Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 - BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/DS-ST

Ngày: 28/10/2025.

V/v “Kiện đòi tài sản là

quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Sướng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Quế, Bà Vũ Thị Lan Anh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Quang Thiên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh: Bà Nguyễn Thị Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 28/10/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 109/2025/TLST-DS ngày 07/5/2025 về việc “Kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2025/QĐXXST-DS ngày 10/9/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 44/2025/QĐST-DS ngày 25/9/2025; quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 07/2025/QĐST-DS ngày 30/9/2025 giữa:

  • - Nguyên đơn: 1. Ông Phùng Đức H, sinh năm 1959.
  • 2. Bà Phạm Thị T, sinh năm 1959.
  • Người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị T: Ông Phùng Đức H, sinh năm 1959. “Có mặt”.
  • Cùng nơi cư trú: Tổ A, phường P, thành phố Hà Nội.
  • - Bị đơn: 1. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1972. “Vắng mặt”.
  • 2. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1973. “Vắng mặt”.
  • Cùng nơi cư trú: Thôn P, xã L, tỉnh Bắc Ninh.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • Chủ tịch UBND xã L: Ông Phùng Đức L – Chủ tịch UBND xã.
  • Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch UBND xã L: Ông Phạm Văn Q – Trưởng Phòng Kinh tế - UBND xã Lương Tài “Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai cùng các tài liệu trong hồ sơ, ông Phùng Đức H trình bày:

Ngày 24 tháng 12 năm 2011 dương lịch ông H cùng vợ là bà Phạm Thị T có nhận chuyển nhượng của hộ ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1972 trú tại thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Ninh thửa đất số 285, tờ bản đồ số 60, địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Ninh, diện tích 71m². Thửa đất trên đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 933486 vào ngày 22/12/2011 cho hộ ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1972, khi nhận chuyển nhượng thì hộ gia đình ông Nguyễn Văn C gồm có ông Nguyễn Văn C, vợ ông C là bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1973 và con ông C là anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1993. Giữa vợ chồng ông và hộ ông C khi chuyển nhượng có lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giá chuyển nhượng là 142.000.000 đồng. Hợp đồng có chứng thực của UBND xã P do ông Đoàn Đắc C2 là chủ tịch ký và đóng dấu, số tiền 142.000.000 đồng vợ chồng tôi đã giao đầy đủ cho ông Nguyễn Văn C và ông C đã xác nhận là nhận đủ tiền.

Về nguồn gốc thửa đất trên: Nguồn gốc của thửa đất 285, tờ bản đồ số 60 trên là được tách ra từ thửa đất số 14, tờ bản đồ số 60, có diện tích 144m², địa chỉ tại Thôn P, xã L, ông C là người làm đơn tách thửa để tách thửa đất số 14 trên thành 02 thửa là thửa đất số 284 và 285, cùng tờ bản đồ số 60, sau khi được tách thành 02 thửa đất là thửa đất số 285 và thửa đất số 284 thì 02 thửa đất trên được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn C. Sau đó ông C bà Đ cùng anh C1 con trai chuyển nhượng cho vợ chồng ông H thửa đất số 285, thửa đất số 284 là thửa đất hiện nay gia đình ông C đang sử dụng.

Sau khi hoàn tất thủ tục chuyển nhượng, đến ngày 17/02/2012, vợ chồng ông được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khắc gắn liền với đất số BE 933285 do UBND huyện L cấp đối với thửa đất số 285, tờ bản đồ số 60, diện tích 71m², địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn P, xã L). Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà vợ chồng ông được cấp dựa trên cơ sở nhận chuyển nhượng từ hộ ông C nên về vị trí, diện tích, mô mốc theo giấy chứng nhận vẫn giữ nguyên so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông C lần đầu. Ông không có ý kiến hay khiếu nại gì về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông đối với thửa đất trên và cũng không có ý kiến khiếu nại đối với việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với thửa đất số 284, tờ bản đồ số 60 cho hộ ông Nguyễn Văn C. Ngoài tranh chấp với hộ ông Nguyễn Văn C thì vợ chồng ông không tranh chấp với ai khác về các vấn đề liên quan đến thửa đất trên. Về nội dung trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có ghi thửa đất có 25m², sâu 5m nằm trong hành lang giao thông, nội dung trên có nghĩa là sau khi trừ đi 25m² thì thửa đất mới có diện tích là 71m² và ranh giới thửa đất theo Giấy chứng nhận là nằm sâu trong hành lang giao thông 5m.

