|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 05/2025/DS-ST Ngày 24-3-2025 V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Chiên
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hảo, bà Nguyễn Thị Phẩm
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Xuân - Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Phương - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 18 và 24 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 62/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2025/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 01/2025/QĐ-ST ngày 06 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C - sinh năm 1927
Địa chỉ: Khu D, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền của bà C: Anh Nguyễn Văn K - sinh năm 1958, địa chỉ: Khu D, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
(Có mặt ngày 18/3/2025, vắng mặt ngày 24/3/2025)
Bị đơn:
- Anh Nguyễn Văn C1 - sinh năm 1972
- Chị Tăng Thị S - sinh năm 1974
Địa chỉ: Khu 4, xã Bảo Yên, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
(Chỗ ở: Số nhà 09 ngõ 68 đường An Ninh, phố An Ninh, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương).
(Vắng mặt).
Địa chỉ: Khu E, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
(Có mặt ngày 18/3/2025, vắng mặt ngày 24/3/2025)
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ.
- Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Địa chỉ: Thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo pháp luật của UBND huyện T: Ông Dương Quốc L, Chức vụ: Chủ tịch UBND huyện T
Người đại diện theo ủy quyền của UBND huyện T: Ông Phan Văn T. Chức vụ: Phó trưởng phòng Tài nguyên - Môi trường huyện T.
(Vắng mặt)
Người đại diện theo pháp luật của UBND xã B: Ông Nguyễn Hồng H, Chức vụ: Chủ tịch UBND xã B.
Người đại diện theo ủy quyền của UBND xã B: Ông Đỗ Như M, Chức vụ: Công chức đại chính - Nông nghiệp - Xây dựng và môi trường xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và lời khai tại Toà án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị C và người đại diện theo ủy quyền của bà C là anh Nguyễn Văn K trình bày:
Bà Nguyễn Thị C và ông Nguyễn Mạnh Đ sinh được 7 người con, gồm có: Anh Nguyễn Văn Đ1, anh Nguyễn Văn K, chị Nguyễn Thị P, chị Nguyễn Thị L1, anh Nguyễn Thế N, chị Nguyễn Thị H1 và anh Nguyễn Văn C1. Ngoài những người con này, bà C và ông Đ không có người con riêng, con nuôi nào. Ông Đ chết năm 1990, bố mẹ đẻ của ông Đ đã chết và chết trước ông Đ.
Nguồn gốc thửa đất nông nghiệp số 174 tờ bản đồ số 16 diện tích 360m² tại khu G, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ hiện nay đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh C1 chị S là của bà C khai hoang để trồng ngô, trồng rau. Ông Đ không có công sức đóng góp gì đối với thửa đất này vì thời điểm đó ông Đ làm Chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp xã B, sau đó làm Bí thư đảng ủy xã. Các con của bà C không ai có công sức đóng góp gì đối với thửa đất này.
Thực hiện theo Nghị định số 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính Phủ, bà Nguyễn Thị C được Nhà nước giao cho thửa đất nông nghiệp số 12A tờ bản đồ số 93-1 diện tích 648m² tại khu G, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ, ngày 30/12/1999 UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà C. Khi bà C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thì không có ý kiến gì.
Năm 1993 anh C1 và chị S kết hôn. Sau khi kết hôn thì anh C1 chị S chung sống cùng với bà C nhưng kinh tế là riêng biệt. Bà C đã tạm giao cho anh C1 chị S thửa đất số 174 tờ bản đồ số 16 diện tích 360m2 tại khu G, xã B để canh tác nên bà C không canh tác thửa đất này từ đó đến nay, việc tạm giao thửa đất này chỉ nói miệng, hai bên không viết giấy tờ gì. Khi giao thửa đất cho anh C1 chị S thì bà C chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Khi vợ chồng anh C1 chị S ly hôn, bà C có yêu cầu anh C1 chị S trả lại thửa đất số 174 tờ bản đồ số 16 thì chị S nói là đã đổi thửa đất này cho anh C2 ở khu D, xã B, huyện T. Diện tích đổi cho anh C2 thì anh C2 đã đào ao với diện tích khoảng 360m², còn vài thước đất ở góc nhọn hiện vẫn đang bỏ hoang. Diện tích đất anh C2 đang sử dụng làm ao thì nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh C1. Việc chị S và anh C2 đổi đất cho nhau như thế nào thì bà C không biết, nay bà C xác định anh C2 không liên quan đến giải quyết vụ án nên không đề nghị đưa anh C2 vào thamn gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Nay bà C khởi kiện yêu cầu anh C1 chị S trả lại cho bà C thửa đất nông nghiệp số 174 tờ bản đồ số 16 diện tích 360m² tại khu G, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện T đã cấp ngày 30/12/1999 cho anh C1 đối với thửa đất số 174 tờ bản đồ số 16 diện tích 360m² tại khu G, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn anh Nguyễn Văn C1 trình bày:
Anh là con trai của bà Nguyễn Thị C. Năm 1993 anh và chị S kết hôn, đến năm 2013 thì ly hôn.
Nguồn gốc thửa đất nông nghiệp số 174 tờ bản đồ số 16 tại sứ đồng Thổ Mô, xã B, huyện T là của anh và chị S được Nhà nước giao theo Nghị định 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ để canh tác. Hiện thửa đất này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh nhưng không nhớ năm cấp do lâu ngày. Năm 2013 anh và chị S ly hôn nhưng chưa giải quyết thửa đất này.
Thời điểm Nhà nước giao đất nông nghiệp cho anh và chị S thì bà C cũng được Nhà nước giao cho một thửa đất nông nghiệp theo Nghị định 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính Phủ để canh tác.
Nay bà C khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện T đã cấp cho anh và yêu cầu anh và bà S trả lại cho bà C thửa đất nông nghiệp số 174 tờ bản đồ số 16 tại khu G, xã B, huyện T thì anh không đồng ý, vì thửa đất nông nghiệp của anh đã được Nhà nước giao cho đúng quy định của pháp luật nên không liên quan gì đến bà C. Hiện nay anh đang đi làm xa nhà nên anh xin vắng mặt tại tất cả các buổi xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản; các buổi mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và những phiên tòa xét xử vụ án.
Bị đơn chị Tăng Thị S trình bày:
Anh C1 là con trai của bà C. Năm 1993 chị và anh C1 kết hôn, sau khi kết hôn thì ở chung với bà C nhưng kinh tế là riêng biệt.
Thực hiện Nghị định số 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính Phủ, năm 1993 chị và anh C1 được Nhà nước giao cho các thửa đất nông nghiệp, gồm: Thửa đất số 38-1 tờ bản đồ số 10 diện tích 288m², thửa đất số 52-3 tờ bản đồ số 11 diện tích 96m², thửa đất số 272 tờ bản đồ số 12B diện tích 288m², thửa đất số 124-1 tờ bản đồ số 16 diện tích 240m², thửa đất số 174 tờ bản đồ số 16 diện tích 360m² đều có địa chỉ tại khu G, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ, các thửa đất này đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q457361 ngày 30/12/1999 đứng tên anh Nguyễn Văn C1. Trước khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các thửa đất nông nghiệp này không tranh chấp với ai. Các thửa đất nông nghiệp này là cấp cho chị và anh C1 nên các con của chị không liên quan gì. Năm 2013 chị và anh C1 ly hôn nhưng chưa giải quyết đối với các thửa đất nông nghiệp này. Đến khoảng năm 2014, chị cho anh C2 thuê thửa đất số 174 để trồng cỏ nuôi bò và trồng rau trên đất. Đến đầu năm 2024 thì anh C2 đã trả lại thửa đất cho chị, khi trả lại đất thì trên đất không có tài sản gì nên anh C2 không còn liên quan gì đến thửa đất này nữa. Không đề nghị Tòa án đưa anh C2 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Bà C cho rằng thửa đất số 174 tờ bản đồ số 16 diện tích 360m² hiện chị và anh C1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là của bà C do khai hoang mà có, sau đó cho chị và anh C1 mượn thì chị không đồng ý, vì thửa đất này là chị và anh C1 được giao theo Nghị định số 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ để canh tác, khi chị và anh C1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì không ai có ý kiến gì.
Nay bà C khởi kiện yêu cầu chị và anh C1 phải trả lại cho bà C thửa đất nông nghiệp số 174 tờ bản đồ số 16 diện tích 360m² tại khu G, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện T đã cấp ngày 30/12/1999 cho chị và anh C1 đối với thửa đất số 174 tờ bản đồ số 16 diện tích 360m² tại khu G, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ thì chị không nhất trí. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND huyện T do ông Phan Văn T là người đại diện hợp pháp trình bày:
Anh Nguyễn Văn C1 được UBND huyện T, tỉnh Phú Thọ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q457361 ngày 30/12/1999 có tổng diện tích 1272m², gồm các thửa: Thửa đất số 38-1 tờ bản đồ số 10 diện tích 288m², thửa đất số 52-3 tờ bản đồ số 11 diện tích 96m², thửa đất số 272 tờ bản đồ số 12B diện tích 288m², thửa đất số 124-1 tờ bản đồ số 16 diện tích 240m², thửa đất số 174 tờ bản đồ số 16 diện tích 360m² đều có địa chỉ tại khu G, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Mục đích sử dụng là đất trồng lúa. Nguồn gốc các thửa đất nông nghiệp này là được giao theo Nghị định 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính Phủ.
Bà Nguyễn Thị C là mẹ đẻ của anh C1 cũng được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q458340 ngày 30/12/1999, vào sổ cấp giấy chứng nhận số 00678QSDĐ/T16Q4 đối với thửa đất số 93-1, tờ bản đồ số 12A, bản đồ 299, diện tích 648m², loại đất trồng lúa; thời hạn sử dụng đến năm 2013, giao theo Nghị định 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính Phủ.
Căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện T đã cấp cho anh Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị C, xác định chị S là người cũng có quyền lợi đối với các thửa đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên anh C1.
Vì vậy, không có căn cứ để hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh C1. Nay bà C khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho anh C1 thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND xã B do ông Đỗ Như M là người đại diện hợp pháp trình bày:
Về nội dung các tài liệu liên quan đến thửa đất: Thửa đất tranh chấp là thửa đất số 174, tờ bản đồ số 16, diện tích 360,0m², loại đất là đất trồng lúa, địa chỉ tại khu T, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện T cấp ngày 30/12/1999, số vào sổ là 00677QSDĐ/T15Q4, ghi tên anh Nguyễn Văn C1 gồm có 05 thửa đất nông nghiệp, trong đó có thửa đất số 174, tờ bản đồ số 16, diện tích 360,0m², mục đích sử dụng là đất lúa; thời hạn sử dụng đến năm 2013.
Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất đã hết. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 172 Luật Đất đai năm 2024: Thời hạn giao đất, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp đối với cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp sử dụng đất trồng cây hằng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất là rừng trồng trong hạn mức quy định tại Điều 176 của Luật này là 50 năm. Khi hết thời hạn sử dụng đất, thì được tiếp tục sử dụng đất theo thời hạn quy định tại điểm này mà không phải làm thủ tục gia hạn. Như vậy, hộ anh Nguyễn Văn C1 được tiếp tục sử dụng đất.
Tại sổ Địa chính đất đai (Quyển số 04, trang số 15): Thửa đất số 174, tờ số 16, diện tích 360,0m², mục đích sử dụng là đất lúa, chủ sử dụng là anh Nguyễn Văn C1 và chị Tăng Thị S. Tại sổ Mục kê đất đai (Quyển số 03, trang số 78): Thửa đất số 174, tờ số 16, diện tích 360,0m², loại đất là 1L, chủ sử dụng là anh Nguyễn Văn C1.
Về nguồn gốc thửa đất số 174 tờ bản đồ số 16: Thửa đất nằm trong khu đất trước đây là đồng cỏ do UBND xã B quản lý. Đến năm 1993 Nhà nước chia đất ruộng theo Nghị định 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ, thửa đất trên được giao cho hộ anh Nguyễn Văn C1 và chị Tăng Thị S.
Ngày 08/4/2023, UBND xã B nhận được đơn đề nghị của bà Nguyễn Thị C với nội dung: Đề nghị giải quyết lấy lại thửa đất ruộng tại khu T đã cho con trai là anh Nguyễn Văn C1 và con dâu là chị Tăng Thị S để chuyển sang cho con trai là anh Nguyễn Văn K ở khu D, xã B, huyện T. Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai của UBND xã B đã mời các thành phần liên quan đến nội dung đơn để tham gia, tổ chức buổi hòa giải. Kết quả hòa giải là không thành.
Theo hồ sơ, tài liệu, sổ sách lưu trữ và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa đất số 174, tờ số 16 nêu trên được Nhà nước chia ruộng khẩu cho hộ anh C1 chị S, thuộc quyền sử dụng, định đoạt của anh C1 chị S; Bản thân bà C cũng đã được Nhà nước chia đất ruộng theo khẩu riêng.
Nay bà C khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho anh C1 chị S là không có cơ sở vì thửa đất giao cho anh C1 chị S là theo Nghị định 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ, hiện nay anh C1 chị S đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Phát biểu của Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký ghi biên bản phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký ghi biên bản phiên tòa và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 168, Điều 221 và Điều 222 Bộ luật Dân sự; Khoản 5 Điều 26 và Điều 172 Luật Đất đai năm 2024; Khoản 2 Điều 24 và khoản 2 Điều 36 Luật đất đai năm 1993; Mục IV.2 phần 1 của Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/3/1998 của T1; Khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện T cấp ngày 30/12/1999 cho anh Nguyễn Văn C1 và buộc anh Nguyễn Văn C1, chị Tăng Thị S phải trả lại cho bà 360,0m² đất lúa của thửa đất số 174 tờ bản đồ số 16 ở khu G (nay là khu D), xã B, huyện T.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị C vì là người cao tuổi và có đơn nên xin miễn án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Bà C khởi kiện yêu cầu anh C1 chị S trả lại thửa đất nông nghiệp và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho anh C1 chị S nên quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bị đơn là anh C1 chị S cư trú tại khu D, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ và nguyên đơn yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ theo quy định tại khoản 4 Điều 34 và 37 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 31 và khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính.
Người tham gia tố tụng: Tòa án có đưa anh Nguyễn Văn C2 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Quá trình giải quyết vụ án thì anh C2 xác định không liên quan đến vụ án và từ chối tham gia tố tụng, các đương sự cũng không đề nghị đưa anh C2 vào tham gia tố tụng. Vì vậy, không đưa anh Nguyễn Văn C2 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Vắng mặt người tham gia tố tụng: Anh C1 là bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông T là người đại diện cho UBND huyện T và ông M là người đại diện cho UBND xã B đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh C1, ông T và ông M.
[2] Về nội dung: Bà C khởi kiện yêu cầu anh C1 chị S trả lại thửa đất nông nghiệp số 174 tờ bản đồ số 16 tại khu G, xã B, huyện T và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện T đã cấp ngày 30/12/1999 cho anh C1 chị S đối với thửa đất nông nghiệp số 174 tờ bản đồ số 16 tại khu G, xã B, huyện T, nhưng anh C1 chị S không đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy:
Bà C và anh C1 là hai mẹ con. Năm 1993 anh C1 và chị S kết hôn, sau khi kết hôn thì anh C1 và chị S chung sống cùng với bà C tại khu D, xã B, huyện T nhưng kinh tế là riêng biệt.
Thửa đất nông nghiệp số 174 tờ bản đồ số 16 tại khu G, xã B, huyện T đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q457361 ngày 30/12/1999 đứng tên người sử dụng đất là anh Nguyễn Văn C1. Trong sổ mục kê và sổ địa chính của UBND xã B ghi anh C1 và chị S là người sử dụng thửa đất nông nghiệp số 174 tờ bản đồ số 16 tại khu G, xã B, huyện T. Trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh C1 ghi là giao theo Nghị định số 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ. Theo Điều 6 của Quy định được ban hành theo Nghị định số 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp, anh C1 và chị S là nhân khẩu nông nghiệp thường trú tại xã B, thuộc đối tượng được giao đất nông nghiệp để sản xuất nên UBND huyện T đã giao đất nông nghiệp cho anh C1 chị S là đúng quy định.
Tòa án tiến hành xác minh tại UBND xã B và khu dân cư, nội dung xác minh thể hiện: Thửa đất nông nghiệp số 174 tờ bản đồ số 16 tại khu G, xã B, huyện T không phải do bà C khai hoang mà có; ở địa phương không có đất hoang hóa mà chỉ có đất đồng cỏ do UBND xã quản lý, chưa giao cho ai; trước năm 1993 có một số cá nhân tự ý sử dụng đất đồng cỏ, khi thực hiện Nghị định 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ thì UBND xã đã thu hồi và thực hiện giao cho những người chưa có đất. Vì vậy, bà C cho rằng thửa đất 174 tờ bản đồ số 16 tại khu G, xã B là của bà C khai hoang mà có là không có căn cứ.
Bà C được UBND huyện T giao cho thửa đất nông nghiệp số 93.1 tờ bản đồ số 12A diện tích 648m² tại khu G, xã B, huyện T theo Nghị định số 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ. Ngày 30/12/1999, bà C được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q457340.
Như vậy, ngày 30/12/1999 bà C, anh C1 đều được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không ai có ý kiến gì, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là trên cơ sở kê khai của người sử dụng đất. Căn cứ khoản 2 Điều 24 và khoản 2 Điều 36 Luật đất đai năm 1993; mục IV.2 phần 1 của Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/3/1998 của Tổng cục Địa chính, UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh C1 chị S đối với thửa đất số 174 tờ bản đồ số 16 tại khu G, xã B, huyện T là đúng quy định của pháp luật.
Theo Điều 6 và Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, bà C phải có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình nhưng không có tài liệu nào chứng minh. Vì vậy, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện T đã cấp cho anh C1 đối với thửa đất số 174 tờ bản đồ số 16 và yêu cầu anh C1 chị S trả lại cho bà C thửa đất nông nghiệp số 174 tờ bản đồ số 16 tại khu G, xã B, huyện T.
[3] Về chi phí tố tụng: Xét thấy số tiền đã chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 4.000.000 đồng, yêu cầu khởi kiện của bà C không được chấp nhận nên bà C phải chịu toàn bộ số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Bà C đã nộp 4.000.000 đồng nên xác nhận bà C đã nộp đủ số tiền này.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của bà C không được chấp nhận nên phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Bà C là người cao tuổi và có đơn yêu cầu miễn án phí nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà C.
[5] Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về giải quyết vụ án là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 168, Điều 221 và Điều 222 Bộ luật Dân sự; Khoản 5 Điều 26 và Điều 172 Luật Đất đai năm 2024; Khoản 2 Điều 24 và khoản 2 Điều 36 Luật đất đai năm 1993; Mục IV.2 phần 1 của Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/3/1998 của T1; Khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện T cấp ngày 30/12/1999 cho anh Nguyễn Văn C1 đối với thửa đất số 174 tờ bản đồ số 16 tại khu G, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ và yêu cầu anh Nguyễn Văn C1, chị Tăng Thị S trả lại cho bà Nguyễn Thị C thửa đất số 174 tờ bản đồ số 16, diện tích 360,0m² tại khu G, xã B, huyện T.
- Về chi phí tố tụng: Buộc bà Nguyễn Thị C phải chịu số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Xác nhận bà Nguyễn Thị C đã nộp đủ số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị C vì là người cao tuổi và có đơn nên xin miễn án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Khắc Chiên |
Bản án số 05/2025/DS-ST ngày 24/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 05/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C yêu cầu anh C chị S trả lại quyền sử dụng đất