Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠC THỦY

TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/DS-ST.

Ngày 23/5/2025.

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Hùng Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Lê Đắc Tỵ.

Ông Bùi Hữu Thành.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Dương – Thư ký viên chính.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thủy tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Mai – Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 5 năm 2025 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2022/TLST- DS ngày 24 tháng 2 năm 2022 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 03 năm 2025 và các Quyết định hoãn phiên tòa, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V. Địa chỉ: Số H, L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Phạm Tuấn A – Phó giám đốc.

Người ủy quyền tham gia tố tụng tại tòa án: Ông Lê Bá H, sinh năm 2001 và bà Bùi Thị Hoài M, sinh năm 1997. Địa chỉ: V1 - F C, phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

- Bị đơn: Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1971. Vắng mặt.

Địa chỉ: Khu H, TT C, huyện L, tỉnh Hòa Bình.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Hà Thị Hoàng Y, sinh năm 1994. Vắng mặt.

Địa chỉ: Khu H, thị trấn C, huyện L, tỉnh Hòa Bình.

- Chị Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1994. Vắng mặt.

Địa chỉ: VPBank S, Đại Lộ T, phường T, TP H, tỉnh Hòa Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Trong quá trình tố tụng và tại phiên toà đại diện Nguyên đơn trình bày:

Bà Hoàng Thị L vay vốn tại V1 theo các Hợp đồng tín dụng để vay vốn của V1 cụ thể như sau:

  • + Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số LN1806180739315 ngày 19/06/2018. Số tiền vay: 53.000.000 đồng, thời hạn vay: 36 tháng, tính từ ngày giải ngân vốn vay đầu tiên. Mục đích sử dụng vốn: Bổ sung vốn kinh doanh giải khát, bia rượu thuốc lá. Lãi suất trong hạn: 20%/năm. Lãi suất quá hạn: bằng 150% mức lãi suất trong hạn, kể từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn.
  • + Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số: LN1708280172207 ngày 03/10/2017. Số tiền vay: 182.000.000 đồng. Thời hạn vay: 120 tháng, tính từ ngày giải ngân vốn vay đầu tiên. Mục đích sử dụng vốn: Bổ sung vốn kinh doanh dịch vụ cắt tóc và chăm sóc da. Lãi suất trong hạn: Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 12,5%/năm theo quy định tại Hợp đồng tín dụng với 01 năm là 360 ngày, mức lãi suất quy đổi trên cơ sở 01 năm là 365 ngày là 12,67%/năm. Lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07, 01/10 hàng năm, ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 01/04/2018, mức điều chỉnh lãi suất bằng lãi suất bán vốn của Bên Ngân hàng tại thời diểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 5,5%/năm. Lãi suất quá hạn: bằng 150% mức lãi suất trong hạn, kể từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn
  • - Hợp đồng tín dụng số 287-P-045578 ngày 13/9/2017. Hạn mức tín dụng thẻ: 10.000.000 đồng. Thời hạn vay: 60 tháng. Mục đích sử dụng vốn: vay tiêu dùng. Lãi suất trong hạn: Lãi suất cho vay của V1 đối với Chủ thẻ thông qua việc phát và sử dụng thẻ áp dụng theo biểu lãi suất cho vay do V1 quy định tại từng thời kỳ. Lãi suất quá hạn: bằng 150% mức lãi suất trong hạn, kề từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn.

Tài sản đảm bảo cho các khoản vay nêu trên là: Toàn bộ Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 458, tờ bản đồ số 12, địa chỉ: Khu H, thị trấn C, huyện L, tỉnh H, theo “Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số CĐ 264027, số vào sổ cấp GCN: 00846 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 15/11/2016, đứng tên bà Hoàng Thị L. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 1297, quyển số 01TP/CC-SCC ký ngày 29/9/2017 tại Văn phòng Công chứng Tín Phát tỉnh H.

Quá trình thực hiện Hợp đồng, bà Hoàng Thị L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho V1 nên khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn kể từ ngày 19/01/2019 và bà Hoàng Thị L phải chịu lãi suất quá hạn, phạt vi phạm hợp đồng cùng các nghĩa vụ khác theo quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Tạm tính đến ngày 23/5/2025, số tiền bà Hoàng Thị L đã trả V1 như sau: Nợ gốc đã trả: 53.091.321 đồng; Nợ lãi đã trả: 44.207.361 đồng; Tổng số: 97.298.682 đồng.

Tạm tính đến ngày 23/5/2025, bà Hoàng Thị L còn nợ V1 tổng số tiền là 598.085.863 đồng, trong đó: Nợ gốc là 191.082.915 đồng; Nợ lãi phải trả là 407.002.948 đồng.

Rút yêu cầu khởi kiện đối với số tiền lãi chậm trả lãi là 77.212.445 đồng.

Yêu cầu Tòa án tuyên trong bản án: Buộc bà Hoàng Thị L phải thanh toán cho V1 toàn bộ số tiền còn nợ V1 theo các Hợp đồng tín dụng ký với V1, tạm tính đến ngày 23/5/2025 khoản tiền là: 598.085.863 đồng, Trong đó Nợ gốc là 191.082.915 đồng; Nợ lãi phải trả là 407.002.948 đồng và toàn bộ lãi phát sinh theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến ngày bà Hoàng Thị L thực tế thanh toán hết cho V1.

Đề nghị Tòa án tuyên trong bản án V1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi khoản nợ, cụ thể là: Toàn bộ Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 458. tờ bản đồ số 12, địa chỉ: Khu H, thị trấn C, huyện L, tỉnh Hòa Bình, theo “Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 264027, số vào số cấp GCN: 00846 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 15/11/2016, đứng tên bà Hoàng Thị L. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 1297, quyển số 01TP/CC-SCC ký ngày 29/9/2017 tại Văn phòng C.

Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ để thanh toán hết khoản nợ thì bà Hoàng Thị L phải tiếp tục thanh toán cho đến khi thanh toán xong toàn bộ các khoản nợ theo các Hợp đồng tín dụng nêu trên.

2. Trong quá trình tố tụng Bị đơn trình bày:

Tôi có ký hợp đồng vay tiền với V2 số tiền 182.000.000 đồng (Tôi cầm về 180.000.000 đồng, 2.000.000 đồng là tiền bảo hiểm); tôi có sử dụng thẻ tín dụng của V2 với hạn mức 10.000.000 đồng, sau đó ngân hàng về điều tra chỗ tôi làm, cho tôi vay tiếp 50.000.000 đồng và 3.000.000 đồng tiền bảo hiểm. Tổng tôi được cầm về là 240.000.000 đồng. tôi có thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng V1, cụ thể là:

Gửi vào tài khoản của tôi ở ngân hàng vào các ngày: Ngày 03/10/2017, số tiền trả: 3.040.000 đồng; Ngày 03/11/2017, số tiền trả: 3.400.000 đồng; Ngày 03/12/2017, số tiền trả: 3.400.000 đồng; Ngày 03/01/2018, số tiền trả: 3.340.000 đồng; Ngày 03/02/2018, số tiền trả: 3.400.000 đồng; Ngày 03/3/2018, số tiền trả: 3.400.000 đồng; Ngày 03/4/2018, số tiền trả: 3.400.000 đồng; Ngày 03/5/2018, số tiền trả: 3.400.000 đồng; Ngày 03/6/2018, số tiền trả: 3.400.000 đồng; Ngày 03/7/2018, số tiền trả: 3.400.000 đồng; Ngày 03/8/2018, số tiền trả: 3.400.000 đồng; Ngày 03/9/2018, số tiền trả: 3.400.000 đồng; Ngày 03/10/2018, số tiền trả: 3.400.000 đồng; Ngày 03/11/2018, số tiền trả: 3.400.000 đồng; Ngày 03/12/2018, số tiền trả: 3.400.000 đồng; Ngày 03/01/2019, số tiền trả: 3.400.000 đồng; Ngày 03/02/2019, số tiền trả: 3.400.000 đồng; Ngày 03/3/2019, số tiền trả: 3.400.000 đồng; Ngày 03/4/2019, số tiền trả: 3.400.000 đồng; Ngày 03/5/2019, số tiền trả: 3.400.000 đồng; Ngày 18/6/2019, số tiền trả: 3.020.000 đồng; Ngày 19/6/2019, số tiền trả: 1.974.000 đồng (lãi số tiền vay 50.000.000 đồng); Ngày 29/6/2019, số tiền trả: 2.000.000 đồng.

Các lần chuyển tiền không nhớ chuyển tiền vào tài khoản nào: Ngày 05/7/2019, số tiền trả: 3.000.000 đồng; Ngày 07/7/2019, số tiền trả: 1.300.000; Ngày 13/7/2019, số tiền trả: 1.000.000 đồng; Ngày 19/7/2019, số tiền trả: 1.000.000 đồng; Ngày 02/8/2019, số tiền trả: 1.284.000 đồng; Ngày 07/8/2019, số tiền trả: 1.000.000 đồng; Ngày 19/8/2019, số tiền trả: 1.000.000 đồng; Ngày 03/9/2019, số tiền trả: 1.000.000 đồng; Ngày 07/9/2019, số tiền trả: 1.000.000 đồng; Ngày 19/10/2019, số tiền trả: 1.000.000 đồng; Ngày 23/10/2019, số tiền trả: 1.000.000 đồng; Ngày 22/11/2019, số tiền trả: 1.000.000 đồng.

Gửi vào tài khoản của tôi ở ngân hàng vào các ngày: Ngày 04/12/2019, số tiền trả: 1.000.000 đồng; Ngày 24/3/2020, số tiền trả: 1.000.000 đồng; Tháng 4/2020, số tiền trả: 2.000.000 đồng; Ngày 04/6/2020, số tiền trả: 2.500.000 đồng; Ngày 05/5/2022, số tiền trả: 2.000.000 đồng; Trong năm 2022, số tiền trả: 1.500.000 đồng.

Tổng số tiền mà tôi đã trả đến 5/5/2022: 106.158.000 đồng.

Quan điểm của tôi là: Bảng sao kê của Ngân hàng là không chính xác số tiền tôi gửi vì số tiền không khớp, số tiền lẻ mấy nghìn, tôi không gửi lẻ, có số tiền lại dư so với số tiền tôi gửi.

Trong đơn xin đề nghị giúp đỡ gửi về Tòa án đề ngày 05/5/2022, bà L thừa nhận có ký hợp đồng vay với ngân hàng V2, cho rằng bản thân không bị quá hạn đối với các khoản nợ, xin được tiếp tục hợp đồng, xin được lùi thời hạn trả nợ do dịch covid, do bà bị mổ ruột thừa.

Trong đơn gửi ngày đơn xin đề nghị đề ngày 22/6/2022; Đơn đề ngày 8/7/2022; Đơn xin trình bày sự việc 20/12/2024; Đơn xin khất nợ đề ngày 23/12/2024 gửi qua bưu điện về Tòa án: bà cho rằng bà trả theo hướng dẫn của chị T, không thấy tin nhắn thông báo số tiền trả của chị T nên thời hạn trả tiền không kịp thời. Nay bà xin trả nợ dần theo hợp đồng.

3. Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Năm 2017 tôi có phát hành vay cho khách hàng Hoàng Thị L số tiền vay 182.000.000 đồng. Sau đó, chị L thường xuyên để phát sinh nợ quá hạn. Đến khi quá hạn cao, vào ngày sắp chuyển sang nợ xấu, chị L có nhờ tôi cắt kỳ cho chị L. Chị L đã chuyển vào tài khoản của tôi số tiền 6.803.000 đồng. Sau đó, tôi đã chuyển vào tài khoản của chị L và yêu cầu chị L tự chuyển thanh toán vào tài khoản của chị tại ngân hàng.

  • * Kết quả đối chất giữa đại diện ngân hàng và bà Hoàng Thị L: Ngân hàng qua đối soát tài khoản thanh toán, tổng số tiền trong các lần chuyển khoản của bà L là 97.298.682 đồng, đồng thời lý giải, khi hạch toán có thể thừa hoặc thiếu thì số tiền sẽ bị lẻ đến hàng đồng trong số tiền bà L chuyển đến.
  • * Kết quả đối chất giữa chị Nguyễn Thị Hồng T đại diện ngân hàng và bà Hoàng Thị L: Bảng sao kê tài khoản nhân viên 132.961.999 mang tên Nguyễn Thị Hồng T thì số tiền do bà L chuyển đến tài khoản là 6.803.000 đồng. Bà L khẳng định bản thân nhiều lần chuyển khoản đến tài khoản của chị T với số tiền 9.800.000 đồng.
  • * Kiểm sát viên phát biểu:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký tòa án đã thực hiện đúng các quy định của BLTTDS trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước khi mở phiên tòa. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tại phiên tòa. Nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS. Bị đơn, không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của BLTTDS.

Về nội dung vụ án: Căn cứ các điều 280, 292, 293, 298, 299, 307, 317, 318, 323, 463, 466 của Bộ luật Dân sự. Căn cứ khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà Hoàng Thị L phải thanh toán trả ngân hàng V1 tổng số tiền nợ gốc và lãi phát sinh tạm tính đến ngày 23/5/2025. Trường hợp bà Hoàng Thị L không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng V1 có quyền đề nghị xử lý toàn bộ tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp bất động sản đã ký để thu hồi nợ.

Về án phí bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. HĐXX nhận định:

[1]. Về tố tụng:

  • * Ngân hàng V1 khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn là bà Hoàng Thị L, địa chỉ: Khu H, thị trấn C, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Tòa án nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình thụ lý, giải quyết vụ án dân sự dân sự là đúng thẩm quyền phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • * Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử (HĐXX) tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp với điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS).
  • * Về thời hiệu khởi kiện: Trong vụ án này nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu áp dụng thời hiệu, vì vậy Tòa án không áp dụng quy định về thời hiệu để làm căn cứ giải quyết vụ án.
  • * Về rút một phần yêu cầu khởi kiện: Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền lãi chậm trả lãi là 77.212.445 đồng. Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, nằm trong phạm vi nội dung được ủy quyền nên được chấp nhận. Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với số tiền lãi chậm trả lãi.

[2]. Về nội dung tranh chấp: Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số LN1806180739315 ngày 19/06/2018, số tiền vay là 53.000.000 đồng; Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số: LN1708280172207 ngày 03/10/2017, số tiền vay là 182.000.000 đồng; Hợp đồng tín dụng số 287-P-045578 ngày 13/9/2017 số tiền vay là 10.000.000 đồng.

Thực hiện đúng hợp đồng, ngân hàng V1 đã giải ngân đủ số tiền vay trên cho bà Hoàng Thị L. Bà Hoàng Thị L đã nhận đủ tiền và quá trình thực hiện hợp đồng cũng đã thanh toán cho ngân hàng tính đến ngày 23/5/2025 số tiền là: 97.298.682 đồng. Trong đó tiền gốc là: 53.091.321 đồng, tiền lãi là: 44.207.361 đồng.

HĐXX xét thấy, Hợp đồng tín dụng được lập bằng văn bản, có đầy đủ chữ ký của các bên, đã được Ngân hàng C; nội dung của các Hợp đồng phù hợp với các quy định của Điều 398, Điều 463 của Bộ luật Dân sự và khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Do đó có căn cứ xác định giữa hai bên đã ký kết hợp đồng tín dụng trên cơ sở tự nguyện, theo đúng trình tự thủ tục quy định nên các hợp đồng nêu trên là hợp pháp.

[3]. Về lãi suất: Theo Hợp đồng các hợp đồng cho vay có thỏa thuận lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất quá hạn: Bằng 150% mức lãi suất vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; mức lãi suất này được áp dụng kể từ thời điểm khoản nợ gốc của bên vay bị chuyển quá hạn đến khi bên vay thanh toán hết nợ gốc quá hạn.

Căn cứ vào với khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 11 của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N. Theo hướng dẫn tại Điều 7, Điều 8, Điều 10 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, các Hợp đồng tín dụng này có thoả thuận về việc điều chỉnh lãi, lãi suất cho vay thì lãi, lãi suất cho vay được xác định theo thỏa thuận của các bên và văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi, lãi suất có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh lãi, lãi suất. Do đó, HĐXX chấp nhận yêu cầu tính lãi của nguyên đơn.

[4]. Bà Hoàng Thị L cho rằng khoản vay của bà không bị quá hạn, không nợ xấu:

Trong quá trình vay tiền tại V1 bà đã ký hợp đồng tín dụng. Khi ký hợp đồng, bà L và ngân hàng đã thống nhất các điều khoản về số tiền vay, thời hạn vay, lãi suất, phương thức thanh toán và số tài khoản vay.

Số tài khoản vay đã được V1 cấp cho bà L sau khi hợp đồng vay được phê duyệt. Tài khoản này dành cho việc thanh toán nợ gốc và nợ lãi. Bản thân bà L đã thực hiện thanh toán qua tài khoản do V1 trong thời gian dài.

Hợp đồng tín dụng ghi rõ khách hàng có nghĩa vụ thanh toán trực tiếp tại trụ sở của Ngân hàng. Tại Khoản 6 Điều 4 của hợp đồng tín dụng Hợp đồng LN17082801172207 quy định về địa điểm thanh toán và phương thức thanh toán gốc, lãi tiền vay: “Việc thanh toán các khoản nợ của Bên vay được thực hiện tại trụ sở các địa điểm kinh doanh của Bên Ngân hàng. Bên vay có thể thanh toán nợ vay bằng tiền mặt, chuyển khoản hoặc thông qua các phương thức thu nợ khác do Bên Ngân hàng triển khai từng thời kỳ. Bên vay có nghĩa vụ mở tài khoản thanh toán tại Bên Ngân hàng và bảo đảm rằng tài khoản này có đủ số dư để Bên Ngân hàng thu nợ khi đến hạn. Bên Ngân hàng có quyền tự động tạm khóa, trích tài khoản nêu trên hoặc bất kỳ tài khoản nào khác (có kỳ hạn, không kỳ hạn) của Bên vay mở tại Bên Ngân hàng để thu nợ đến hạn hoặc để bảo đảm thu nợ...”. Các quy định trên không có quy định cho khách hàng chuyển khoản đến tài khoản cá nhân của nhân viên Ngân hàng để thanh toán cho các khoản nợ gốc, nợ lãi của khoản vay. Việc nhờ người khác (dù là nhân viên V1) không được xem là thanh toán hợp lệ, nên việc thanh toán của bà L chỉ được chấp nhận đối với các khoản đã thanh toán được thể hiện trong bảng sao kê của ngân hàng đã xác nhận. Trong trường hợp bà L có căn cứ về số tiền đã chuyển cho chị Nguyễn Thị Hồng T là không đúng với số tiền bà đã chuyển thì bà Hoàng Thị L có quyền yêu cầu giải quyết trong vụ án khác.

* Về việc xác định nợ xấu

Căn cứ theo khoản 8 Điều 3 và điểm c khoản 1 Điều 10 Thông tư 11/2021/TT-NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài:

“Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Thông tư này, những từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

8. Nợ xấu (NPL) là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5.

Điều 10. Phân loại nợ và cam kết ngoại bảng theo phương pháp định lượng

1. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng N1 thực hiện phân loại nợ (trừ các khoản trả thay theo cam kết ngoại bảng) theo 05 nhóm như sau:

c) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:

(i) Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;”

Như vậy, theo quy định trên thì khoản vay của bà Hoàng Thị L tại ngân hàng sẽ bị chuyển sang nợ xấu khi quá 90 ngày kể từ ngày đến đến kỳ hạn trả nợ gốc và lãi mà bà L chưa đóng tiền.

* Về thời điểm khoản vay chuyển sang quá hạn

Căn cứ vào điểm J khoản 1 Điều 7 và khoản 2 Điều 7 của Hợp đồng LN17082801172207 ngày 03/10/2017 quy định:

“Điều 7: Chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn và xử lý nợ

1. Bên vay hoàn toàn đồng ý rằng, khi xảy ra một trong các trường hợp sau đây, bên vay sẽ không được ngân hàng Bên ngân hàng giải ngân, sẽ bị ngân hàng chấm dứt cho vay và phải trả nợ trước hạn cho bên ngân hàng:

J, Bên vay phát sinh dư nợ khác quá hạn hoặc dư nợ khác bị thu hồi trước hạn tại bên Ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác.

2. Khi xảy ra một trong các trường hợp nêu trên, Bên ngân hàng có quyền (nhưng không có nghĩa vụ) căn cứ vào tình hình thực tế và lựa chọn thời điểm thích hợp để quyết định ngừng giải ngân, chấm dứt cho vay và thu hồi nợ trước hạn. Khi bên ngân hàng quyết định thu hồi nợ trước hạn, các khoản nợ gốc, lãi và các nghĩa vụ liên quan khác của bên vay thuộc phạm vi Bên Ngân hàng thu hồi nợ trước hạn dù đã đến hạn hay chưa đến hạn đều trở thành khoản nợ đến hạn”.

Theo bút lục 176 về lịch trả nợ của Hoàng Thị L đối với hợp đồng LN1806180739315 ngày 19/6/2018 và sao kê tài khoản 131747028 – tài khoản mà V1 dùng để thu nợ gốc, lãi của bà L, thì ngày 19/3/2019 bà L mới đóng xong được kỳ trả nợ gốc lãi của kỳ hạn ngày 19/12/2018. Do vậy, sau 90 ngày kể từ ngày đến kỳ hạn trả nợ gốc và lãi tiếp theo mà khách hàng không đóng tiền thì bắt đầu tính từ ngày 19/1/2019 bà Hoàng Thị L bị chuyển sang nợ xấu đối với hợp đồng LN1806180739315.

Tại phiên tòa, đại diện cho rằng V1 tại Khoản 1 Điều 13 LN1806180739315 ngày 19/6/2018 về trao đổi thông tin “Bên ngân hàng sẽ thông báo cho bên vay các vấn đề liên quan tới khoản vay theo Hợp đồng này cũng như các sản phẩm, dịch vụ của Bên Ngân hàng bao gồm cả các sửa đổi, bổ sung, các điều chỉnh về chính sách của Bên Ngân hàng đối với khoản vay theo hợp đồng này bằng một trong các phương thức liên hệ do Bên Ngân hàng triển khai từng thời kỳ bao gồm nhưng không giới hạn một trong các phương thức sau: Gửi văn bản thông báo đến địa chỉ của Bên vay, gọi điện thoại, gửi tin nhắn SMS tới số điện thoại của Bên vay, gửi email tới Bên vay, niêm yết tại trụ sở địa điểm kinh doanh hoặc thông báo trên Website chính thức của Bên Ngân hàng (Website: www.V1.com.vn) Như vậy, phía ngân hàng đã triển khai việc gửi tin nhắn nhắc thanh toán khoản vay từ rất sớm. Theo đó, việc gửi thông báo, liên lạc điện thoại, tin nhắn nhắc thanh toán qua SMS đã được thực hiện đối với bà L. Theo quy định, nghĩa vụ của khách hàng là phải chủ động trả nợ gốc, nợ lãi theo thời hạn được quy định trong hợp đồng cho Ngân hàng, bên cạnh đó Ngân hàng cũng đã triển khai các hoạt động hỗ trợ nhắc thanh toán cho bà L. Nên việc bà L cho rằng bản thân không biết về thời điểm thanh toán, số tiền thanh toán là không đúng.

Từ các căn cứ trên, HĐXX xác định số tiền bà L đã thanh toán đến ngày 23/5/2025 cho Ngân hàng là: Nợ gốc đã trả: 53.091.321 đồng; Nợ lãi đã trả: 44.207.361 đồng; Tổng số: 97.298.682 đồng. Việc xác định nợ xấu và thời điểm khoản vay chuyển sang nợ quá hạn là 19/01/2019 là phù hợp.

[5]. Đến ngày 23/5/2025, bà Hoàng Thị L còn nợ Ngân hàng cụ thể:

  • + Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số LN1806180739315 ngày 19/06/2018 còn nợ tiền gốc: 46.198.770 đồng, tiền lãi trong hạn là 1.638.320 đồng và tiền lãi quá hạn là 88.414.955 đồng.
  • + Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số: LN1708280172207 ngày 03/10/2017 còn nợ tiền gốc: 135.709.909 đồng, tiền lãi trong hạn là 4.023.320 đồng và tiền lãi quá hạn là 160.706.759 đồng.
  • + Hợp đồng tín dụng số 287-P-045578 ngày 13/9/2017 còn nợ tiền gốc: 9.174.236 đồng, tiền lãi là 152.219.594 đồng.

Tổng cộng số tiền còn nợ Ngân hàng theo các hợp đồng tín dụng là 598.085.863 đồng, bao gồm: Nợ gốc là 191.082.915 đồng, nợ lãi là 407.002.948 đồng. HĐXX xét thấy, cần buộc bà Hoàng Thị L phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng đối với các hợp đồng tín dụng này là phù hợp với các điều 280, 466 của Bộ luật Dân sự.

[6]. Đối với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 1297 ký ngày 29/9/2017 giữa Ngân hàng và bà Hoàng Thị L được lập bằng văn bản có công chứng, có đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện L, tỉnh Hòa Bình ngày 29/9/2017.

Xét tính pháp lý các hợp đồng thế chấp trên đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về nội dung cũng như hình thức của pháp luật dân sự về giao dịch bảo đảm được quy định tại Điều 292, 293, 298, 299, 307, 317, 318, 323, 463, 466 Bộ luật dân sự 2015; khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 về sửa đổi, bổ sung Nghị định số 163. Theo đó thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp nêu trên có hiệu lực pháp luật thi hành.

Do vậy, yêu cầu của nguyên đơn đề nghị được xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bị đơn không thanh toán được khoản nợ là có căn cứ theo quy định tại khoản 7 Điều 323 Bộ luật dân sự 2015 và phù hợp với các thỏa thuận của hợp đồng thế chấp, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7]. Về chi phí tố tụng:

Nguyên đơn đã nộp đủ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và tự nguyện chịu cả chi phí tố tụng này nên không đặt ra xử lý.

[8]. Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm g khoản 1 Điều 217, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Khoản 1 Điều 244, khoản 2 Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 280, 292, 293, 298, 299, 307, 317, 318, 323, 463, 466 của Bộ luật Dân sự

Căn cứ khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bà Hoàng Thị L phải thanh toán trả Ngân hàng V1 tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 23 tháng 5 năm 2025 là: 598.085.863 đồng, bao gồm: Nợ gốc là 191.082.915 đồng, nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn là 407.002.948 đồng.

Kể từ ngày 24 tháng 5 năm 2025, bà Hoàng Thị L tiếp tục phải chịu lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật cho đến ngày thực tế thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.

2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V1 về việc buộc bà Hoàng Thị L trả số tiền lãi chậm trả lãi là 77.212.445 đồng.

3. Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bà Hoàng Thị L không thanh toán được đầy đủ khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng V1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 458, tờ bản đồ 12, địa chỉ: Khu H, thị trấn C, huyện L, tỉnh Hòa Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 264027, số vào sổ cấp GCN: 00846 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày 15/11/2016, đứng tên bà Hoàng Thị L tại Hợp đồng thế chấp số 1297, quyển số 01TP/CC-SCC ký ngày 29/9/2017 tại Văn phòng C giữa Ngân hàng V1 và bà Hoàng Thị L.

Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ để thanh toán hết khoản nợ thì bà Hoàng Thị L phải tiếp tục thanh toán cho đến khi thanh toán xong toàn bộ các khoản nợ theo các Hợp đồng tín dụng nêu trên.

4. Về án phí: Buộc bà Hoàng Thị L phải chịu 27.923.435 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại Ngân hàng V1 số tiền 5.712.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000073 ngày 24 tháng 02 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình.

5. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a,7b, 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND huyện Lạc Thủy;
  • - Chi cục THADS huyện Lạc Thủy;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Thái Hùng Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/DS-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 05/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger