quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền trên đất theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[ 1 ] Về tố tụng: Theo nội dung đơn khởi kiện nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Đ1 yêu cầu Toà án buộc bị đơn là ông Nguyễn Như C, bà Nguyễn Thị H phải trả tổng số tiền gốc và lãi theo Hợp đồng cho vay từng lần số REF2218100086/HĐTD/HN3-NNC ngày 19/8/2022. Quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn là ông Nguyễn Như C, bà Nguyễn Thị H hiện đang cư trú tại thôn P, xã Y, tỉnh Bắc Ninh, do vậy theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh (nay là Toà án nhân dân khu vực 7 – Bắc Ninh).
Về việc rút yêu cầu khởi kiện và yêu cầu độc lập:
Tại phiên toà nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Đ1 xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện do bị đơn là ông C, bà H đã tất toán toàn bộ khoản vay và Ngân hàng đã giải chấp 04 tài sản ông C, bà H đã thế chấp tại Ngân hàng và trả 04 sổ đỏ cho ông C. Xét thây việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyên và phù hợp quy định của pháp luật và được bị đơn đồng ý nên cần đình chỉ giải quyết đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên toà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị G xin rút toàn bộ yêu cầu độc lập do bà và ông C, bà H đã tự thoả thuận giải quyết với nhau sau khi ông C tất toán khoản vay và Ngân hàng đã giải chấp trả sổ đỏ cho ông C. Xét thấy
việc rút yêu cầu độc lập của bà G là tự nguyện và phù hợp quy định của pháp luật và được bị đơn đồng ý nên cần đình chỉ giải quyết đối với toàn bộ yêu cầu độc lập của bà G.
Việc thay đổi yêu cầu độc lập của bà Là là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật, không vượt quá yêu cầu độc lập ban đầu nên cần chấp nhận để xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về việc thay đổi địa vị tố tụng: Do trong vụ án còn có bà Nguyễn Thị Là L người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không rút yêu cầu độc lập đề nghị Toà án buộc ông Nguyễn Như C, bà Nguyễn Thị H phải trả lại 01 bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên trong vụ án có sự thay đổi địa vị tố tụng theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 217 và khoản 2 Điều 245 BLTTDS như sau:
Bà Nguyễn Thị L trở thành nguyên đơn và bị đơn vẫn là ông Nguyễn Như C, bà Nguyễn Thị H. Nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Đ1 trở thành người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án và quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “Kiện đòi tài sản là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Về sự vắng mặt của những ngưởi có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác trong vụ án đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt trong đó có đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt. Toà án tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
[ 2 ] Xét yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị L HĐXX nhận thấy: Ngày 20/7/2020 bà Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Bá T4, chị Vũ Thị H1 có ký Hợp đồng uỷ quyền số công chứng: 1563.2021/HĐUQ, quyển số 02.2021/TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C7 chứng thực ngày 20/7/2020 đối với thửa đất số 145, tờ bản đồ số 12P, diện tích 470,2m2 tại địa chỉ thôn T, xã H, thị xã T với mục đích để anh T4 vay vốn Ngân hàng. Sau khi ký Hợp đồng bà L có giao cho anh T4 01 bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 145. Sau này bà L được biết ngày 02/8/2022 anh T4, chị H1 đã chuyển nhượng cho anh C, chị H thửa đất số 145 mà không được sự đồng ý của bà. Sau đó anh C, chị H đã thế chấp để vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đ1. Bà L đã khởi kiện ra Toà án nhân dân thị xã Thuận Thành đề nghị tuyên vô hiệu Hợp đồng uỷ quyền và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Tại Bản án sơ thẩm số: 26/2024/DSST ngày 06/9/2024 của TAND thị xã Thuận Thành và Bản án phúc thẩm số: 14/2024/DSPT ngày 15/12/2024 của TAND tỉnh Bắc Ninh đã tuyên:
- Tuyên bố Hợp đồng uỷ quyền số công chứng: 1563.2021/HĐUQ, quyển số 02.2021/TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C7 chứng thực ngày 20/7/2020 giữa bà Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Bá T4, chị Nguyễn Thị H6 đối với thửa đất, tờ bản đồ số 12P, diện tích 470,2m2 tại địa chỉ thôn T, xã H, thị xã T vô hiệu do giả tạo.
- Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng: 2305/2021/HĐCN, quyển số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐCN do Văn phòng C4 chứng thực ngày 02/8/2022 giữa bà Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Bá T4, chị Nguyễn Thị H6
đối với thửa đất số 145, tờ bản đồ số 12P, diện tích 470,2m2 tại địa chỉ thôn T, xã H, thị xã T vô hiệu.
Hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ cảu các bên, về nguyên tắc các bên trả lại cho nhau những gì đã nhận. Hiện ông C, bà H đang giữ 01 bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho thửa đất số 145. Nay bà L yêu cầu Toà án buộc ông C, bà H phải trả lại bà Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 145, tờ bản đồ số 12P, diện tích 470,2m2, tại thôn T, xã H, thị xã T (sổ đỏ) HĐXX nhận thấy: Ông C, bà H đã tất toán toàn bộ khoản vay và Ngân hàng đã giải chấp và trả sổ đỏ cho ông C. Tại phiên toà ông C vắng mặt nhưng cũng có văn bản đồng ý trả lại sổ đỏ cho bà L và ngày 27/11/2025 ông C2 đã giao nộp cho Toà án 01 bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để Toà án trả lại cho bà L. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu này của bà L buộc ông C, bà H phải trả lại cho bà L 01 bản gốc giấy chứng quyền sử dụng đất cấp cho thửa đất số 145, tờ bản đồ số 12P, diện tích 470,2m2 tại thôn T, xã H, thị xã T là phù hợp.
Xác nhận bà Nguyễn Thị L đã nhận lại 01 bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại phiên toà ngày 28/11/2025.
Về quyền kê khai đăng ký lại quyền sử dụng đất:
Do các hợp đồng trên đã bị tuyên là vô hiệu theo các Bản án đã có hiệu lực pháp luật nên bà Nguyễn Thị L đương nhiên có quyền đến các Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai đăng ký lại quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền trên đất đối với thửa đất số 145, tờ bản đồ số 12P, diện tích 470,2m2 tại địa chỉ thôn T, xã H, thị xã T (nay là thôn T, phường M, tỉnh Bắc Ninh) theo quy định của pháp luật.
[ 3 ] Về án phí: Yêu cầu của bà L được chấp nhận nên bị đơn là ông C, bà H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 91, 147, 217, 218, 219, 235, 239, 244, 254, 262, 264 BLTTDS.
Căn cứ các Điều 166, 317, 318, 322, 327 BLDS năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án, lệ phí tòa án.
Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị L.
- Buộc ông Nguyễn Như C, bà Nguyễn Thị H phải trả cho bà Nguyễn Thị L 01 Bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và các tài sản gắn liền trên đất số CK 028751, số vào sổ cấp GCN: CS00700 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 30/6/2017 cho bà Nguyễn Thị L; Sang tên chuyển nhượng cho ông Nguyễn Như C và bà Nguyễn Thị H ngày 8/8/2022
Xác nhận bà Nguyễn Thị L đã nhận lại 01 bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại phiên toà ngày 28/11/2025.
Bà Nguyễn Thị L có quyền đến các Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai đăng ký lại quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền trên đất theo quy định của pháp luật.
- Đình chỉ giải quyết toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ1 đối với Hợp đồng cho vay từng lần số REF2218100086/HĐTD/HN3-NNC ngày 19/8/2022.
Về hậu quả của việc đình chỉ:
Đương sự được quyền khởi lại vụ án nếu đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ngân hàng TMCP Đ1 phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ; Xác nhận Ngân hàng TMCP Đ1 đã nộp đủ 40.000.000₫ để chi phí cho việc xem xét thẩm định tại chỗ.
Về án phí: Ngân hàng TMCP Đ1 không phải chịu án DSST. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ1 57.950.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002307 ngày 16/4/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
- Đình chỉ giải quyết toàn bộ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị G.
Về hậu quả của việc đình chỉ yêu cầu độc lập:
Đương sự được quyền khởi lại vụ án nếu đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.
Bà Nguyễn Thị G không phải chịu án phí DSST.
- Về án phí: Ông Nguyễn Như C, bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ án phí DSST.
Hoàn trả bà Nguyễn Thị L 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000920 ngày 28/4/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án hoặc ngày niêm yết kết quả bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Các Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |
|
Nghiêm Đình Chế – Nguyễn Thế Long |
Chu Minh Nam |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |
Bản án số 05/2025/DS-ST ngày 28/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng; kiện đòi tài sản
- Số bản án: 05/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng; Kiện đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Đ1 tranh chấp hợp đồng tín dụng với anh Nguyễn Như C