Sau khi vợ chồng ông được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do chưa có nhu cầu nên vợ chồng ông chưa sử dụng ngay thửa đất trên nên vợ chồng ông cho vợ chồng ông C mượn thửa đất trên để sử dụng. Ngay sau khi mượn thửa đất từ vợ chồng ông thì ông C đã dựng hàng rào và cửa vào trên thửa đất. Đến năm 2022 thì vợ chồng ông C tự ý xây dựng 01 lán lợp tôn trên thửa đất, khi vợ chồng ông đòi lại đất thì ông C cho rằng thửa đất trên là đất của ông C, ông có giải thích rằng thửa đất trên hộ ông C đã chuyển nhượng và vợ chồng ông đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rồi nhưng ông C vẫn không nghe. Ông có thuê đơn vị đo đạc về đo và phân định mốc giới nhưng ông C vẫn không nghe mà vẫn tự ý khóa cửa, không cho vợ chồng ông sử dụng thửa đất.

Liên quan đến việc con trai ông là anh Phùng Đức M có tự ý cho ông C thuê thửa đất trên thì ông không có ý kiến hay yêu cầu gì. Tuy nhiên do thời hạn cho thuê đã hết từ lâu nên ông C không được sử dụng lý do thuê đất để ngăn cản không cho vợ chồng ông sử dụng thửa đất số 285, tờ bản đồ số 60 trên nữa.

Nay ông H yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh buộc vợ chồng ông C và bà Đ phải tháo dỡ, di dời toàn bộ công trình xây dựng cũng như tài sản trên thửa đất. Trả lại cho vợ chồng ông mặt bằng và quyền sử dụng đất của thửa đất số 285, tờ bản đồ số 60, diện tích 71m², địa chỉ: Thôn P, xã L, tỉnh Bắc Ninh theo như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 933285 mà vợ chồng ông được cấp. Chi phí tháo dỡ công trình xây dựng trái phép trên đất ông yêu cầu vợ chồng ông C chịu toàn bộ. Đối với phần diện tích 1,9m² bị thiếu so với diện tích được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng ông, trên phần diện tích đó có căn nhà 03 tầng của hộ ông Nguyễn Văn C thì ông yêu cầu ông C bà Đ phải trả cho vợ chồng ông phần diện tích đất trên bằng tiền theo giá mà Tòa án đã định giá.

* Tại biên bản lấy lời khai, ông Phùng Đức H là người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị T trình bày quan điểm của bà T:

Bà T đã ủy quyền cho ông H tham gia tố tụng trong vụ án và được quyền quyết định toàn bộ các vấn đề liên quan trong vụ án. Quan điểm trình bày của ông H như thế nào thì quan điểm của bà T cũng như vậy. Bà T thống nhất quan điểm trình bày giống như ông Phùng Đức H.

* Tại biên bản lấy lời khai, ông Nguyễn Văn C trình bày:

