|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH Bản án số: 05/2025/DS-ST Ngày 23/05/2025 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Tư
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Luận
- Bà Hoàng Thị Thu Lâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Khánh Huyền- Thư ký TAND thị xã Kỳ Anh.
- Đại diện VKSND thị xã Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị V - Kiểm sát viên.
Ngày 23/5/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 44/2024/TLST-DS ngày 03/12/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-DS ngày 03/4/2025
- Nguyên đơn: Công ty T2;
Địa chỉ: Tầng A, tháp B, Khu thương mại dịch vụ kết hượp nhà cao tầng tại lô đất 1-13 thuộc Khu C - Số A, đường T, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo pháp luật: Ông Chun Young I – Chức vụ: Giám đốc (Vắng mặt, có văn bản ủy quyền cho người đại diện theo ủy quyền)
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phùng Minh Đ – Chức vụ: Giám đốc khối Thu hồi nợ; (vắng mặt, có văn bản ủy quyền lại cho người đại diện theo ủy quyền)
Người đại diện lại theo ủy quyền:
- Ông Hoàng Văn Đ1, sinh năm 1994, (vắng mặt)
- Bà Cao Thị Vân A, sinh năm 1997, (vắng mặt)
- Ông Lê Đình Minh T, sinh năm 1999, (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bà Đỗ Thị Thùy T1, sinh năm 1988, (vắng mặt)
- Ông Trần Hoàng H, sinh năm 1991, (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số H N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.
- Bị đơn: Ông Hoàng Văn C, sinh năm: 1992; Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng; nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn trình bày:
Ngày 14/6/2023, Công ty T2 (Sau đây gọi là Công ty T2) và ông Hoàng Văn C ký Hợp đồng cho vay số [...] (Sau đây gọi là Hợp đồng), theo đó, Công ty T2 cho ông Hoàng Văn C vay số tiền 110.000.000 đồng, lãi suất 37%/năm, mục đích vay: mua đồ dùng trang thiết bị gia đình, loại hình vay: tín chấp.
Ngày 14/6/2023, Công ty T2 đã giải ngân đủ số tiền 110.000.000 đồng cho ông Hoàng Văn C. Theo hợp đồng, ông Hoàng Văn C có nghĩa vụ thành toán khoản vay bao gồm gốc và lãi trong vòng 36 tháng, vào ngày 05 hàng tháng, số tiền thanh toán mỗi kỳ là 5.060.945 đồng, kỳ đầu tiên vào ngày 05/7/2023 và kỳ cuối cùng vào ngày 05/6/2026. Từ khi ký hợp đồng, ông Hoàng Văn C đã thanh toán 02 kỳ tháng 7 và tháng 8 năm 2023 vào các ngày 05/7/2023 và 15/7/2023 với tổng số tiền 10.170.000 đồng. Từ ngày 16/7/2023 đến nay, ông Hoàng Văn C không thanh toán bất kỳ khoản nợ nào khác mặc dù đã được Công ty T2 liên hệ và tạo điều kiện nhiều lần.
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 09/10/2024, nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu ông H1 văn Công phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc và nợ lãi tạm tính đến hết ngày 06/9/2024 là 151.989.915 đồng; Yêu cầu ông Hoàng Văn C tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn theo hợp đồng trên dư nợ gốc từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong dư nợ gốc.
Quá trình giải quyết vụ án, Công ty T2 làm đơn đề nghị Tòa án Công ty T2 có đơn đề nghị buộc ông Hoàng Văn C thanh toán nợ gốc số tiền 105.591.007 đồng, nợ lãi trong hạn với lãi suất 37%/năm, nợ lãi phát sinh trên dư nợ gốc quá hạn với lãi suất chậm trả là 55,5%/năm (150% của lãi suất trong hạn) và lãi chậm trả phát sinh trên lãi quá hạn với lãi suất 10%/năm, cụ thể:
- Buộc ông Hoàng Văn C trả số tiền nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 22/01/2025 tổng số tiền là 188.721.953 đồng (Một trăm tám tám triệu bảy trăm hai mươi mốt nghìn chín trăm năm ba đồng) trong đó: Nợ gốc 105.591.007 đồng, nợ lãi trong hạn 55.217.866 đồng, lãi chậm trả/gốc quá hạn 22.658.618 đồng, lãi chậm trả/lãi quá hạn 5.254.463 đồng
- Buộc ông Hoàng Văn C phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn theo Hợp đồng trên dư nợ gốc từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong dư nợ gốc.
Đối với phương án trả nợ mà ông Hoàng Văn C đề xuất, Công ty T2 không đồng ý, đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vụ án theo quy định pháp luật.
Tại bản tự khai ngày 21/3/2025, bị đơn Hoàng Văn C trình bày:
Bị đơn thừa nhận ngày 14/6/2023 có ký hợp đồng vay với Công ty T2 để vay số tiền 110.000.000 đồng, lãi suất 37%/năm. Công ty T2 đã giải ngân đủ số tiền 110.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng ông Hoàng Văn C đã thanh toán tổng cộng 02 kỳ trả nợ cho tháng 7 và tháng 8 năm 2023 với tổng số tiền 10.170.000 đồng (trong đó thanh toán tiền gốc là 4.408.993đồng, thanh toán tiền lãi là 5.761.007đồng), thời điểm từ đó đến nay vì khó khăn nên chưa thanh toán được cho Công ty. Ông Hoàng Văn C thừa nhận tính đến ngày 07/01/2025 còn nợ Công ty T2 số tiền 170.600.754đồng trong đó: Nợ gốc 105.591.007 đồng còn lại là nợ lãi. Do tình hình công việc khó khăn, không trả được nợ nên ông Hoàng Văn C đề nghị Công ty T2 miễn các khoản lãi và cho ông được trả nợ gốc và đề xuất phương án trả nợ mỗi tháng ông sẽ trả cho Công ty T2 7.000.000 đồng, trong 15 tháng sẽ trả toàn bộ nợ gốc. Bị đơn không có yêu cầu phản tố.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng:
Từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đại diện nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn vắng mặt tại phiên các phiên họp và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án và tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228,Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ các Điều 385, 398, 401, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự 2015; Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Thông tư số 43/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay tiêu dùng của Công ty T2; Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T2.
- Buộc ông Hoàng Văn C có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty T2 số tiền nợ vay tính đến ngày 23/5/2025 là 188.721.953 đồng (Một trăm tám tám triệu bảy trăm hai mươi mốt nghìn chín trăm năm ba đồng) trong đó: Nợ gốc 105.591.007 đồng (Một trăm lẻ năm triệu năm trăm chín mốt nghìn không trăm lẻ bảy đồng), nợ lãi trong hạn 55.217.866 đồng (Năm mươi lăm triệu hai trăm mười bảy nghìn tám trăm sáu sáu đồng), lãi chậm trả trên nợ gốc quá hạn 22.658.618 đồng (Hai mươi hai triệu sáu trăm năm tám nghìn sáu trăm mười tám triệu), lãi chậm trả trên nợ lãi quá hạn 5.254.463 đồng (Năm triệu hai trăm năm tư nghìn bốn trăm sáu mươi ba đồng)
- Kể từ ngày 24/5/2025, ông Hoàng Văn C còn phải tiếp tục chịu lãi đối với số tiền nợ gốc còn nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng cho vay tiêu dùng số [...] ngày 14/6/2023 đã ký kết giữa Công ty T2 với bị đơn ông Hoàng Văn C, thể hiện ông Hoàng Văn C cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
- Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn Công ty T2 khởi kiện yêu cầu ông Hoàng Văn C trả tiền vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết nên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn ông Hoàng Văn C có nơi cư trú tại tổ dân phố H, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người đại diện lại theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Lê Đình Minh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Hoàng Văn C đã được Toà án triệu tập hợp lệ, có mặt tại buổi làm việc ngày 21/3/2025 nhưng vắng mặt không có lý do lần thứ hai tại phiên tòa, căn cứ khoản điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự, người đại diện của đương sự và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
[2]. Về nội dung.
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:
Căn cứ hợp đồng cho vay tiêu dùng số [...] ngày 14/6/2023 đã ký kết giữa Công ty T2 với bị đơn ông Hoàng Văn C, thể hiện ông Hoàng Văn C có vay của Công ty T2 số tiền 110.000.000 đồng, mục đích mua đồ tiêu dùng.
Xét thấy, hợp đồng cho vay tiêu dùng số [...] ngày 14/6/2023 được ký kết giữa Công ty T2 với bị đơn ông Hoàng Văn C đảm bảo về hình thức, nội dung, điều kiện có hiệu lực được quy định tại các Điều 385, 398, 401, 463 Bộ luật dân sự 2015 nên phát sinh hiệu lực pháp luật, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đã thỏa thuận trong hợp đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Hoàng Văn C đã vay của Công ty T2 số tiền 110.000.000 đồng nhưng mới thanh toán được 02 kỳ trả nợ cho tháng 7 và tháng 8 năm 2023 với tổng số tiền 10.170.000 đồng (trong đó thanh toán tiền gốc là 4.408.993đồng, thanh toán tiền lãi là 5.761.007đồng) sau đó không tiếp tục thanh toán cho Công ty T2 nữa. Công ty T2 đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhỡ nhưng ông Hoàng Văn C vẫn không tiếp tục thanh toán, đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cho vay tiêu dùng và quy định của Bản điều khoản cơ bản của hợp đồng cho vay của Công ty T2. Do đó, Công ty đã chuyển toàn bộ dư nợ tiền gốc sang nợ quá hạn theo quy định tại điểm f khoản 1.4 Điều 1 của Bản điều khoản cơ bản của hợp đồng cho vay của Công ty T2 (lãi chậm trả theo lãi suất 10%/năm trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả với mức lãi suất bằng 150% lãi suất quy định tại hợp đồng cho vay)
Do đó, Công ty T2 yêu cầu ông Hoàng Văn C trả nợ vay tính đến ngày xét xử sơ thẩm vụ án là ngày 23/5/2025 là 188.721.953 đ (Một trăm tám mươi triệu, bảy trăm hai mốt nghìn, chin trăm năm mươi ba đồng); trong đó nợ tiền gốc: 105.591.007 đồng, nợ tiền lãi trong hạn: 55.217.866đồng (37%/năm), lãi quá hạn trên gốc quá hạn: 22.658.618đồng (55%/năm), lãi chậm trả trên lãi quá hạn là: 5.254.463đồng (10%/năm) và lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký kết với Công ty T2 là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự 2015.
[2.2]. Xét yêu cầu xin được miễn giảm lãi suất của ông Hoàng Văn C bản tự khai 21/3/2025 thì thấy:
Ông Hoàng Văn C thừa nhận đang còn nợ Công ty T2 theo đơn khởi kiện của Công ty T2, nhưng ông C đề nghị chỉ trả nợ gốc và xin được miễn, giảm nợ lãi. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, ông C không tham gia các phiên họp, các buổi làm việc do Tòa án tổ chức. Tại phiên xét xử, ông Hoàng Văn C vắng mặt không có lý do lần thứ hai. Tại các văn bản trình bày ý kiến, nguyên đơn Công ty T2 giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về nợ gốc và nợ lãi đối với bị đơn. Do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bị đơn về miễn, giảm nợ lãi.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Hoàng Văn C phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[4.] Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, Bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 385, 398, 401, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Thông tư số 43/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay tiêu dùng của Công ty T2;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T2.
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo:
Buộc ông Hoàng Văn C có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty T2 số tiền nợ vay tính đến ngày 23/5/2025 là 188.721.953 đồng (Một trăm tám tám triệu, bảy trăm hai mươi mốt nghìn, chín trăm năm ba đồng) trong đó: Nợ gốc 105.591.007 đồng (Một trăm lẻ năm triệu năm trăm chín mốt nghìn không trăm lẻ bảy đồng), nợ lãi trong hạn 55.217.866 đồng (Năm mươi lăm triệu hai trăm mười bảy nghìn tám trăm sáu sáu đồng), lãi chậm trả trên nợ gốc quá hạn 22.658.618 đồng (Hai mươi hai triệu sáu trăm năm tám nghìn sáu trăm mười tám triệu), lãi chậm trả trên nợ lãi quá hạn 5.254.463 đồng (Năm triệu hai trăm năm tư nghìn bốn trăm sáu mươi ba đồng)
Kể từ ngày 24/5/2025, ông Hoàng Văn C còn phải tiếp tục chịu lãi đối với số tiền nợ gốc còn nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng cho vay tiêu dùng số [...] ngày 14/6/2023 đã ký kết giữa Công ty T2 với bị đơn ông Hoàng Văn C, thể hiện ông Hoàng Văn C cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Ông Hoàng Văn C phải chịu 9.436.098 đồng (Chín triệu bốn trăm ba sáu nghìn, không trăm chín tám đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Công ty T2 được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí số tiền 3.800.000 đồng (Ba triệu tám trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008445 ngày 26/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
Nguyên đơn, bị đơn, người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Văn Tư |
Bản án số 05/2025/DS-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 05/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 05