Năm 2011, hộ gia đình ông C có chuyển nhượng cho vợ chồng ông Phùng Đức H và bà Phạm Thị T một phần diện tích đất là 71m², phần diện tích 71m² gia đình ông bán cho ông H bà T là tách ra từ một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khác có diện tích là 140m² (Giấy chứng nhận trên ông C đã giao cho ông H để ông H làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới nên ông C không còn lưu giữ). Khi chuyển nhượng, giữa gia đình ông C và vợ chồng ông H bà T có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chứng thực của UBND xã P. Giá chuyển nhượng trên thực tế là 400.000.000 đồng chứ không phải 142.000.000 đồng như trong Hợp đồng ghi, gia đình ông đã nhận đủ số tiền trên. Gia đình ông chỉ bán cho ông H bà T phần diện tích đất còn lại là 71m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất có diện tích 140m², trước khi chuyển nhượng đất cho ông H bà T thì gia đình ông đã dựng nán tôn trên cả phần diện tích đất chuyển nhượng cho ông H bà T, còn về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 933486 được cấp cho hộ gia đình ông ngày 22/12/2011 thì ông cùng gia đình hoàn toàn không biết gì về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này. Khi chuyển nhượng phần diện tích đất trên, gia đình tôi không hề chuyển nhượng phần diện tích đất đã mua của xã theo như đơn khởi kiện mà ông H trình bày. Sau khi chuyển nhượng hoàn tất thì ông đưa toàn bộ giấy tờ cùng với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ cho ông H để ông H đi làm thủ tục tách thửa và xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới. Sau khi hộ gia đình ông được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 933487 với thửa đất số 284, tờ bản đồ số 60, địa chỉ thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Ninh, diện tích 73m² thì do thấy giấy chứng nhận đã cấp đúng cho hộ gia đình nhà ông nên tôi chỉ cất tủ mà không xem lại. Như ông đã trình bày ở trên thì hộ gia đình tôi không hề chuyển nhượng cho ông H bà T phần diện tích đất mua của xã nằm phía sau thửa đất nhưng không hiểu tại sao khi xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông H lại hợp thức hóa được phần diện tích đất ông mua của xã vào trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên vợ chồng ông H bà T. Sau khi hai bên được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vợ chồng ông có đề nghị ông H cho mượn thửa đất mà ông H bà T đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để dùng và được đồng ý. Đến khoảng năm 2023, con trai ông H là anh Phùng Đức M có yêu cầu là phải thuê thửa đất trên chứ không cho vợ chồng ông mượn nữa. Sau đó ông có lập Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 285, tờ bản đồ số 60, địa chỉ thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Ninh với anh Phùng Đức M với giá thuê là 400.000 đồng /tháng. Sau khi lập hợp đồng thuê thì vợ chồng ông sử dụng thửa đất trên để chứa đồ đạc và có xây dựng 01 căn bếp trên phần diện tích đất mà vợ chồng ông mua của xã. Trên phần diện tích đất của thửa đất số 285 tờ bản đồ số 60, địa chỉ thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Ninh từ trước đến nay chỉ có nán tôn được vợ chồng tôi dựng từ trước chứ không hề có xây dựng căn nhà cấp 4 nào cả. Sau đó ông H có thuê đo đạc về đo hiện trạng của 02 thửa đất thì phát hiện rằng hiện trạng của hai bên sử dụng đang không đúng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp.

Nay ông Phùng Đức H và bà Phạm Thị T yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông phải tháo dỡ công trình trên đất và trả lại cho ông H bà T mặt bằng và diện tích đất của thửa đất số 285 tờ bản đồ số 60, diện tích 71m², địa chỉ thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Ninh theo như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông H và bà T đã được cấp thì quan điểm của ông là đề nghị giữ nguyên hiện trạng sử đụng đất giữa 02 thửa đất số 285 và thửa đất số 284, tờ bản đồ số 60, địa chỉ: Thôn P, xã L, tỉnh Bắc Ninh để điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đồng thời ông H phải công khai xin lỗi ông C thì vợ chồng ông sẽ tháo dỡ công trình trên thửa đất số 285 và trả lại mặt bằng cho ông H bà T, nếu ông H và bà T có ý định chuyển nhượng lại với giá hợp lý thì ông xin mua lại quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 285 trên. Nếu ông H và bà T không đồng ý với đề nghị thì vợ chồng ông xin giữ nguyên hiện trạng công trình, khi nào giải quyết xong về mốc giới hiện trạng giữa hai bên thì vợ chồng ông sẽ tháo dỡ công trình và trả lại mặt bằng cho ông H bà T.

* Tại biên bản lấy lời khai bổ sung, ông Nguyễn Văn C trình bày:

Phần diện tích đất mà ông C nộp tiền sử dụng đề nghị hợp thức hóa từ xã có diện tích 38m², vị trí nằm sau thửa đất số 285 và 284 về phía nam của thửa đất, thuộc đuôi đất dịch vụ khu P, bám đường thôn P. Trên phần diện tích đất có 01 kho lợp tôn có diện tích khoảng 20,8m² và một phần đuôi của căn nhà 03 tầng ông xây vào năm 2010 (trước thời điểm được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Phần đất trên nằm trong khu đất dịch vụ P, khu đất này giáp với tỉnh lộ 281, còn thực chất phần đất 38m² ông C mua của xã giáp với thửa đất số 29 nhà ông Nguyễn Văn T1. Thửa đất số 284, tờ bản đồ số 60 và toàn bộ các công trình trên đất hoàn toàn là tài sản của vợ chồng ông C bà Đ, các con của ông bà không đóng góp gì.

* Tại biên bản lấy lời khai, bà Nguyễn Thị Đ trình bày:

Về vấn đề tranh chấp giữa ông Phùng Đức H, bà Phạm Thị T và ông Nguyễn Văn C, bà Đ không liên quan và không biết về nội dung tranh chấp giữa vợ chồng ông H bà T và ông C. Mọi vấn đề liên quan trong vụ án bà Đ đều theo quan điểm của ông C. Quan điểm của ông C thế nào thì quan điểm của bà Đ cũng như vậy.

* Anh Nguyễn Văn C1 và chị Nguyễn Thị H1 là con của ông C bà Đ cùng thống nhất trình bày:

Anh chị là con của ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Đ. Về thửa đất số 284, tờ bản đồ số 60. Thời điểm gia đình anh chị được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên, bản thân anh chị không đóng góp công sức hay tiền của gì. Căn nhà cùng tài sản trên đất anh chị cũng không đóng góp công sức hay tiền bạc. Thửa đất cùng tài sản trên đất hoàn toàn là của bố mẹ anh chị tạo lập, con cái như anh chị không đóng góp. Anh chị cũng không liên quan đến việc ông Phùng Đức H kiện tụng bố mẹ anh chị nên anh chị đề nghị Tòa án không đưa anh chị vào tham gia tố tụng.

* Tòa án đã tiến hành niêm yết triệu tập hợp lệ chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1995 (con gái của ông C bà Đ) 02 lần nhưng chị H2 không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến cũng như không tới làm việc tại Tòa án.

* Tại Công văn số 328/CV-PKT của Phòng kinh tế UBND xã L, người đại diện theo ủy quyền của chủ tịch UBND xã L là ông Phạm Văn Q – Trưởng Phòng kinh tế trình bày:

Căn cứ theo khoản 1, Điều 31 Luật đất đai năm 2024 quy định về nghĩa vụ chung của người sử dụng đất; Khoản 2 Điều 16 Luật Đường bộ năm 2024 quy định việc quản lý, sử dụng đất hành lang an toàn đường bộ; Khoản 3 Điều 7 luật Đường bộ năm 2024 quy định các hành vi nghiêm cấm. Căn cứ quy định nêu trên, đề nghị: Trường hợp người sử dụng đất đã xây dựng công trình nằm ngoài ranh giới đã được cấp GCNQSD đất, xây dựng công trình nằm trong hành lang an toàn giao thông là không đúng quy định, yêu cầu người sử dụng đất khôi phục hiện trạng ban đầu, tháo dỡ công trình vi phạm.

Tại phiên tòa, nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phùng Đức H xác định về nội dung “ Trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có ghi thửa đất có 25m², sâu 5m nằm trong hành lang giao thông, nội dung trên có nghĩa là sau khi trừ đi 25m² thì thửa đất mới có diện tích là 71m² và ranh giới thửa đất theo Giấy chứng nhận là nằm sâu trong hành lang giao thông 5m” mà ông trình bày trong biên bản lấy lời khai là do ông căn cứ vào hình thể thửa đất chứ ông không có căn cứ chứng minh. Đồng thời ông H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn ông Nguyễn Văn C bà Nguyễn Thị Đ cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt và đều có đề nghị xét xử vắng mặt.

Tại phiên tòa đại diện VKSND khu vực 9 – Bắc Ninh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Thẩm phán, HĐXX, thư ký đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng: Khoản 2, 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, 157, 158, 165, 166, 227, 228, 235, 238, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 158, 164, 166 của Bộ Luật dân sự năm 2015;

Điều 166, 170, 179, 188 và Điều 203 của Luật đất đai năm 2013;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải tháo dỡ, di dời toàn bộ các công trình trên đất để trả lại cho bị đơn diện tích thuộc thửa đất số 285, tờ bản đồ số 60, địa chỉ: Thôn P, xã L, tỉnh Bắc Ninh đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận QSDĐ số BE933285 ngày 17/02/2012 mang tên ông Phùng Đức H, bà Phạm Thị T.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả lại phần diện tích đã lấn chiếm là 1,9m2 nhưng được quy đổi bằng tiền tương ứng 59.101.400đ.

Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục chỉnh lý hồ sơ kỹ thuật thửa đất và cấp lại GCNQSD đất.

Về án phí và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

[1] Về trình tự thủ tục tố tụng:

1.1. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Đ cùng đối tượng tranh chấp là thửa đất số 285, tờ bản đồ số 60 cùng có địa chỉ tại thôn P, xã L, tỉnh Bắc Ninh. Vì vậy, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh.

1.2. Về tư cách tham gia tố tụng: Nguyên đơn ông Phùng Đức H và bà Phạm Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông C bà Đ phải trả lại quyền sử dụng đất đang chiếm hữu trái phép, vì vậy Tòa án xác định ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Đ là bị đơn. Trong vụ án trên, theo kết quả thẩm định, đo đạc xác định hiện trạng sử dụng đất của thửa đất số 285, tờ bản đồ số 60 hiện đang lấn sang đường L và lấn vào hành lang giao thông của tỉnh lộ 281 thuộc quản lý trực tiếp của UBND xã L, vì vậy Tòa án đưa chủ tịch UBND xã L vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Chủ tịch UBND xã L đã ủy quyền cho ông Phạm Văn Q – Trưởng phòng Kinh tế đại diện tham gia tố tụng, ông Q đã có văn bản trình bày ý kiến cũng như có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Phạm Văn Q là phù hợp.

Đối với anh Nguyễn Văn C1 và chị Nguyễn Thị H1 là con của ông C bà Đ. Các anh chị đều có ý kiến trình bày mặc dù thửa đất số 284 được cấp cho hộ gia đình nhưng bản thân các anh chị cũng như các con của ông C bà Đ thời điểm đó còn bé nên không đóng góp bất kỳ công sức gì đối với thửa đất cũng như công trình trên đất và đề nghị từ chối tham gia tố tụng. Sự việc trên được ông Nguyễn Văn C xác nhận, đây là tình tiết không phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật TTDS nên Tòa án không đưa anh C1 và chị H1 vào tham gia tố tụng là phù hợp.

Đối với chị Nguyễn Thị H2 là con gái của ông C bà Đ, Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương nơi cư trú của chị H2 thì xác định chị H2 hiện tại đi làm ăn xa không có mặt tại địa phương và không rõ thời điểm chị H2 trở về. Vì vậy Tòa án đã tiến hành niêm yết để triệu tập hợp lệ chị H2 02 lần nhưng chị H2 không gửi văn bản trình bày ý kiến cũng như không tới làm việc tại Tòa án. Căn cứ vào phần trình bày của anh trai và em gái của chị H2 là anh Nguyễn Văn C1 và chị Nguyễn Thị H1 về việc các con của ông C bà Đ không có đóng góp gì đối với thửa đất số 284 cũng như tài sản trên đất, ông C, anh C1 và chị H1 cũng đều xác định thửa đất 284 cũng như tài sản, công trình trên đất là tài sản chung của ông C bà Đ, không liên quan đến các con, xét thấy sự thừa nhận của ông C, anh C1, chị H1 là hoàn toàn phù hợp với thực tế nên Tòa án không đưa chị H2 vào tham gia tố tụng là phù hợp.

Về việc ông C bà Đ vắng mặt tại phiên tòa, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ quyết định hoãn phiên tòa để triệu tập ông C bà Đ tham dự phiên tòa, ông C bà Đ đều đề nghị vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt ong C và bà Đ.

[2] Về nội dung:

Ông Phùng Đức H và bà Phạm Thị T khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Đ phải trả lại cho vợ chồng ông H bà T quyền sử dụng đất tại thửa đất số 285, tờ bản đồ số 60, địa chỉ: Thôn P, xã L, tỉnh Bắc Ninh và phải tháo dỡ, di dời công trình xây dựng trái phép trên thửa đất. Ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Đ không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H bà T và cho rằng ông H phải đồng ý giữ nguyên hiện trạng sử dụng đất của 02 thửa đất để cấp đổi GCNQSD đất và phải công khai xin lỗi ông C bà Đ thì ông C bà Đ, nếu không làm được 02 điều trên thì ông C bà Đ không đồng ý với yêu cầu của ông H bà T.

Sau khi nhận được kết quả đo đạc, ông Phùng Đức H bổ sung thêm yêu cầu với phần diện tích đất 1,9m² bị thiếu so với phần diện tích 71m2 mà ông H và bà T được cấp GCNQSD đất, xét thấy yêu cầu trên của ông H nằm trong phạm vi khởi kiện nên Tòa án xem xét giải quyết.

2.1. Về nguồn gốc thửa đất đang xảy ra tranh chấp: Ông Phùng Đức H và bà Phạm Thị T được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 933285 vào ngày 17/02/2012 với thửa đất số 285, tờ bản đồ số 60, diện tích 71m² từ cơ sở nhận chuyển nhượng từ vợ chồng ông C, bà Đ và anh C1 tại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24/12/2011 được UBND xã P chứng thực. Thửa đất 285, tờ bản đồ số 60 được cấp lần đầu cho hộ ông Nguyễn Văn C tại Quyết định số 2831/QĐ-UBND ngày 22/11/2011 của UBND huyện L, GCNQSD đất số BE 933486, thửa đất số 285, tờ bản đồ số 60, diện tích 71m², địa chỉ thôn P, xã L, tỉnh Bắc Ninh trên cơ sở được tách từ thửa đất số 14, tờ bản đồ số 60, diện tích 144m².

2.2. Xét quá trình chuyển nhượng và cấp GCNQSD đất cho ông H và bà T thì thấy: Hộ ông Nguyễn Văn C là chủ sử dụng của thửa đất số 14, tờ bản đồ số 60, diện tích 144m². Ngày 31/10/2011, ông Nguyễn Văn C có đơn đề nghị tách thửa đất trên thành 02 thửa đất là thửa đất số 284 (thửa đất hộ ông C đang sử dụng), diện tích 73m² và thửa đất số 285, diện tích 71m² và được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất phê duyệt. Ngày 22 tháng 12 năm 2011, hộ ông C được cấp GCNQSD đất đối với thửa đất số 284 và thửa đất số 285 trên. Sau đó hộ ông C chuyển nhượng thửa đất số 285, tờ bản đồ số 60 cho vợ chồng ông Phùng Đức H và bà Phạm Thị T, ngày 17/02/2012 ông H và bà T được cấp GCNQSD đất đối với thửa đất số 285, tờ bản đồ số 60. Việc cấp GCNQSD đất là cấp đổi, sang tên từ hộ ông C sang ông H và bà T. Trong GCNQSD đất có ghi thửa đất có 25m2, sâu 5m nằm trong hành lang giao thông. Tại biên bản xác minh ngày 10/10/2025, chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai liên xã L cho biết việc tách thửa của hộ ông Nguyễn Văn C được thực hiện trình tự thủ tục theo đúng quy định pháp luật. Xét thấy. dựa vào hồ sơ cấp GCNQSD đất cũng như kết quả xác minh thì trình tự, thủ tục cấp GCNQSD đất cho ông Phùng Đức H và bà Phạm Thị T đối với thửa đất số 285, tờ bản đồ số 60 là đúng quy định của pháp luật.

Đối với việc ông C cho rằng phần diện tích đất 38m2 ông C nộp tiền để hợp thức hóa sử dụng của xã P có vị trí nằm ở cuối của 02 thửa đất số 284 và 285, tiếp giáp với thửa đất số 29 của ông Nguyễn Văn T1 và diện tích trên ông C không chuyển nhượng cho ông H. Đối chiếu với sơ đồ của thửa đất số 14, tờ bản đồ số 60 mà hộ ông C được cấp GCNQSD đất năm 2004 thì thấy rằng phần diện tích giáp với thửa đất số 29 nằm trong phần diện tích của thửa đất số 14, tờ bản đồ 60 đã được cấp GCNQSD đất năm 2004, đến năm 2011 ông C mới nộp tiền để hợp thức hóa phần diện tích 38m2, vì vậy ông C cho rằng phần diện tích đất 38m2 trên nằm tiếp giáp với thửa đất số 29 và ông C không chuyển nhượng phần diện tích trên cho ông H là không phù hợp với thực tế khách quan.

2.3. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông H bà T thì xét thấy: Sau khi được cấp GCNQSD đất, ông H bà T chưa có nhu cầu sử dụng ngay nên có cho ông C bà Đ mượn để sử dụng, sau đó lại được anh Phùng Đức M là con trai ông H bà T cho thuê sử dụng, và đã hết thời hạn cho thuê từ lâu trước khi ông H bà T khởi kiện, sau đó khi có nhu cầu sử dụng thì ông H bà T có đòi lại quyền sử dụng thửa đất từ ông C nhưng không được đồng ý mà ông C đã khóa cửa bên ngoài và không cho ông H bà T sử dụng thửa đất.

Xét thấy GCNQSD đất được cấp cho ông Phùng Đức H và bà Phạm Thị T là đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật. Thửa đất số 285 không có tranh chấp nào khác ngoại trừ tranh chấp giữa hai bên đương sự. Cũng không có ai khiếu nại, khiếu kiện gì đối với việc cấp GCNQSD đất đối với thửa đất số 285 cho vợ chồng ông H bà T hay có yêu cầu hủy GCNQSD trên, vì vậy GCNQSD đất của ông H bà T có đầy đủ cơ sở pháp lý và được pháp luật bảo vệ, ông H bà T đã xác lập quyền sử dụng đối với thửa đất số 285, tờ bản đồ số 60. Vì vậy, việc chiếm hữu của ông C bà Đ đối với thửa đất số 285, tờ bản đồ số 60 là không có căn cứ.

[3] Vê yêu cầu của ông Phùng Đức H đối với phần diện tích 1,9m2 bị thiếu so với GCNQSD đất được cấp thì thấy: Thửa đất số 284 và 285, cùng tờ bản đồ số 60, địa chỉ: Thôn P, xã L, tỉnh Bắc Ninh là 02 thửa đất liền kề và được cấp GCNQSD đất từ cơ sở tách ra từ thửa đất số 14, tờ bản đồ só 60. Căn cứ vào kết quả thẩm định đo đạc, phần diện tích đất 1,9m2 bị thiếu là phàn tiếp giáp giữa thửa đất số 284 và 285, chạy dọc theo chiều dài thửa đất và nằm tại phần ranh giới sử dụng của 02 thửa đất. Trên phần diện tích đất 1,9m2 trên có căn nhà 03 tâng do ông C xây dựng. Xét thấy việc cấp GCNQSD đất của 02 thửa đất trên là dựa trên cơ sở đơn đề nghị tách thửa do chính ông C đề nghị tách, ông C cho rằng giao toàn bộ giấy tờ để ông H làm GCNQSD đất là không có căn cứ và không phù hợp do việc tách thửa đất phải do chủ sử dụng đề nghị tách, trên đơn đề nghị tách thửa là do chính ông C đề nghị và ký tên. Do vậy, việc cấp GCNQSD đất đối với 02 thửa đất là theo đề nghị của ông C, ông C cũng đã thừa nhận sau khi nhận được GCNQSD đất và biết được cấp GCNQSD đất của thửa đất số 284 với diện tích 73m2 là đủ diện tích nên cất đi, và cũng không có ý kiến gì về việc cấp GCNQSD đất đối với thửa đất số 285 được cấp lần đầu cho hộ ông C rồi mới chuyển nhượng sang tên cho ông H bà T, điều đó thể hiện ông C cũng không có ý kiến thắc mắc gì đối với việc cấp GCNQSD đất trên, mặt khác hiện trạng sử dụng của 02 thửa đất hiện nay chưa đến 30 năm và không có ranh giới cụ thể giữa 02 thửa đất nên vì vậy, ranh giới sử dụng giữa 02 thửa đất được xác định là ranh giới theo GCNQSD đất đã cấp đối với thửa đất số 284 và 285. Vì vậy, yêu cầu đòi 1,9m2 diện tích đất bị thiếu theo GCNQSD đất của thửa đất số 285 đang có căn nhà 03 tầng của hộ ông C xây dựng chồng lấn là có căn cứ. Do ông H không yêu cầu ông C bà Đ phải trả bằng đất mà chỉ cần trích trả bằng tiền tương ứng với giá mà Tòa án đã tiến hành định giá nên để đảm bảo quyền lợi của các bên, cần chấp nhận yêu cầu trích trả bằng tiền của ông H.

Do quyền sử dụng thửa đất số 284 và các tài sản công trình trên đất là tài sản chung của ông C bà Đ, không có công sức đóng góp của các con nên cần buộc ông cành và bà Đ phải trích trả cho ông H bà T 1,9m2 đất bị thiếu của thửa đất số 285 bằng tiền.

[4] Về việc hiện trạng sử dụng của thửa đất số 285 đang có công trình xây dựng lấn ra đường T và hành lang giao thông của tỉnh lộ 281: Người đại diện theo ủy quyền của chủ tịch UBND xã L đã có văn bản thay mặt chủ tịch UBND xã L yêu cầu Tòa án tuyên tháo dỡ phần công trình xây dựng chồng lấn ra đường T và hành lang giao thông. Xét thấy công trình và tài sản trên thửa đất số 285 bao gồm: 01 lán lợp tôn, 01 cổng lợp thép lưới b40, 01 hàng rào rào quanh một phần thửa đất, 02 cây cau và 01 nhà lợp tôn. Các tài sản trên có tổng giá trị sau khi trừ khấu hao là 68.434.000 đồng, có giá trị không quá cao. Mặt khác ông Phùng Đức H yêu cầu tháo dỡ di dời toàn bộ các tài sản trên khỏi thửa đất số 285, bao gồm cả phần công trình xây dựng lấn sang đường T và hành lang giao thông nên. Yêu cầu của ông H phù hợp với yêu cầu của chủ tịch UBND xã L, vì vậy cần tháo dỡ, di dời công trình xây dựng và tài sản trên thửa đất số 285 và tài sản công trình có xây dựng lấn vào đường thôn Phương T2 cũng như hành lang giao thông gồm: 01 nán lợp tôn, 01 công lợp thép lưới b40, 01 hàng rào rào quanh một phần thửa đất, 02 cây cau, 01 nhà lợp tôn.

Đối với căn nhà 03 tầng của ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Đ đang có 1,9m2 nằm trên thửa đất số 285 thì do đã buộc ông C bà Đ phải trích trả bằng tiền cho ông H đối với phần diện tích 1,9m2 nên cần giữ nguyên hiện trạng sử dụng của căn nhà 03 tầng xây dựng trên thửa đất số 284.

[5] Từ những nhận định trên, HĐXX xét thấy yêu cầu kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất, tháo dỡ các tài sản trên đất của nguyên đơn là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Các vấn đề liên quan trong vụ án:

6.1. Đối với nội dung trong GCNQSD đất của thửa đất số 285 có ghi “Thửa đất có 25m², sâu 5m trong hành lang giao thông, ông Phùng Đức H cho rằng nội dung trên là sau khi trừ đi 25m² và 5m chiều dài của hành lang giao thông thì thửa đất mới có diện tích là 71m2. Tòa án tiến hành xác minh tại phòng kinh tế - UBND xã L xác định 25m2 nằm trong hành lang giao thông trên thuộc phần diện tích 71m2 được cấp GCNQSD đất, tức là sau khi trừ đi 25m2 hành lang giao thông thì diện tích sử dụng chỉ còn 46m2. Tại phiên tòa, sau khi được giải thích thì ông H không có ý kiến gì nên HĐXX không xem xét nội dung này.

6.2. Về việc con trai ông Phùng Đức H là anh Phùng Đức M có tự ý cho ông C bà Đ thuê sử dụng thửa đất số 285: Quá trình giải quyết vụ án các bên đều thừa nhận việc thuê đất trên và không có ý kiến gì. Việc cho thuê đất cũng đã chấm dứt từ lâu trước khi ông H bà T khởi kiện nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án này.

[7] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Do ông H đã nộp đủ 11.500.000 đồng tạm ứng chi phí tố tụng nên cần buộc ông C bà Đ phải trả lại ông H 11.500.000 đồng tạm ứng chi phí tố tụng

[8] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với phần diện tích đất phải trả và chịu án phí dân sự có giá ngạch đối với phần tiền phải trích trả.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • - Khoản 2, Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 157, 165, 227, 228, 235, 264, 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Các Điều 115, 158, 164, 165, 166, 169, 174, 175, 176, của Bộ luật dân sự Bộ luật dân sự;
  • - Các Điều 17, 26, 95, 166, 167, 170, 203 Luật Đất đai năm 2013 ( này là Các Điều 26, 31, 235, 236 Luật đất đai năm 2024)
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử.
  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phùng Đức H và bà Phạm Thị T về việc kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất và di dời toàn bộ tài sản trên đất đối với bị đơn là ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Đ.
  2. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Đ phải tháo dỡ, di dời công trình, tài sản trên đất gồm: 01 nán lợp tôn, 01 công lợp thép lưới b40, 01 hàng rào quanh một phần thửa đất, 02 cây cau, 01 nhà lợp tôn để trả lại cho ông Phùng Đức H và bà Phạm Thị T quyền sử dụng đất tại thửa đất số 285, tờ bản đồ số 60, được giới hạn bởi các điểm (1,2,3,10,16,17,21,6,4,5,1) theo kết quả đo đạc của công ty cổ phần K.

    Buộc ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Đ phải trích trả phần diện tích đất 1,9m2 bị thiếu của thửa đất số 285, tờ bản đồ số 60 đang có căn nhà 03 tầng của ông C bà Đ xây dựng chồng lấn bằng tiền là: 59.101.400 đồng (năm mươi chín triệu một trăm linh một nghìn bốn trăm đồng). Giữ nguyên hiện trạng sử dụng đất và các công trình gắn liền với đất của thửa đất số 284, tờ bản đồ số 60 của gia đình ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Đ.

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người bị thi hành án không trả số tiền trên, thì hàng tháng còn phải trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015

  3. Ông H, bà T và hộ Cành bà Đ có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục chỉnh lý hồ sơ kỹ thuật thửa đất và cấp lại GCNQSD đất.
  4. Về án phí: Buộc ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí không có giá ngạch và 2.955.070 đồng đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
  5. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Đ phải trả lại cho ông Phùng Đức H 11.500.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

7. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND KV9 – Bắc Ninh;
  • - Phòng THADS KV9- BN;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Sướng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/DS-ST ngày 28/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH về kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 05/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/10/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger